Archives pour la catégorie Non classé

Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 9

Bài IX

DINH DƯỠNG nhờ TRÍ TUỆ.

<>Trí TUỆ (Prajña=Paññā) mà Phật giáo thường nêu ra là «khả năng soi sáng» trong mọi hành vi của sự sống (nội thân và ngoại cảnh). NÓ là 1 trong 3 yếu tố nòng cốt, tạo thành «phẩm cách bất tử», gồm GIỚI (sīla), ĐỊNH (Samādhi), và TUỆ (Prajña). -Có TRÍ TUỆ tức là có «NỘI LỰC PHÁT QUANG» thấy xuyên thấu từng vấn đề giữa cuộc đời vô thường (aniccā loka), để phân tíchgiải quyết một cách vô ngại, -nhất là trước những biến đổi vật chất (rūpa=thân xác) và trong nhu cầu tinh thần (citta=tư tưởng). -TRÍ TUỆ luôn đem đến bình an và hạnh phúc cho loài người, nên được Phật học gọi là «PHÁP DINH DƯỠNG thân tâm nhờ TRÍ TUỆ» !

Continuer à lire Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 9

Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 8

Bài VIII

Thiền pháp2 BIỂU LỘ 

trong VŨ TRỤ loài người (dupātubhāva).

<>VŨ TRỤ (sakala-lokadhātu) là một TỔNG THỂ (kevala) của «vận hành tứ đại» (catu mahādhābhūta), gồm 4 cặp đặc tính là :

Continuer à lire Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 8

Soạn phẩm liên đề: « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 7

Bài VII

Phẩm cách của PHẬTTỨ DIỆU ĐẾ.

<>Đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammāsambuddha), tức là Phật đã đạt «toàn định minh sát», trở thành «BẬC tỉnh thức thường trựctrongtừng chập tâm sát-na» (khaṇa-sammāsaṭi). -Theo Vi Diệu Pháp của nhà Phật, «chập tâm sát-na» (=khaṇacitta) là «chu-kỳ thời gian ngắn nhất», vận hành qua «3 đơn vị sát-na» (sinh-trụ-diệt) của «1 siêu hành tâm», khoảng 1/1000 giây. -Còn «ngắn nhất» là cực vi-sát-na «dài» chỉ 1/3000 giây. -Nghĩa là không có đơn vị thời gian nào ngắn hơn nữa, mà «tri thức con người» có thể «khái niệm» được !

Continuer à lire Soạn phẩm liên đề: « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 7

Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 6

Bài VI

Giá trị minh triết của đạo Phật :

“duy tâm một cách khoa học.

<>«Khai giáo đầu tiên» và cũng là nền tảng của đạo Phật, tức Tứ Diệu Đế (Catu Ariya-saccāni), đã được Đức Giác Ngộ thuyết ra, trong bài Pháp thứ nhất, sau khi Ngài hoàn toàn đắc quả Chánh đẳng chánh giác (Sammāsambuddha) dưới tàng cây Bồ-đề (Bodhirukkha), để cống hiến lý đạo (dhamma bhāsitaṃ) một cách khai thị cho nhóm “5 vị tu khổ hạnh” (Ᾱjñātakaṇḍinya=Kondaññpañcavaggiya), trong vườn hưu hoang linh (Isipatana migadāya), nằm về phía Bắc thành phố “Ba-la-nại” (Vāranasī), thuở bấy giờ (=cổ Ấn-độ), -ngày nay gọi là Bénarès. Và tên của thính chúng 5 người ấy, đã được hán-việt ký âm là «Kiều-trần-như», vẫn còn thông dụng trong kinh sách nhà Phật.

Continuer à lire Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 6

Soạn phẩm liên đề: « Đạo Phật, Khoa học, Thiền Pháp, Sức khỏe » Bài 5

Bài V

Tư tưởng Phật giáo trong đời sống tân tiến.

<>Ngoài việc nêu ra thiện pháp sống chung (=thân hữu, dung thông, mở rộng, hướng thiện), để duy trì sinh hoạt an vui,TỰ DO (trong kỷ luật xây dựng đạo đức) và TIẾN BỘ cho xã hội,Phật giáo còn cống hiến một số PHÁP LÀNH, vào việcquân bình tư cách con người”, nhằm cải thiện kinh tế, nâng cao phẩm chất vật dụng. Đó là nguyên tắc sống chung tiến bộ, rằng «muốn cho tinh xảo hơn, nhà sản xuất phải chấp nhận sự cạnh tranh hợp pháp, như một cần thiết» trong «THĂNG HOA CHẾ TẠO», -nhằm tiến hóa !

Continuer à lire Soạn phẩm liên đề: « Đạo Phật, Khoa học, Thiền Pháp, Sức khỏe » Bài 5

Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 4

Bài IV

Phật Pháp và Y học.

<>Kinh điển không nói đến điểm chung, hay sự tương đồng nào, giữa Đức Phật ngày xưa và Y HỌC thời ấy, cách nay hơn 2600 năm. Vì LIỆU PHÁP của Đức Phật nêu ra là các “tâm dược minh triết” (phi thời gian) để cứu giúp một số đệ tử bị bệnh, mà chưa đắc quả Thánh. «Tâm dược» ấy thiên hẳn về sự thanh lọc tinh thần và thực hành giải độc THAM SÂN SI trong tâm tư. -Từ đó các vận hành lý hóa thân xác sẽ được cải thiện nhờ dòng điện tâm linh tinh khiết, sung mãn, làm cho kháng tố diệt trùng khuẩn gia tăng (tức là giảm thiểu hay hết tâm bệnh cũng như thân bệnh).

Continuer à lire Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 4

Soạn phẩm liên đề :«Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe» Bài 3

Bài III

HAI THỨ BỆNH HOẠN : Thân và Tâm.

A-Thân bệnh xảy ra như thế nào ?

<>Theo Phật học, THÂN BỆNH được “thành lập” bởi 2 mặt tương tác, BÊN TRONG và BÊN NGOÀI. -“Bên trong” là sự bất hòa giữa 4 nguyên tố «biệt nghiệp sắc pháp», tạm gọi tên qui ước…là đất, nước, lửakhí (=TỨ ĐẠI). -“Bên ngoài” là sự mất thăng bằng giữa toàn thể thân người4 yếu tố (=tứ đại) «cộng nghiệp với xung quanh». Nói cách khác, đó là môi trường sống (TRONG lẫn NGOÀI). -Nghĩa là bệnh hoạn phát sinh khi MỘT trong BỐN ĐẠI nội thânngoại cảnh mất thăng bằng, hay xung đột, gây trở ngại qua tương tác, và do đó sự vận hành trở nên không bình thường. -Bậc tinh thông chân lý y học vẫn nói, “Tứ đại luôn luôn ở đó mà thôi. Chúng ở dạng THÔ KỆCH (olārika=hữu hình) hay TINH VI (sukhuma=vô hình), đang CẤU KẾT hay DỪNG CẤU KẾT” với nhau trong thực tại. Từ đó sinh ra 2 loại vận hành tự nhiên là :

Continuer à lire Soạn phẩm liên đề :«Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe» Bài 3

BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 6

*Liên quan đến “TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ”.

(Ti-maṇorañjaka-dikkhita-bodhaṃsa).

<>“TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘlà một “câu nói minh triết”, có nội dung chuyên chở “sự khuyến thiện ở tầng số trí tuệ”, do một số người “ngoan đạo Phật” thỉnh thoảng trân trọng thốt ra. Và dù chúng ta có nghe rất thường đi nữa, thì cũng giống như những “câu phát biểu đầy triết học” khác, -nhiều khi chỉ được họ quen miệng lập lại mà thôi, nhưng chưa chắc người “phát ngôn” câu ấy, đã đặc biệt chú ý đến chuyện “THẤU TRIỆT” ý nghĩa.

-Vã lại, “NGÔN NGỮ TÔN GIÁO” xưa nay vẫn thế, đa số người có tín ngưỡng vốn nặng về NIỀM TIN và NGHI LỄ CÚNG BÁI hơn là sưu tầm “kiến thức giác ngộ”. Đó là lý do không tránh khỏi tình trạng “mỗi lần thốt ra một lời “minh triết”, là một lần nghĩa lý sâu sắc của câu nói quí báu, có thể bị “lu mờ”, -nhất là tùy theo trình độ kiến thức của mỗi tín đồ. Và đạo Phật cũng không ngoại lệ, nên khi có dịp nêu ra “kinh điển”, để cùng nhau trình bày soi sáng, vẫn là một điều tốt, nhất là xuyên qua cái nhìn của “Bản Sắc Khoa Học”.

-Vậy đề tài hôm nay, “TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ” là gì, và SỰ LIÊN QUAN (paccaya) giữa nó với KHOA HỌC HIỆN ĐẠI như thế nào ?!

*“TAM PHÁP ẤN” là “bộ ba”, gồm 1/VÔ THƯỜNG (Aniccā), 2/KHỔ NÃO (Dukkha), và 3/VÔ NGÃ (Anatta), đã được Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni lúc sinh tiền, thuyết minh nhiều lần…trong kinh điển Phật giáo (“Nam Truyền” cũng như “Bắc Truyền”).

<>Chúng tôi đề nghị tiếng Việt nam gọi “2 HÌNH THỨC Phật giáo” đang “thịnh hành” ở Châu Á nói riêng, và được khá nhiều nước trên thế giới biết đến…nói chung là “Nam Truyền” (Ecole du Sud) hay “Bắc Truyền” (Ecole du Nord). Đó là cách “mệnh danh” VÔ TƯ nhất, để ám chỉ 2 hướng Đạo Phật du nhập vào Việt Nam thay vì gọi là “Nam Tông” và “Bắc Tông”. -Vì “2 hệ phái Phật giáo “Nam tông” và “Bắc tông” ấy, vốn “phát xuất” từ người Tàu. “Phật giáo Bắc Tông” đã được thành lập bỡi một đệ tử của Tổ sư Hoằng Nhẫn, tên là THẦN TÚchủ trương tiệm tiến”. Còn “Phật giáo Nam Tông” cũng được hành lập do một đệ tử khác, vẫn của Tổ sư Hoằng Nhẫn, tên là HUỆ NĂNGchủ trương đốn ngộ”. -NAM ĐỐN, BẮC TIỆM.

-Nếu căn cứ theo bản đồ địa lý ngày nay, thì cả 2 phái Nam tôngBắc Tông đều nằm trong lãnh thổ Trung hoa cộng sản. -Nghĩa là, đối với một người VN theo đạo Phật, thì cả Nam tông lẫn Bắc tông đều thành hình từ phương Bắc. -Do đó, gọi là “Phật giáo Bắc Truyền”, ám chỉ do người Tàu phổ biến, là chính xác hơn, vì nó đã du nhập vào nước ta từ thời bắc thuộc (sử sách đã ghi rõ). Và gọi “Phật giáo Nam Truyền”, tức là đạo Phật đến nước Việt, từ các nước phía Nam…cũng quả thật không sai.

-Trên thực tế… từ hình thức đến nội dung cách tu hành của các thế hệ đệ tử Ngài Huệ Năng, rất không tương đồng với cách tu hành của đạo Phật ở các nước phương Nam, như Cao-miên, Ai-lao, Thái-lan, Miến-điện, Tích-lan, Ấn độ…v…v…-Nếu chúng ta cứ tiếp tục gọi Phật giáo phương Nam, phong cách nguyên thủy như “mặc y vàng và xử dụng kinh điển Pāḷī làmCĂN BẢN” là “Nam tông”, thì vô tình chúng ta đã duy trì một ngộ nhận khá quan trọng cho con cháu chúng ta theo đạo Phật sau nầy.

-Người xưa vẫn nói “danh có chánh thì ngôn mới thuận !” Khi thấy tên gọi của một “giáo phái tín ngưỡngđánh lạc hướng quần chúng, về nguồn gốc thiết lập của nó, mà chúng ta không chân thành điều chỉnh, thì đó một thái độ thiếu tôn trọng nhân sinh. -Và nhất là sự “điều chỉnh” ấy lại rất HỢP LÝ và VÔ TƯ, đứng ngoài mọi cạnh tranh quyền lợi hay danh dự !

Trở lại “TAM PHÁP ẤN”, gồm vô thường, khổ não, và vô ngã

<>VÔ THƯỜNG là thay đổi không ngừng, hay VẠN VẬT hằng biểu lộ muôn vạn hình trạng. -Nói một cách qui nạp, VÔ THƯỜNG ám chỉ “hiện tại thì , mai sau lại KHÔNG”, hay “hôm nay BIẾN MẤTngày kia HIỆN RA”. Tất cả những lần “có mặt” và “vắng mặt” ấy, của một sự vật trong VŨ TRỤ…chỉ là hiện tượng. -Sự BIẾN HIỆN vốn chẳng xác định điểm bắt đầuđiểm chấm dứt đối với THỰC TẠI….là một “nguyên tắc BIẾN DỊCH”. -Nghĩa là SINH (Jāti) và TỬ (Maraṇa) tuy là “một cặp không rời”. -Nhưng chúng ta KHÔNG THỂ đòi hỏi “chúng phải có tình trạng giống nhau”. Và chúng ta càng KHÔNG THỂ “phản đối tính khác biệt”, khi thấy SINH thì hữu hình (biểu lộ), còn TỬ thì vô hình (bí ẩn), mới chịu chấp nhận rằng “sự thật thấy được hay không thấy được đều là lẽ tự nhiên”!

-Một thân thể ngưng thở, nằm bất động ở đó…có thể là đã CHẾT…nhưng không chắc ! -Theo Phật giáo, nếu “mạng căn chưa tận”, thì nó sẽ SỐNG lại. -Xem ra “bất động” không cùng nghĩa với “chấm dứt sự SỐNG”. -Vì KHOA HỌC ngày nay từng xác chứng rằng, có những cái “SỐNG” mà bất động ! -Ví dụ như ở vùng Bắc cực (Pole Nord), có những sinh vật đến mùa cực lạnh, thân thể biến thành “khối nước đá” và nằm yên dưới băng tuyết từ 3 đến 6 tháng. Khi hội đủ điều kiện nhiệt độ tăng, nước đá tan thì chúng sống lại (nhờ ĐỦ DUYÊN), và cử động kiếm ăn bình thường.

-Như vậy, “ĐỘNG” không nhất thiết là “cõi sống”. -Và “TĨNH” không nhất thiết là “cõi chết”. -Tất cả tùy thuộc vào một số điều kiện hay DUYÊN (Paṭṭhāna) ! -Thì ra, chứng minh KHOA HỌC (expérience scientifique) và “CÁI THẤY” (Vipassanā) của “BÁT-NHÔ (Prajña) trong đạo Phật vốn có CHUNG quan điểm nầy.

Nói theo quan sát hiện tượng trên bề mặt thì như thế, nhưng với “tuệ quang phát ra từ trí bát-nhã (trong nhà Phật) thì NĂNG LƯỢNG THANH TỊNH còn vượt trên khả năng tri thức của người phàm. Và KHOA HỌC HIỆN ĐẠI cũng càng ngày càng trải nghiệm thực trạng ấy, xem đó như VẬN HÀNH tất nhiên của LÝ HÓA. Chung qui, “Bản Sắc Giác ngộ” trong đạo Phật, và KHOA HỌC TÂN TIẾN đã không hẹn mà cùng “qui nạp” rằng, LÝ HÓA là VÔ THƯỜNG….hay là một pháp “HẰNG CÓ”, nếu không muốn nói là một pháp TỐI CẦN THIẾT cho sự biến dịch, thăng hoa hay suy đọa. -“Tối cần thiết” đến độ mà nếu PHÁP VÔ THƯỜNG” (aniccā=impermanence) “vắng mặt, thì 2 tình trạnghướng động và “sinh hoạtPHẢI TÊ LIỆT, một cách bế tắc !

<>VÔ THƯỜNG (Aniccā=impermanence) là hiệu lực đầu tiên của“HIẾU ĐỘNG” và “LINH HOẠT”, -Hoặc nói cách khác,hiếu động và “linh hoạt là “2 VẬT LIỆU CĂN BẢN” tạo ra tình trạng VÔ THƯỜNG. “Chúng cũng” là “NGUYÊN NHÂN” phát xuất sự sống, của tất cả “sinh động vật” trên mặt đất.

<>VÔ THƯỜNG (Aniccā) vốn không phải là hiện tượng phá hoại tiến trình sống, mà là “yếu tố phục vụ” MẠCH LUÂN HỒI.  -Vì trên thực tế, SỰ SỐNG cần phải biến hóa linh động, liên tục thay đổi, -gọi tắc là SINH HOẠT. -Ngược lại với VÔ THƯỜNG, thì vạn vật phải ở mãi tình trạng cũ (bất biến=thường hằng)…là một hoàn cảnh bế tắc…tận thế, chứ không phải là “cõi tiến hóa”…trong “bất cứ góc độ tư duy” nào trên thế gian nầy.  

*Khi GIÁC NGỘ, biết rõ VÔ THƯỜNG (Aniccā) là NHƯ THẾ, thì con người đang sống…muốn tiến hóa, phải TÍCH CỰC từ chu kỳ nầy qua chu kỳ khác, một cách sáng suốt, thích ứng…không tà kiến lười biếng, không nhu nhược bỏ cuộc, mới có thể thoát khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu, TỰ SA ĐOẠ, và tạo được QUÂN BÌNH nhắm đến an vui !  -QUÂN BÌNH ở đây là nền tảng của “CHÁNH THIỀN” (sammā samādhi) trong nhà Phật, và là yếu tố THĂNG HOA hữu hiệu nhất (ariya niyama) !

<>KHỔ NÃO (Dukkha) là “pháp ấn thứ nhì”, nói lên tình trạng THÂN TÂM thường xuyên chịu đựng THUẬNlẫn NGHỊCH (mānāpa pyāmānāpa). -Hay mỗi người sinh ra thì “phải chấp nhận” tất cả các thực tại BUỒN rồi VUI, đối đãi liên tục, một cách xung đột, một cách hoán vị, xen kẽ theo chu kỳ…TỐT đi đôi với XẤU…SINH đi đôi với TỬ …THĂNG đi đôi với ĐỌA. Do đó, KHỔ NÃO là kết quả tự nhiên của VÔ THƯỜNG (Aniccā), và ẤY là chuyện không thể tránh được trong KIẾP SỐNG con người hằng ngày. -Thậm chí, người ta nói “khổ não là vật liệu rèn luyện ý chí, hay bãn lĩnh” cho con người !

-Hai chữ “KIẾP SỐNG” (Jīvita) trên đây, ám chỉ CÁI mà nhà Phật gọi là “NGŨ UẨN” (pañcakkhandha), gồm SẮC UẨN (Rūpa-khandha), THỌ UẨN (Vedana-khandha), TƯỞNG UẨN (Sañña-khandha) HÀNH UẨN (Saṅkhāra-khandha), và THỨC UẨN (Viññānakkhandha). -Đó là “một giai đoạn hoạt động” của THÂN phối hợp với TÂM hay của “DANH phối hợp với SẮC” trong mỗi động vật. -Nói theo Phật học.

-“SẮC” (rūpa) là thân xác (kāya). “DANH” (nāma) là tinh thần (maṇo). -Nhưng theo “BÁT-NHÔ (Prajña) trong nhà Phật, “tham chiếu” qua KHOA HỌC…thì “DANH SẮC” (nāmarūpa) biểu trưng cho “vũ trụ tượng hình” (sakalalokadhātu), bên trong chứa tất cả vận hành (saṅkhārā) từ các YẾU TỐ “nhỏ nhất” cho đến các YẾU TỐ “lớn nhất”, ở dạng THÔ (khối lượng) hay dạng TẾ (tinh vi). Đặc biệt là “DANH SẮC” (Nāmarūpa) tự nó có “BẢN THỂ” hợp rồi tan, tan rồi hợp, “biến hóa không ngừng”, trong cái KHUNG của PHÁP ĐỘNG, chứ không thể tuyệt tận, hoàn toàn biến mất được ! -Và đó là “nguồn gốc” của KHỔ NÃO, là triền miên “xung đột nội tại” trong tiến trình CHUYỂN BIẾN do mất thăng bằng.

*Theo Phật học, “hễ mang THÂN NGŨ UẨN thì không thể tránh khỏi khổ não”. Vì trong NGŨ UẨN chứa “tam ác” là THAM SÂN SI, -một “hỗn hợp dị ứng” luôn luôn đối nghịch với mọi THAY ĐỔI TỰ NHIÊN của THẾ GIỚI ĐỘNG. -Bộ ba THAM SÂN SI nầy không ngừng “sản xuất” ra nhiều loại cảm giác nghịch chiều, -trong số ấy cặp tiêu biểu nhất là “vừa lòng” (māṇāpa) và “bất mãn” (amāṇāpa), gọi chung là KHỔ NÃO (Upakkilesa dukkha).

-THAM LAM (lobha) gốc ác thứ nhấttính bất túc, hằng làm cho THÂN TÂM con người luôn luôn chao động, cảm thấy thiếu thốn, thèm khát…dưới dạng LO BUỒN hay DỤC VỌNG. -Khi THAM thì tâm tư không ngừng hướng về một cái gì đó bất định, và nếu một người cố gắng…mà vẫn không đạt được, thì phải CHỊU ĐỰNG khổ não thèm khát.

-SÂN HẬN(dosa) là “gốc ác thứ hai” có “tính thiêu đốt”, hằng làm cho THÂN TÂM con người thường xuyên nóng nảy, bức xúc…dưới dạng SỢ SỆT hay THÙ HẬN (cháy bùngcháy ngầm). -THAM là “tiền thân” của SÂN, khi tâm tư một người ôm cứng điều mong muốn, và nếu gặp trở ngại hay không đủ khả năng đạt mục đích, thì phải SÂN, chịu đựng NÓNG NẢY, khổ não nung nấu.

-SI MÊ là “gốc ác thứ ba”, có “tính vô minh” (không soi sáng) thường làm cho THÂN TÂM con người mơ hồ, thiếu tỉnh táo, vụng về…dưới dạng hoài nghi, trạo cử và BẾ TẮC. -Khi SI MÊ thì bị khói thiển cận che áng, không thấy rõ hoàn cảnh (-chẳng biết đúng sai, do đâu thành bại), thì phải CHỊU ĐỰNG khổ não hoang mang (mất định hướng).

-Mặt khác, “bộ ba” THAM SÂN SI (lobha-dosa-moha) còn có “2 huyền lực độc hại” nữa, là trước mỗi “hoàn cảnh” (Ᾱlambana = đối tượng), chúng thừa khả năng làm cho TINH THẦN con người bị tràn ngập (ogha) bỡi 2 tâm trạng “vui sướngchán nãn”. -Vì rằng, -khi “SỰ HÀI LÒNG không kéo dài thì cảm thấy CỤT HỨNG”, -phát sinh khổ tham (lobha dukkha), khao khát không nguôi, -khi “SỰ BẤT MÃN không dứt sớm thì cảm thấy DỊ ỨNG, XUNG ĐỘT”, -phát sinh khổ sân hận (dosa dukkha). -Nói tóm lại tham sân si là “BA HẠT GIỐNG ÁC” (hetu) gây KHỔ NÃO (upakkilesa) !

<>Trở lại việc “VÔ NGÃ là hoàn không (Natthitā)”. Chúng ta còn biết thêm rằng, “HOÀN KHÔNG” cũng là một cách diễn tả khác, nói về CHU KỲ của những kiếp sinh hoạt liên tiếp thay đổi, lẩn quẩn. NGUYÊN NHÂN là sự vận hành MẤT THĂNG BẰNG, luôn luôn CHAO ĐẢO trên đường cong, rồi giáp vòng kết thúc với TÌNH TRẠNG TAN RÃ (=biến mất).

-Dấu hiệu của sự HOÀN KHÔNG ấy, được tượng trưng bằng đường cong hay HÌNH TRÒN (luân hồi), và con số kiếp “LUÂN HỒI” thì vô tận. -Đó là SỰ LẬP LẠI không phải chỉ một lần, mà là vô số lần, để lập thành TẬP KHÍ, còn gọi là UẨN hay “tích tụ” (Khandha). -Vậy TÍCH TỤ những cái gì ?

*Tích tụ tất cả những cái cũ (hay thói quen) và cái mới vì nhu cầu của mỗi kiếp sống nối tiếp nhau, do NGHIỆP CÓ THÂN (Kamma=Karma). Chúng vừa thật và vừa giả. -THẬT được hiểu (lầm) là “có mãi”. -GIẢbị cho là “không mãi”. -Nhưng cả 2 trạng thái THẬT hay GIẢ ấy, đều kết thúc bằng “HOÀN KHÔNG” (Natthi). -Nhưng trong “nhận diện vũ trụ” của BÁT-NHÃ (hay khoa học) thì cả 2 “chẳng phải là KHÔNG”, cũng “chẳng phải là CÓ”. Chúng “chẳng luôn luôn tốt”, “chẳng luôn luôn xấu”. -CHÚNG BIẾN DỊCH !

*TẤT CẢ vốn bắt nguồn từ sự MẤT THĂNG BẰNG, “không thiện” (natthi kusala) “không ác” (natthi akusala), mà chỉ là 2 tình trạng THUẬN NGHỊCH “giao thoa lẫn lộn”. Thuận nhiều hơn nghịch thì…gọi là “THIỆN”. Nghịch nhiều hơn thuận thì…gọi là “ÁC”…một cách dựa trên ƯU THẾ, -nói theo DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna).

<>Đối với “Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo”, VÔ NGÃ (Anatta) là kết quả tất yếu của tình trạng MẤT THĂNG BẰNG một cách liên tục trong “dục giới”, “sắc giới” và “vô sắc giới” (đã mô tả trong bài trước). Nhưng khi TÍNH THĂNG BẰNG, được tái lập (tức là chân giác ngộ), thì “TAM PHÁP ẤN” (Ti-maṇorañja) sẽ trở thành VÔ HIỆU và phải KHÁC vĩnh viễn, hay GIẢI THOÁT hoàn toàn (Nibbāna). -Đó là phẩm cách của Thánh nhân, như câu nói minh triết : “Tâm bất biến trong dòng đời vạn biến”, nghĩa là hết khổ não, không còn chấp ngã, DỨTBIẾN ! Và “bộ máy LUÂN HỒI” (Saṃsāra) cũng tự động ngừng lại.

*Ngày nào sự BẤT THĂNG BẰNG trong TAM GIỚI còn tiếp diễn, thì ngày ấyTAM PHÁP ẤN còn kích thích TÍNH GIÁC NGỘ một cách “bàng bạc”, trong THÂN TÂM phàm nhân hướng thiện, hữu duyên được soi sáng. Lý do…vì PHÁP VÔ THƯỜNG làm cho “thực tại không ngừng biến đổi”, -tức là “không có gì tuyệt đối thuận hay tuyệt đối nghịch”, và “không có gì thực sự vĩnh viễn hay thực sự tạm thời” trong bộ máy tuần hoàn, sinh tử luân hồi (saṃsāra).

-Và chính ở ĐIỂM QUI NẠP nầy, chúng ta mới thấy lộ ra “mặt trái” (hay nguồn gốc) của SINH TỬ ĐỒ (Saṃsāra), là sự MẤT THĂNG BẰNG.

<>Điều ĐÁNG TIẾC, là xưa nay, “TAM PHÁP ẤN” đã được diễn giảng một cách phản trí tuệ, NGHỊCH CHIỀU KHOA HỌC(avijjā), đầy “lý lẽ bi quan” (do si mê), -nếu không muốn nói là chỉ có tác dụng hăm dọa tâm thức, trước một cuộc sống đầy phức tạp, cần đến tinh thần can đãm và TÍCH CỰC. Tình trạng đó đã làm cho người đời trở thành bạc nhược, sợ sệt, …thường xuyên cảm thấy mình “bất lực” yếu kém và muốn buông xuôi, “thù ghét thực tại”, đồng thời che dấu lòng tham vì BẢN NGÃ một cách mù mờ, và không ngừng đề cao ảo kiến…là “SUY TƯ THOÁT TỤC”, như cái “phao cứu rỗi”, hướng đến cứu cánh ngoài tầm tay, theo khả năng tưởng tượng, không cần đến TỰ LỰC trong cuộc sống.   

Tệ hơn nữa là những “kẻ chán đời” ấy, thường lấy “đạo Phật” ra làm “nguồn giáo lý”, xác nhận VÔ THƯỜNG, KHỔ NÃO, và VÔ NGÃ là “3 tiếng chuông cảnh tỉnh”, thúc giục con người sớm xa lánh cuộc đời”. -Nhưng “xa lánh cuộc đời bằng cách nào, nếu THỰC TẠI ta đang sốngtrên thế gian nầy (?), vàsau khi làm như thế…thì kết quả sẽ ra sao, và đưa ta về đâu ?”.

-Khi câu hỏi nầy được đặt ra, thì…đa số người chán đời thường mơ màng trả lời rằng “xuống tóc đi tu”, hay “trở thành bụi đời” ! (?)

<>“Trở thành bụi đời” thì quá tệ, không có gì đáng nói. Nhưng nếu “xuống tóc đi tu”, dù ẩn thân trong rừng sâu núi cao chăng nữa”, đương sự VẪN “phải sống trên thế gian”. Và hành động đi tu đó, càng đòi hỏi một NGHỊ LỰC thích ứng trước THỰC TẠI, một cách sắc đá hơn nhiều, chứ “không giản dị” như lời nói suông. -Vì sao ? -Vì một tu sĩ Phật giáo vẫn không tránh khỏi 2 phận sự, là “đối với chính mình”, và “đối với đời” (!). -Một tu sĩ Phật giáo làm sao có thể ở ngoài duyên hệ nhân sinh, sống mà không LIÊN QUAN đến tín đồ, trong cái “NGHĨA ĐẸP” là hộ trì lẫn tương tác (?). Và mặc định, họ phải thực hiện đức hạnh xứng đáng đối với LÒNG TIN của bổn đạo !

-Tất nhiên là….ngoại trừ “một số phần tử xấu” xem “đi tu” là một “cơ hội tiến thân”, hay một “mánh khóe kinh doanh” “vốn ít mà lời nhiều”, thì quả thật là đạo Phật đang gặp cảnh suy vong, “tấm gương sáng mà đức Phật để lại cho người sau soi mình, để tiến hóa đã bị phủ bụi, lạm dụng…” ! -Trường hợp nầy, thì “đi tu” là cố ý PHÁ HOẠI đạo Phật….BÔI NHỌ “khoa học sống lành mạnh !”.

<>Quay lại “TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ” được thuyết minh trong nhà Phật, Nếu cách nay nhiều thế kỷ, các khoa học gia tiền phong, khi đối diện với những khó khăn trong cuộc sống trên mặt đất, mà đọc sách TAM PHÁP ẤN” (vô thường, khổ não và vô ngã) rồi trở thành bi quan, ủy mị như thế, thì ngày nay chúng ta đã không có cuộc sống tiến bộ tối tân.

-Nếu TRÍ THÔNG MINH của con người chỉ để xem đời là phù du, cõi tạm…thì các nhà khoa học đã không thể kiên nhẫn “tập trung năng lượng tri thức”, sáng tạo…tô điểm cuộc sống một cách tích cực.  Đạo Phật vốn là tôn giáo đề cao TRÍ THÔNG MINH. -Rõ ràng là giáo lý nhà Phật về TAM PHÁP ẤN đã bị hiểu lầm, diễn giải méo mó !

***

-Vậy thực sự “TAM PHÁP ẤN” (là vô thường, khổ não, và vô ngã) theo nhà Phật, khi đối chiếu với KHOA HỌC…thì như thế nào ? -Xin nhắc lại một lần nữa rằng :

<>VÔ THƯỜNG (Aniccā) là một THỰC TRẠNG (của sự thay đổi không ngừng trong cõi ĐỘNG), phải được xác nhận, do tâm thức lành mạnh, do biết sống tích cực, do tinh thần hội tụ, trong sángvà do giác ngộ (sampajañña), chứ không phải do sợ khổ bỏ cuộc. VÔ THƯỜNG là giáo lý minh triết, cần được xem như một “hệ luận khoa học” (corollaire scientifique), và trên hết là một chân lý góp phần vào SỰ TIẾN HÓA, chứ không phải là một huyền năng ĐE DỌA tâm lý con người!

-Nếu không có VÔ THƯỜNG, vạn vật sẽ “nguyên trạng” (chẳng bao giờ thay đổi) thì quả đất nầy sẽ ra sao ?! -Chúng ta thử tưởng tượng “một đứa bé sau khi sinh ra, cứ tiếp tục như một hài nhi mãi mãi” thì ấy là một điều “đáng mừng” hay đáng sợ ? -Như vậy, những tư tưởng hoang đường, như “trường sinh, bất lão bất tử” nơi tư duy con người, trên thế gian nầy…chỉ là một ẢO TƯỞNG do lòng THAM, sản phẩm của vô minh, phản khoa học* !

Ba chữ “phản khoa học”* có “dấu sao” ở đây cũng ám chỉ “phản trí tuệ!

*Trong khoa học, “CHUYỂN ĐỘNG HÌNH THỨC” (thấy được) là vật lý (physique), và “CHUYỂN ĐỘNG NỘI DUNG” (không thấy được) là hóa học (chimie). Hai tình trạng thay đổi vị trí (vật lý), và biến hóa tố chất (hóa học) là 2 điều CẦN THIẾT cho sự SỐNG, chứ không phải là “2 tình trạng đe dọa”. -Sau khi sinh thì PHẢI lão, bệnh, tử là một tiến trình tự nhiên của thế giới VỌNG ĐỘNG. Đó là một điều KHÔNG TRÁNH ĐƯỢC, người phản đối SƯ THẬT nầy là tự mình làm khổ !

*Từ đó suy ra, trong TUYỆT TĨNH thì không có vô thường. Và những ai chưa TOÀN GIÁC, chưa tận trừ THAM SÂN SI, thì không thể biết được TUYỆT TĨNH hay NIẾT-BÀN là gì. Và khi đạt đến TUYỆT TĨNH, Bậc Toàn Giác biết rõ rằng, NIẾT-BÀN không phải là ĐOẠN DIỆT, vạn pháp VẪN NGUYÊN VẸN, không hợp không tan !

<>Đọc sách KHOA HỌC về vũ trụ, có một số tài liệu nói đến KHÔNG GIAN (espace) và THỜI GIAN (temps). Chúng ta dùng KHÁI NIỆM để “tạm hiểu” rằng, KHÔNG GIAN là “khoảng trống”, và THỜI GIAN là “chiều dài tâm thức” để chúng ta “sống” hay “vận chuyển” trong cái “KHÔNG GIAN” ấy. Nhưng xuyên qua “tinh thần” (=cảm quan thứ sáu), chúng ta cũng không thể BIẾT CHẮC “khoảng trống”, và “chiều dài tâm thức” như thế nào ?(!)

-Theo “BÁT-NHÔ (Prajña) trong nhà Phật, thì Bậc Toàn Giác (Sammāsambuddha) “thấy” CÁI “bản thể” mất thăng bằng, –nhận ra KHÔNG GIAN và THỜI GIAN chẳng là gì cả (“sắc tức thị không”). -ẤY vốn đến từ tính bất thăng bằngxung động toàn diện, mà KHOA HỌC KHÔNG GIAN gọi là NỔ LỚN (Big-bang). -Hễ có BẤT THĂNG BẰNG và có XUNG ĐỘNG TOÀN DIỆN, thì phải có TÌNH TRẠNG thuận nghịch lôi kéo nhau, trong vô số chiều…chồng chất, huân tập…(tương đương với “TẠO TẬP KHÍ”). -Trường hợp “thuận nghịch chồng chất”, diễn ra trong “dòng điện tâm” của con người, thì nhà Phật gọi là “KHỔ NÃO” (Upakkilesa dukkha), -sẽ bàn đến trong đoạn sau !

-Vì kết quả của NỔ LỚN là “vũ trụ thành hình”…nên KHÔNG GIAN và THỜI GIAN (Espace & temps) chỉ là “2 nguyên tắc” để duy trì VŨ TRỤ. Và 2 NGUYÊN TẮC nầy vốn đến từ bản thể thay đổi, nên NÓ chính là “bộ máy biến hóa”, nguồn gốc của VÔ THƯỜNG (Aniccā), hay nguyên nhân của XUNG ĐỘNG trong vũ trụ, khiến cho những gì thành hình về sau, như vô số TINH TÚ, có thể tự động phát ra ánh sáng, tạo sức hút và vùng từ trường. THÁI DƯƠNG HỆ của chúng ta là “một đơn vị tinh tú” cũng có sức húttừ trường, nên “giữ được” những hành tinh di chuyển xung quanh nó, trong một KHÔNG GIAN và THỜI GIAN vô tận…!

***

<>KHỔ NÃO (Dukkha) là “bẩm tính chịu đựng” trong thân tâm động vật nói chung, nhất là sau khi đã sinh làm người, một sinh linh hữu tình (tham sân si) nói tiêng. KHỔ NÃO bao gồm 2 mặt đối nghịch, là VỪA LÒNG (Mānāpa=vui) và BẤT MÃN (Amānāpa=buồn). -“VỪA LÒNG” thì cảm thấy “khinh an”. “BẤT MÃN” thì cảm thấy “trì trệ”. Cả 2 trạng thái “KHINH AN” và “TRÌ TRỆ”, đều có một ác tậtlôi kéo lẫn nhau, làm cho mạng căn (Jīviṅdriya=bhavaṅga) MẤT THĂNG BẰNG, và kiếp sống chuyên chở vô số VUI BUỒN xen kẻ. -Từ đó, sự THÁI QUÁ của bất cứ bên nào (VUI hay BUỒN) cũng làm cho NĂNG LƯỢNG SỐNG rối loạn, rất khó “điều chỉnh” bằng hưởng thụ vật chất ! -Và muốn chấm dứt tình trạng rối loạn hay tái lập an vui THÂN TÂM, thì không còn cách nào hơn, là phải nhờThiền Pháp Phật giáo” (Bhāvanā), để “kết hợp” khoa học vật chất với khoa học tâm linh, mà dẹp bỏ TẤT CẢ cố chấp duy vật lẫn si mê duy tâm (=mê tín).   

-Ngày nay, có một “dạng trầm tĩnh” của THIỀN PHÁP là “sự chăm chú”, đã được “thu hoạch” và nói đến trong “Y khoa tâm lý”, tỏ ra rất hữu dụng đối với việc giảm bớt khủng hoảng tinh thần một cách tạm thời. -Nhưng muốn đạt đến trình độ CỨU CÁNHquân bình thân tâm lâu dài, thì nhà Phật đã cống hiến cho chúng ta một công phu gọi là THANH TỊNH TRI KIẾN (Diṭṭhivisuddhi pāramī), -phẩm cách tuyệt vời của BÁT-NHÃ (Prajña). -Nhưng đó là một đề tài khác, không thể choán nhiều chỗ ở đây….để tránh lạc xa đề tài chính !

(Bài sau, chúng tôi sẽ hầu chuyện cùng quí vị về THIỀN HỌC Phật giáo, trong phạm vi nghiên cứu, hiểu biết và trải nghiệm của chúng tôi).

Theo nhà Phật, KHỔ NÃO (upakkilesa dukkha) có “2 VẬT LIỆU (hetu) là :

1/Có THÂN hữu tình hiện tại. Và 2/TÂM còn chứa tham sân si.

<>Khổ não sinh ra từ VẬT LIỆU thứ nhất thân hữu hình (thuộc về sắc thô) sẽ chấm dứt khi chết. Nhưng khổ não do VẬT LIỆU thứ hai tâm chứa tham sân si (thuộc về sắc tế), sẽ tiếp tục sau khi tắt thở…và vận hành xuyên qua vố số kiếp luân hồi. -Vì “tâm thức kiếp sau” chính là HỖN HỢP từ những “khổ não của kiếp trước, đã đồng hóa với hậu quả của những NGHIỆP đã làm”. NÓ không còn là tâm thức của kiếp xưa nữa”.

*Đây là lý do “Phật giáo phủ nhận một linh hồn bất diệt, thường hằng”. -Tức là “không có một linh hồn duy nhất xuyên qua mọi kiếp sống”, -mà sau khi “tái sinh” TRI THỨC hiện tại (hay tâm quả) chỉ là “kết cấu” của những NGHIỆP SỐNG kiếp trước. Nó không đồng nhất với bất cứ tâm thức nào trong các kiếp quá khứ. Tâm thức của kiếp nầytâm thức của kiếp khác KHÔNG PHẢI là “hai”, mà cũng KHÔNG PHẢI là “một”. -Ngôn ngữ “Pāḷī” thời Đức Phật gọi là “NA CA SO NA CA AÑÑO”.

*Một người phàm thì tâm thức luôn luôn bám chặc vào những khung cảnh sống hiện tại và đã qua, trong 3 cõi DỤC GIỚI (Kāmaloka), SẮC GIỚI (Rūpaloka), và VÔ SẮC GIỚI (Arūpaloka), nhất là vào giây phút hấp hối. Lúc ấy phàm nhân chỉ còn “TÂM CẢNH”, chứ các “cảnh khác” xuyên qua 5 giác quan (đã tê liệt) không còn nữa. -Và tình trạng KHỔ NÃO của TÂM THỨC (Cittaviññāna) trong kiếp chót, bị chồng chất bỡi ‘thuận ý và nghịch ý” thuộc 3 cõi ấy, nặng hay nhẹ không giống nhau. Chúng thay đổi tùy theo “tâm quả” (Vipākacitta) của mỗi sinh linh.

*Nghĩa là tinh thần trong mỗi kiếp sống càng thanh cao, thì KHỔ NÃO càng ÍT ĐƯỢC “bồi dưỡng” bỡi vật chất (thô cũng như tế). Và nếu tâm thức mỗi ngày một trở nên trong sạch, thì sau cùng chỉ còn “phiền não vi tế” trong mỗi chúng sanh ở các CÕI CAO (sắc giớivô sắc giới). Phật học gọi đó là “lậu hoặc nhẹ” (Ᾱsava), hay “vô minh căn” (Avijjiṅdriya), thuộc về DANH PHÁP (Nāmadhammā).

*Muốn “tẩy sạch” PHIỀN NÃO VI TẾ hay “lậu hoặc nhẹ” trong tâm thức, Đức Phật khuyến khích chúng ta nên thực hiện CÔNG PHU PHẠM HẠNH một cách khoa học, là TU ĐỊNH (Samādhi), TU TUỆ (Paññā), và tu TRI KIẾN (Diṭṭhi)…để sau cùng chấm dứt VÔ MINH, và viên tròn Ba-la-mật Bát-nhã (Paññapāramitā=Trí độ giải thoát). Chính Ba-la-mật Bát-nhã nầy sẽ TRIỆT TIÊU mọi vướng mắc (thô cũng như tế) trong tam giới, nhất là ở cõi VÔ SẮC (Arūpaloka), để trở thành toàn giác, chứng đắc NIẾT-BÀN !

<>Ngoài ra, chúng ta vẫn thường nghe nói đến một cái tên khá “huyền bí” là “TỬ SINH ĐỒ” (Saṃsāra), hay “mê hồn đạo. Và chúng ta cũng không thấy kinh sách nào nói rõ “nguồn gốc” của “TỬ SINH ĐỒ” phát xuất từ đâu. Nhưng xuyên qua nghiên cứu VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), chúng tôi nhận thấy, TỬ SINH ĐỒ có thể bắt nguồn từ sự MẤT THĂNG BẰNG trong tâm trường của mỗi chúng sinh thuộc TAM GIỚI (Tiloka), nhất là DỤC GIỚI.

*Còn theo Khoa học vật lý, thì sự lôi kéo…quay quanh một trục, chỉ xảy ra…khi có tình trạng CHÊNH LỆCHgiữa 2 cực đối với 1 điểm nằm giữa. –SỰ CHÊNH LỆCH hay MẤT THĂNG BẰNG ấy phát sinh do sức hút của quả đất, tương quan với một hay nhiều VẬT, hiện diện trên mình NÓ (=trọng lực). -Như vậy, “tử sinh đồ không gì khác hơn là bảng vẽ, mô tả vận hành tự nhiên của cõi ĐỘNG” (bất thăng bằng), chứ nó không do một “quyền năng nào” tạo ra cả.

*Nói theo giáo lý nhà Phật, thì sư MẤT THĂNG BẰNG đến từ 2 phẩm cách nghịchthuận, hay hài lòngbất mãn…-Tức là sư MẤT THĂNG BẰNG đến từ THIỆN và ÁC giao thoa trong TÂM THỨC…tạo động lực xoay vòng (=LUÂN HỒI). Và tính TƯƠNG ĐỐI trong vạn pháp cõi phàm, hằng làm cho không có bên nào (thuận cũng như nghịch, thương cũng như ghét), chiếm ƯU THẾ mãi mãi, nên các vòng TỬ SINH (Jāti jarāmaraṇa) cứ thế…quay tròn liên tục, từ kiếp nầy đến kiếp khác, hết thăng đến đọa, hết đọa đến thăng…một cách vô tận.

***

<>Sau cùng…VÔ NGÃ (Anatta) là cái “cái TA vốn không có bản vị”. Với tinh thần khoa học, VÔ NGÃ là một điều TỰ NHIÊN (naturel) và rất HỢP LÝ (logique). -Dù cho lòng THAM không cho phép ai chấp nhận sự hiện diện của mình là con số “KHÔNG”. Nhưng TRÍ KHÔN vẫn giúp cho mỗi cá nhân biết rằng, khi đã trải qua cuộc sống, mọi người đều trở thành già nua, bệnh hoạn, không có ngoại lệ, và cuối cùng THÂN TÂM nầy chỉ là một “KHỐI BẤT LỰC”, chắc chắn sẽ tan rã, biến mất. Hiện tượng đó đủ chứng minh sự VÔ NGÃ (=hoàn không).

*Và “TRÍ KHÔN” ấy nếu được phát triển bằng PHÁP THANH TỊNH thì nó sẽ trở thành “chiều sâu tri kiến” về VÔ NGÃ, xác nhận “trước sau gì một người đã trải qua sự sống, cũng biết như thế”. Nhưng trong giai đoạn bắt đầu sự “VĂN MIINH” (Civilisation=sống chung), con người cần “óc sáng tạo, đối đãi, phân biệt”, để “sống hài hòa”, nên cộng đồng phải tuân theo những qui ước hay “bản vị xưng hô”, như “tôi”, “anh”, “nó”, “cấp bâc”, “phẩm giá”…được đặt ra, để tránh lẫn lộn…hầu thành lập xã hội có tổ chức…

*Nghĩa là cái TÔI (tương đương với NGÃ) đã “mặc định phát sinh”, kể từ khi con người “biết sống chung” (civilisé), và tiếp tục VĂN MINH. Như vậy, cái NGà vốn do TRÍ KHÔN mà có. -Cảm giác “TÔI là một đơn vị trong xã hội cùng ANH sống chung với người THỨ BA” tự nó không phải là “cái gì xấu”. -Nhưng vì lòng THAM, “tôi trở thành vô minh làm điều xấu” thì cái tôi tham mới xấu, chứ không phải danh xưng. Và khi “tôi sáng suốt làm điều tốt”, nhất là “ý thức trách nhiệm của mình trong mọi hành động”, thì “tôi” ấy là tốt, là “hiệu lực của văn minh”, hay “sản phẩm của khoa học” ! -Nghĩa là cần phải “xử dụng cái tôi một cách lợi tha” hay “xử dụng cái tôi một cách hữu ích” (cho mình và cho người, VÔ HẠI), thì đó chính là ngụ ý của “VÔ NGÔ trong “TAM PHÁP ẤN”, được kinh Phật nói đến. -Nhưng tư tưởng “VÔ NGÔ của những người bi quan, chán đời vốn chỉ là “vô ngã ích kỷ”… thì rất lầm lạc, không liên quan gì đến đạo Phật.

<>Ngoài ra, có một loại ÍCH KỶ khác (=chạy trốn khó khăn, do tật tham an nhàn thúc đẩy), ngụy trang dưới dạng “tư duy thoát tục”, chủ trương rằng “VÔ NGÔ là “không cố gắng để trở thành cái gì hết”. -Nhân đây, chúng tôi xin nhắc lại câu nói của một nhà soạn kịch nổi tiếng người Anh, tên William Shakespeare (thế kỷ 16), đã từng viết :“To be or not to be, that’s the problem”. -Tạm dịch “LÀ GÌ hay KHÔNGLÀ GÌ, đó chính là VẤN ĐỀ !”(?).

-Câu nói nầy vốn “ngụ ý riêng”, có thể xem tương đương với lời khuyên của nhà Phật, là “đừng vướng mắc vai trò, danh vị” (=thoát cố chấp). Nhưng người ta đã khai thác “tính đa nghĩa” của nó, để diễn tả một cách “đề cao” tư tưởng không phải làm gì hết”, một dạng buông xuôi. -Lời ông William Shakespeare đã từng nói, thì lập lại “Ý ẤY” không phải là điều mới !

*Theo Phật học, nhất là căn cứ trên “2 nhóm diệu pháp”, NGŨ CĂN (Pañciṅdriya) và NGŨ LỰC (Pañcabāla), thuộc “37 phẩm giác ngộ” (Bodhipakkhiya dhammā), thì tư tưởngcần an, buông xuôi” nói trên, có thể đến từ SỰ MẤT THĂNG BẰNG bỡi “5 công phu tu tập”, là 1/tín, 2/tấn, 3/NIỆM, 4/định, và 5/tuê. -Kinh THANH TỊNH ĐẠO chỉ rõ “nếu “4 công phu”, tín căn, tấn căn, định căn, và tuệ căn hay tín lực, tấn lực, định lực, và tuệ lực…mà chiếm ƯU THẾ (Aḍhipati), thì sự MẤT THĂNG BẰNG sẽ xảy ra. -Nhưng đặc biệt khi NIỆM CĂN hay NIỆM LỰC mà trở thành ƯU THẾ, thì “4 tuyệt công còn lại” (tín, tấn, định, tuệ) sẽ tự nhiên THĂNG BẰNG, một cách tiến hóa. -Đó là DIỆU DỤNG của BÁT-NHÃ (Prajña=tuệ kim cương).

-Do đó, niệm căn (saṭi-iṅdriya) và niêm lực (saṭi-bāla) là cặp “song tuyệtcần thiết nhất, -gọi chung là CHÁNH NIỆM (Sammā-saṭi). -Sự Liên quan của nó như sau, niệm cănnhân, và niệm lựcquả, trong “bộ song ngũ”, gồm 1/tín căn, 2/tấn căn, 3/NIỆM căn, 4/định căn, 5/tuệ căn, và 1/tín lực, 2/tấn lực, 3/NIỆM lực, 4/định lực, và 5/tuệ lực. -Quan sát chúng ta thấy “NIỆM” nằm ở vị trí số 3, cân bằng giữa 1-2 và 3-4. -Ở đây, CĂN (Iṅdriya) và LỰC (Bala) có thể ví như 2 mặt của một đồng tiền. Hễ có cái nầy thì phải có cái kia, không thể tách rời !

*Mặt khác, cũng xin chớ nhầm “VÔ NGÔ do tư tưởng “không cố gắng để mình trở thành cái gì hết”, với “sự ám chỉ” một “loại chúng sanh vô tưởng” (Asaññasatta), được đề cập trong VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma). -Đây là một loại “sinh linh đặc biệt”, mà khuôn khổ bài 6 nầy không cho phép trình bày dài dòng. Chúng tôi chỉ xin giới thiệu và “lưu ý” mà thôi, nếu bàn sâu thì sẽ làm loãng đề tài chính.

Còn nói về “sinh hoạt thần kinh” theo Y KHOA, thì “buông xuôi” TRI THỨC, là vô tình nuôi dưỡng “mầm mất trí nhớ”, hổ trợ cho sự phát sinh BỆNH QUÊN, nhất là khi về già. -Nếu một “NGƯỜI VÔ NGÔ đang sống, mà chẳng cố gắng để trở thành cái gì hết, thì họ sẽ bất cần biếtmình là ai”, bất cần biếtmình tên gì”, bất cần biếtmình ở đâu”…v…v….(kể cả ra đường không cần biết lối về), tập khí ấy sẽ có hại cho não bộ và sự sống bình thường !

*Trường hợp một người đang sống lành mạnhtin tưởng rằng, “THÂN TÂM” nầy (=xác thịt và quả tim) là một “hợp thể có ĐIỆN TRƯỜNG kỳ diệu” (tương đương với tinh thần). “Hợp thể” ấy phải có một “năng lực thiêng liêng, tích cực” để duy trì tính SINH HOẠT tiến hóa. -Và khi thân tâm TAN RÃ, năng lượng thiêng liêng kia sẽ không mất. “NÓ” có thể tùy duyên tùy nghiệp, mà “tái xuất hiện” một cách hợp lý, vào vận hành LUÂN HỒI trong các CÕI SỐNG, dưới dạng khác…thì đó cũng là một phương diện của “khoa học tâm linh”, phát sinh  từ TRÍ TUỆ (Ñāna). -Kiến thức về phương diện “LUÂN HỒI” (vô hình) nầy vốn “ăn khớp” với LUẬT NGHIỆP QUẢ (Kamma-vipāka niyama) trong nhà Phật.

*Nhắc lại “định nghĩa qui ước” rằng, “VÔ NGÃ (Anatta) là cái TÔI không có bản vị”. -Chúng ta thử bình tâm suy xét, rằng vào tuổi già khi thân thể bắt đầu bệnh hoạn, -một cách không tránh khỏi (!) để cuối cùng phải chết…thì ai là người có thể phủ nhận tính thực tế chứng nghiệm của sự thật HOÀN KHÔNG ấy ở cuối đời ?! -Cần gì phải “học Phật” mới biết ! Vì sau đó, mỗi “cá nhân” chỉ được “tượng trưng” bằng một nấm mồ, hay một bình tro màu xám, chẳng có BẢN VỊ gì cả. -Nếu thân nhân hay những ai khác ca ngợi, và tạc tượng trân trọng đến đâu, -thì theo đạo Phật, đó chỉ là MỘT DẠNG lòng tham của những người còn sống. -Nghĩa là “cái được gọi là TÔI (hay NGÃ), chỉ hiện hữu từ khi chào đời cho đến khi tắt thở” !

<>Nhưng theo “khoa học tâm linh”, thì những “ấn tượng” hay “sóng điện” của mọi hành động (tốt hay xấu), lúc còn sống của một người, hằng lưu lại trong đại môi trường SINH HOẠT, -đạo Phật gọi toàn bộ những “ấn tượng” hay “sóng điện” ấy, là cảnh giới NGHIỆP QUẢ (Kammavipākaloka). -Tại sao ? -Vì “đại môi trường SINH HOẠT” và cảnh giới NGHIỆP QUẢ  vốn “đồng tánh”, nói theo KHOA HỌC LÝ HÓA. Ấy gọi chung là MÔI TRƯỜNG ĐỘNG (Saṅkhārābhūmi), luôn luôn “lưu trử” ấn tượng, sóng điệnlượng tử….xuyên qua thời gian và không gian, tương đương với NGHIỆP QUẢ trong Phật giáo.

*Đến đây, vấn đề được đặt ra với KHOA HỌC THÂN TÂM (Pañcakhandha VIJJᾹ), liên quan đến hỗn hợp một thời của thể xáctinh thần…từng sống rồi chết, và đã hoàn toàn TAN RÃ, là “kiếp trước kết thúc bằng KHÔNG, và sau đó bắt đầu bằng CÓ, nếu ấy là sự thật thì “vận hành chuyển hóa” như thế nào, để cho mắt thịt dù chẳng nhìn thấy cụ thể, cũng có thể dùng “mắt tâm”(trí tuệ) nắm bắt được một cách hợp lý !?”

<>Xin thưa, đây là hiệu lực của VẬT LÝ (physique), “phản động vì có động” (action ré-action) trong KHOA HỌC NGÀY NAY, hay hiệu lực của “trách nhiệm do tri thức” (vipākacitta)) trong “Giáo lý Nghiệp Quả” thuyết minh bỡi Đức Phật.Hai nhóm từ “PHẢN ĐỘNG VÌ CÓ ĐỘNG”hay “TRÁCH NHIỆP DO TRI THỨC” vốnlà 2 phương diện LÝ và HÓA rất khoa học. Nó đại diện cho các châm ngôn đầy minh triết hay cho lý lẽ của TRÍ THANH TỊNH (=Bát-nhã), hằng có mặt, nơi tư tưởng của các khoa học gia, trong và ngoài đạo Phật.

*Hơn nữa, hai chữ “VÔ NGÔ (Anatta) mà chúng ta đề cập hôm nay, đã đến từ bài pháp thứ hai của đức Phật (Dutiya Buddhadesanā), sau khi Ngài đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Sammāsambuddha) cạnh gốc cây Bồ-đề (Bodhirukkha), Bodhigaya Ấn-độ ngày xưa.

Bài PHÁP thứ II ấy, gọi tên đầy đủ là “VÔ NGÃ TƯỚNG KINH” (Anattalakkhaṇasutta).

<>“VÔ NGÔ ở đây ám chỉ sự qui nạpTÍNH VÔ BẢN VỊ” nơi thân tâm (hay ngũ uẩn=pañcakhandha) con người, do kết hợp mà thành. Trong tiếng Pāḷī, đức Phật đã nhấn mạnh, “KHÔNG CÓ NGà trong ngũ uẩn”, hoặc đúng hơn “ngũ uẩn CHẲNG PHẢI LÀ NGÔ (=Anatta). -Nghĩa là, NGŨ UẨN chỉ là NĂM PHỐI HỢP (hay “5 tập khí”, hoặc “5 tập ấm” (khandha), có thể mệnh danh một cách khác, là “KHO CHỨA, gồm “5 khối” như sau :

1/Khối thứ I, THÂN THỂ hay “sắc uẩn” (rūpakhandha), chứa tứ đại cấu hợp (thô cũng như tế), ám chỉ toàn bộ vật chất “đã bị nhiễm tam tật” (tham sân si) từ quá khứ.

 2/Khối thứ II, CẢM GIÁC hay “thọ uẩn”(vedanākhandha), chứa tất cả cảm tính (thanh cũng như trược, thiện cũng như ác), ám chỉ toàn bộ thất tình lục dục, lưu lai từ vô thủy quá khứ.

3/Khối thứ III, GHI NHỚ hay “tưởng uẩn” (saññākhandha), chứa tất cả ấn tượng (thanh cao cũng như thấp hèn, lành cũng như dữ, thuận cũng như nghịch), chồng chất từ quá khứ đến hiện tại, tức là toàn bộ ký ức.

4/Khối thứ IV, VẬN DỤNG hay “hành uẩn” (saṅkhārākhandha), chứa những “tiềm lực chuyển động” VẬT LÝ và TÂM LÝ (cụ thể cũng như trừu tượng, bộc lộ cũng như ngấm ngầm, mạnh cũng như yếu), đã “thuần thục” hay “còn vụng về”, từ vô thủy quá khứ.

5/Khối thứ V,  HIỂU BIẾT hay “thức uẩn” (viññānakhandha), chứa “toàn bộ kiến thức” (trong sáng cũng như mù mờ, thăng bằng cũng như chênh lệch, khai phóng cũng như đóng khung, khai thông cũng như bế tắc), được tổng hợp…phản chiếu xuyên qua tất cả chu kỳ sinh diệt.

<>Và chỉ trong CÁI KHUNG của toàn bộ DANH SẮC (Nāmarūpakhandha) hay THÂN TÂM, cũng gọi là “NGŨ UẨN” (Pañcakkhandha) ấy, xuyên qua bài kinh “VÔ NGÃ TƯỚNG” (Anattalakkhaṇasutta), mà đức Phật đã minh bạch khai thị đệ cho tử và thính giả, bằng cách vấn đáp, xem “trong số 5 uẩn phối hợp thành con người”, có “uẩn nào” hay “nhóm uẩn nào” được con người thật sự “LÀM CHỦ”, có thể “xử dụng như ý muốn” chăng…thì câu trả lời luôn luôn là KHÔNG (Natthi).

 <>Và để soi sáng lý VÔ NGÃ, vấn đề cần đặt ra cho người noi gương Phật, vốn chẳng phải là nhằm “xác nhận” (atthi) hayKHÔNG CÓ (natthi) bản vị (atma), của cái tôi VÔ THƯỜNG, biến hành không ngừng (sabba-sādhārana), -mà là khuyến khích “tháo gỡ” 5 KHỐI TẬP KHÍ hay ngũ uẩn (Pañca-khandhā). -Nói cách khác là làm sao đạt đến TRI THỨC THANH TỊNH (Pariñña), bằng CÔNG PHU tu tập một cách KHOA HỌC, đưa đến TUỆ BÁT-NHÃ (Prajña).

*Đồng thời…giáo pháp “thập độ ba-la-mật” (dasa-pāramī-dhammā) trong nhà Phật cũng chính là kỹ thuật hữu hiệu. (-Mời quí vị đọc thêm kinh “Thập Độ Ba-La-Mật”, nội dung bao gồm Giới Định Tuệ). Theo đó :

=> GIỚI (Sīla) và ĐỊNH (Samādhi) tháo gỡ NGHIỆP (kamma) tạo ra sắc uẩn (rūpa-khandha), thọ uẩn (vedanā-khandha), và tưởng uẩn (sañña-khandha).

=> TUỆ (Prajñā) tháo gỡ NGHIỆP (kamma) tạo ra hành uẩn (saṅkhāra-khandha) và thức uẩn (viññāna-khandha)…để sau cùng THẬP ĐỘ BA-LA-MẬT (paramattha) đưa TÁNH BIẾT (Cittaviññāna) trở về CHÂN TÂM (Yathābhūta).

*Khi đã thực hành đầy đủ công phu ấy, thì một bậc phạm hạnh chắc chắn sẽ không còn thắc mắc về “NGÔ, về “LUÂN HỒI”, về “VŨ TRỤ”, hay thậm chí về “NIẾT-BÀN” nữa. -Nhưng Ngài cũng KHÔNG trở thành “DUY VẬT” (=đoạn kiến) !

-Trong bài kinh VÔ NGÃ TƯỚNG, Đức Phật đã thanh tịnh qui nạp rằng “Nếu từ 1 đến 5 uẩn là TA hay là CỦA TA, thì con người có thể sai khiến nó như ý muốn, nhưng nếu con người không thể xử dụng được khi cần thiết, hay bất lực trước thực tại, thì con người chẳng những đã KHÔNG LÀM CHỦ ngũ uẩn, mà ngược lại còn bị nó gây khổ”.

-Vì sao ? -Vì theo lời Phật, NGŨ UẨN (Pañca-khandha) do nhân duyên TỨ ĐẠI kết hợp mà thành. Và cái gì do tứ đại KẾT HỢP thì dù chúng có HÌNH TƯỚNG hay VÔ HÌNH TƯỚNG, chúng luôn luôn VÔ DỤNG, bất thường, và là nguồn gốc của khổ não, -nhất là khi thân tâm yếu đi, không đủ mạnh như trước (hết duyên)…thì ngũ uẩn tự suy sụp, TAN RÃ.

<>Theo Phật học thì…TỨ ĐẠI thô (=nặng) hay tế (=nhẹ), chỉ có trong 2 cõi luân hồi là DỤC GIỚI (Kāmabhūmi) và SẮC GIỚI (Rūpabhūmi). -TỨ ĐẠI (Catu mahādhātu) nầy, ám chỉ “4 nguyên tố” (dhatu) có tên qui ước, tạm gọi là “ĐỊA” hay ĐẤT (Paṭhavī), “THỦY” hay NƯỚC (Ᾱpo), “HỎA” hay LỬA (Tejo), và “KHÍ” hay phong, gió (Vāyo).

-Xem ra kinh VÔ NGà TƯỚNG là một thông điệp về phàm nhân (tâm chứa đầy tham sân si), mà đức Phật để lại cho chúng ta đến ngày hôm nay rất rõ ràng, rằng “trong NGŨ UẨN không có NGÔ hay nói cách khác “NGŨ UẨN chẳng phải là NGÔ.

-Còn câu hỏi “tò mò” xa hơn rằng, “Ngoài cái KHUNG “NGŨ UẨN ra, đức Phật có “nói gì về NGÃ trong các trường hợp khác chăng (!)” thì chưa nhà Phật học nào tìm ra tài liệu. Nhưng chúng tôi không dám chỉ dựa vào kinh “VÔ NGÃ TƯỚNG KINH”, mà KẾT LUẬN TOÀN DIỆN rằng, “Phật giáo chủ trương vô ngã, phủ nhận linh hồn”.

-Dù cho kinh Pāḷī của Phật Giáo Nguyên Thủy không dùng từ ngữ “linh hồn”, mà chỉ tạm dùng 2 chữ “tâm thức” (cittaviñāna) hay “tinh thần” (maṇo), thì cũng không có nghĩa là đạo Phật “phủ nhận phần tâm linh” (=siêu nhiên) trong mỗi con người. -Vì sao ? -Vì coi chừng…sự kết luận “VÔ NGÃ TOÀN DIỆN” có thể đưa chúng ta rơi vào đoạn kiến !

-Hãy nhớ thêm NỘI DUNG bài pháp thứ ba (Tatiya Buddhadesanā) của Đức Phật, tên là KINH PHẠM VÕNG (Brahmajalasutta). Trong bài pháp nầy, đức Phật đã nêu ra “62 TÀ KIẾN” (Micchādiṭṭhi), theo đó tư tưởng nào cho rằng “CHẾT LÀ HẾT”hay “tử giả biệt luận” thì được xếp vào hạng “đoạn diệt” (Ucchedavāda), hay “VÔ TRÍ PHÁP” (Adhammena), một loại TÀ KIẾN rất nguy hiểm cho tâm thức, có thể làm tinh thần bế tắc, thoái hóa và luôn luôn chìm sâu trong VÔ MINH (Avijjā).

<>Đức Phật là Bậc Toàn Tri Diệu Giác (Sammāsambuddha). Khi Ngài thuyết minh “TAM PHÁP ẤN kích thích sự GIÁC NGỘ”, Ngài đã biết trước “người đời sau có thể hiểu lầm 3 pháp ấy, mà trở thành bi quan, mất định hướng”, nên Ngài đã nhiều lần nhắc đến TRÍ THỨC trong mỗi người, như là KIM CHỈ NAM, được xem “tương đương” với CHÁNH KIẾN (Sammādiṭṭhi) và CHÁNH TƯ DUY (Sammāsaṅkappo) trong Bát Chánh Đạo.

-Thậm chí chính “những lời dạy trong kinh sách cho là của Phật”, Ngài cũng khuyên chúng ta đừng nhắm mắt tin mù, mà phải dùng trí tuệ phân xét và kiểm chứng. -Như thế, chúng ta đủ thấy…Đức Phật đã “khuyến khích” trí tuệ như thế nào !

-Chẳng hạn như kinh KᾹLᾹMA (Kālāmasutta), thuyết tại làng Kesaputta (tra cứu theo Aṅguttara Ṇikāya, No. III-65=Tăng-chi Bộ kinh, số III-65), Phật đã nêu ra 10 trường hợp không nên VỘI TIN hay VỘI BỎ, mà phải bình tĩnh suy nghĩ thật kỹ, -rằng khi gặp 1 trong 10 điều sau đây, Phật khuyên chúng ta nên thận trọng :

1/Không tin ngay những gì đã được người khác chấp thuận, và đang được phổ thông,

2/Không tin ngay những gì gọi là tôn giáo, hay truyền thống do người xưa để lại,

3/Không tin ngay những tin đồn, vì nhiều người đã nghe, nhưng chẳng phản đối,

4/Không tin ngay những gì do “kinh sách” ấn định và hướng dẫn,

5/Không tin ngay các giả thuyết, tuy chưa trải nghiệm nhưng xét ra rất hợp lý,

6/Không tin ngay sự xác chứng bề ngoài, dựa theo châm ngôn ngạn ngữ,

7/Không tin ngay những “lời lẽ” của các cá nhân “nổi tiếng”, có nhiều “danh phận”,

8/Không tin ngay những gì mới nhìn qua giống như thực,

9/Không tin ngay những gì đến từ tài năng, quyền lực…của kẻ khác,

10/Không tin ngay những gì thuộc về ý kiến của tôn sư hay của giáo chủ.

<>Tóm lại, TAM PHÁP ẤN kích thích sự GIÁC NGỘ(=vô thường, khổ não, và vô ngã) trong nhà Phật, không phải là một “giáo lý mặc khải” kiểu “tín đồ nghe là phải tin”, với lý do rằng “đó là thiên ý, không ai được thắc mắc !” -Mà một cách khác, “TAM PHÁP ẤN kích thích sự GIÁC NGỘ” trong nhà Phật, là một “công thức minh triết”, vừa thuộc về “KHOA HỌC TÂM LINH”, vừa thuộc về VẬN HÀNH LÝ HÓA trong VĂN MINH HIỆN ĐẠI.

-Khi đã gọi là “công thức minh triết”, thì ý nghĩa sâu sắc của nó có thể bị “hiểu lệch”. Và nếu bị hiểu lầm, thì hiệu lực phục vụ của Phật giáo, đối với nhân loại nói riêng, và đối với chúng sanh trong TAM GIỚI nói chung…sẽ giảm thiểu hiệu quả.

<>Mặt khác, quả thật đáng tiếc…nếu “nội dung” của “Tam Pháp Ấn” là VÔ THƯỜNG (Aniccā), KHỔ NÃO (Upakkilesa dukkha), và VÔ NGÃ (Anatta) trong Phật giáo, không được “giải mã một cách soi sáng”, tương đương với 3 hiện tượng là BIẾN HÓA (transformation), XUNG ĐỘT (implosion) và HOÀN KHÔNG (Vide), như trong khoa học LÝ HÓA…thì Phật học khó có thể soi sáng tư duy con người thời đại, để tái lập THĂNG BẰNG TINH THẦN.

Nghĩa là :

*Khi hiểu biết ĐÚNG về VÔ THƯỜNG (tức có chánh kiến chánh tư duy, đối với“SẮC PHÁP” hữu hình, cũng như “DANH PHÁP” vô hình, -nói theo nhà Phật !)…thì con người sẽ bớt cố chấp vào những thực tại vật chất, như tài sản, sắc đẹp, thân nhân, bà con, địa phương, sông núi….., cũng sẽ bớt cố chấp vào những thực tại tinh thần, như danh dự, quyền lực, phẩm cách, chủ nghĩa, phúc đức, thân phận, thuận nghịch….. -Và họ tự động nghĩ rằng “tất cả những thứ ấy chỉ là vật liệu tạm thời để cộng nghiệp TỐT”, cho đến khi đạt tới GIÁC NGỘ.

*Khi hiểu biết ĐÚNG về KHỔ NÃO (có chánh kiến chánh tư duy, đối với“SẮC PHÁP” hữu hình, cũng như “DANH PHÁP” vô hình, -nói theo nhà Phật !)…thì con người sẽ bớt cố chấp vào những HIỆN TƯỜNG, như sinh, lão, bệnh, tử…thuộc về nội cảnh bản thân, hay bớt cố chấp vào biến hóa của vũ trụ, như thành trụ, hoại, không….thuộc về ngoại cảnh thế gian …. -Và họ tự động nghĩ rằng “những thứ ấy chỉ là vật liệu tạm thời để cộng nghiệp TỐT”, cho đến khi GIÁC NGỘ.

*Khi hiểu biết ĐÚNG về VÔ NGÃ (tức có chánh kiến chánh tư duy, đối với“SẮC PHÁP” hữu hình, cũng như “DANH PHÁP” vô hình, -nói theo nhà Phật !)…thì con người sẽ bớt cố chấp vào những hiện cảnh đa dạng, như còn mất, có không, cao hạ, khổ lạc thuộc về DỤC GIỚI…, -cũng như bớt cố chấp vào những thực tại tư kiến, như sắc không, hữu tưởng, vô tưởng, ly trí, hợp trí….thuộc về SẮC và VÔ SẮC. -Và họ tự động nghĩ rằng “tất cả những thứ ấy chỉ là vật liệu tạm thời để cộng nghiệp TỐT”, cho đến khi đạt tới TOÀN GIÁC.

<>Hơn nữa, theo Phật học, “vô ngã không phải là đoạn kiến”, vì trong TAM TẠNG kinh điển chữ Pāḷī, có một tài liệu quan trọng tên là JᾹTAKA (=Túc Sinh Truyên). Đó là quyển thứ 10 trong Tiểu Bộ Kinh Phật Giáo (Khuddaka Nikāya) thuộc TẠNG KINH (Suttapiṭaka). Sách nầy công bố 447=>450 câu chuyện “tiền thân Phật”, tức là “những kiếp TÁI SINH trong quá khứ để viên tròn hạnh độ đời của Bồ-tát (Bodhisattva)”, trước khi thành Phật (Buddha).

*Sự TÁI SINH là một “vận hành tự nhiên”, có thể nói là “rất khoa học”, khi “dòng điện tâm” (Bhavaṅga) còn chuyên thở “3 năng lượng xấu” (THAM-SÂN-SI), hết điều kiện nương tựa vào thân xác kiệt quệ, lúc suy tàn một kiếp sống, thì “tái hiện” bằng sự sống mới, theo QUẢ của NGHIỆP. -“Dòng điện” ấy thay đổi không ngừng xuyên qua mạch sống trước (purebhavaṅga), và biến thành TỪ TRƯỜNG…hút lấy “đối tượng tương ứng” (vipāka-paccaya), tạo ra “mạch sống sau” (pacchābhavaṅga), để “tái hoạt động”, theo duyên hệ NGHIỆP QUẢ (kammavipāka-paccaya). -TÁI SINH !

-Người ANH MINH (vịjjā) thì hiểu VÔ NGÃ bằng trí tuệ (Prajñā), có CHÁNH KIẾN (Sammādiṭṭhi). Người VÔ MINH (Avijjā) thì hiểu VÔ NGÃ bằng si mê (Moha), có TÀ KIẾN (Micchādiṭṭhi). Và ĐOẠN KIẾN (Ucchedadiṭṭhi) thì nguy hiểm nhất trong các thứ TÀ KIẾN !

<>Nhân loại là một đại tập thể đa văn hóa và bất đồng. Chúng ta rất khó hy vọng nhìn thấy “tất cả có trình độ TRI KIẾN bằng nhau”, nhưng trước hết, chỉ mong “những người cầm đầu các quốc gia tiến bộ, hùng mạnh trên thế giới có thể hiểu biết đúng“TAM PHÁP ẤN” (vô thường, khổ não, vô ngã), một cách khoa học, sáng suốt…để hành động sao…cho cuộc sống của toàn thể các quốc gia trên quả đất nầy bớt đi xung đột, tái tạo bình an !

Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ) -Pháp quốc. Paris 27/09/2021.

(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ CHỈ QUÁN trong mùa «tịnh thất»)

BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 4

*Liên quan đến “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ”.

(Kamma Vipāka Dhammo).

<>“NGHIỆP” là một từ ngữ hán việt, được dịch từ chữ Pālī “KAMMA” hay Saṅskrit “KARMA”, mà “nội dung” phải xem là “vừa dễ hiểu vừa khó hiểu”. “Dễ hiểu” vì ngày nay tiếng “NGHIỆP” lưu hành khá phổ thông trong ngôn ngữ dân gian Việt nam, -xem như ai cũng “biết”. “Khó hiểu” vì NÓ chứa một “CHIẾU SÂU PHẬT HỌCrất đặc biệt…khó ấn định trong lý lẽ lẫn thực tế.

-Xuyên qua SỰ SỐNG, người ta thấy NGHIỆP (kamma) có thể là “NHÂN” (hetu), mà cũng có thể là “QUẢ” (vipāka). Rồi “BIỂU TƯỢNG” của NGHIỆP, thì cũng “thay đổi” trong cả 2 trường hợp, là “tương xứng” và “bất tương xứng”. -Khi hiệu quả của NGHIỆP mà “tương xứng” thì người ta cho là “hợp lý”, còn ngược lại…thì gọi là “bất hợp lý”. -Tức là “Ý nghĩa” của chữ NGHIỆP trong Phật học “KHÔNG DỄ NẮM BẮT” !

-“KHÔNG DỄ NẮM BẮT” vì bốn chữ “NHÂN NÀO QUẢ NẤY”(yaṃ hetukaṃ taṃ vipākaṃ) mà dân gian quen “tin tưởng” không luôn luôn chính xác. Theo thiển kiến của chúng tôi, “nhân quả” ở đây tất nhiên là “nội dung” của “NGHIỆP” (kamma, karma), nhưng đạo Phật KHÔNG phát biểu dứt khoát là “nhân nào quả nấy” một cách cố định, như nhiều người lầm tưởng.  -Mà trong nhà Phật, thì chỉ có NGHIỆP NÀO QUẢ NẤY (yaṃ kammaṃ taṃ vipākaṃ), chứ không hề có “NHÂN NÀO QUẢ NẤY” !

-Cần nhắc lại một cách KHOA HỌC rằng, nhân có thể trổ quả cũng có thể không trổ quả, hay hạt có thể sinh trái và cũng không thể sinh trái (khi gặp điều kiện bất thuận, nghịch duyên). ĐẢO LẠI “hễ có trái (quả) thì phải có hạt (nhân)”, -như câu nói “một người có thể và cũng không thể sinh con, nhưng người ấy phải luôn luôn có cha mẹ”.

Thành ngữ nôm na NHÂN NÀO QUẢ NẤY” chỉ đúng trong hiện tượng thực vật, hay ám chỉ giản dị rằng “động vật giống nào thì sinh ra giống nấy. Hiện tượng nầy KHÔNG LIÊN QUAN ĐẾN tinh thần (hay khả năng của TÍNH TÌNH). Bốn chữ “NHÂN NÀO QUẢ NẤY” đang làm cho người đời, phải hoang mang khi kiểm chứng một cách duy vật hai chữ “NHÂN QUẢ” trong lãnh vực ĐẠO ĐỨC. Từ đó, người ta có thể bất tín nhiệm giá trị hay hiệu lực của sự ăn hiền ở lành, tức HẠNH KIỂM TỐT !

-Nếu lấy bốn chữ “NHÂN NÀO QUẢ NẤY” làm nền tảng để xây dựng đạo đức, rồi “nhắm mắt” tin tưởng, thì trước “thực tai sai biệt NHÂN QUẢ”, con người sẽ ngỡ ngàng và phản ứng bất mãn, khi đối diện với các hiện tượng kết quả thiện ác KHÔNG TƯƠNG XỨNG, lắm lúc nhân một đàng, quả một nẻo. Từ đó, NIỀM TIN của họ MẤT THĂNG BẰNG, chẳng còn ĐỊNH HƯỚNG…không biết sống như thế nào cho phải, để đối xử lẫn nhau ?!

*Tệ hơn nữa, là tình trạng ấy chắc chắn còn làm cho TƯ DUY XÃ HỘI trở nên KHỦNG HOẢNG, giữa một THỰC TẠI mỗi ngày một thiên về hưởng thụ VẬT CHẤT trong một nền VĂN MINH CƠ KHÍ phiêu lưu ! -Nhất là trước THỰC TẾ luân lý mỗi ngày một suy đồi, nhường chỗ cho sự “KHÔN NGOAN” của THAM VỌNG đang trở thành tinh vi…đa dạng ?!

Xin nhắc lại :

<>Đối với thảo mộc cây cối, thì “nguyên tắc” NHÂN NÀO sinh QUẢ NẤY có thể nghiệm đúng, theo hình thức chủng loại, -gieo “hạt xoài ngọt” thì về sau hái “trái xoài ngọt”, -trồng “hạt ớt cay” thì đến mùa gặt “trái ớt cay”. -Còn thú vật thì giống nào vẫn sinh ra giống nấy. Nghĩa là trên phương diện lý hóa cụ thể,thuần túy vật chất thì NHÂN và QUẢ xoay vòng, thì thường khi  tương xứng, -mặc dù ai cũng biết rằng đối với thực vật, “điều kiện thời tiết đất đai” cũng có thể làm cho hạt (TRƯỚC) và trái(SAU) sai biệt. -Tương tự như nghệ thuật pha giống của người chăn nuôi gia súc, có thể làm cho lứa sau khác lứa trước. -Còn “TỪ TRƯỜNG” (hay tâm cơ, “linh năng”) của thú vật hoặc thực vật thì “quá yếu” (so với loài người), nên không kể vào đây.

*Nói tóm lại, sự nghiệm đúng trên phương diện TỰ NHIÊN và VÔ TÂM THỨC ấy, không liên quan gì đến vai trò của TÁNH TÌNH trong TẠO NGHIỆP như con người, nên chúng ta không thể lấy đó làm NỀN TẢNG  của LUÂN LÝ hay TƯ DUY trong xã hội nhân bản.

-Trở lại phương diện TINH THẦN, hay “năng lượng tùy biến” trong “sinh vật hữu tình” (có TÂM THỨC hướng đến tình trạng tốt hơn), nhất là loài người…thì “năng lượng tốt” tương đương với tâm thức tốt trong bản chất bẩm sinh” (ahetuka citta), khi KHÔNG gặp môi trường (=điều kiện) thích hợp, thì KHÓ có thể trổ ra “hoa trái tốt”, gọi là “QUẢ LÀNH”. -Mà ngược lại, lắm khi HOÀN CẢNH bất thiện còn “xoay chiều”, đưa đẩy NGƯỜI TẠO NGHIỆP “dẫu có chủng tử tốt” vẫn phải nhận lấy “QUẢ XẤU”, trong bối cảnh “cộng đồng”.

*Ca dao Việt nam có câu “gần mực thì đen, gần đền thì sáng” rất Phật học. -Vì nó không căn cứ trên nhân sự (thông minh hay ngu dốt), mà ám chỉ một cách rõ ràng “SỰ TÙY CẢNH” (bỡi cộng nghiệp) thiết lập kết quả. -Nghĩa là câu ấy gián tiếp nói rằng, nền “GIÁO DỤC XÃ HỘI” quyết định hành vi con gười, hay tư duy cộng đồng, -Đây là cái GIÁO PHÁP mà Đức Phật đã quan tâm hàng đầu ! Người theo “đạo giác ngộ” luôn luôn nói rằng, “Đức Phật đã HOẰNG PHÁP độ sinh, hay CẢI HÓA con người” bằng cách làm gương, tự mình thực hiện điều lành để được quả lành, -chứ Đức Phật không truyền giáo”, trong cái nghĩa “dùng quyền lực, ảnh hưởng, hay dùng bí quyết để áp đặt tư tưởng của Ngài lên nhân sinh”.

<>Như vậy, HOÀN CẢNH XÃ HỘI (avatthā) mới chính là YẾU TỐ then chốt “chế tác” kết quả của một hành động, tương xứng hay không tương xứng với tâm bẩm sinh (ahetuka citta). Nhà Phật gọi HOÀN CẢNH (thuận lẫn nghịch) ấy, là ĐIẾU KIỆN tiên quyết (paṭicca samuppāda) hay DUYÊN (paccaya), để ấn định LUÂN LÝ (=đạo đức xã hội).

-Nếu bình tâm nghiên cứu sâu xa hơn trong kinh sách Phật-đà, chúng ta thấy có 2 danh từ là nhân duyên (hetu paccaya) và quả duyên (vipāka paccaya). -Và bỡi nhân duyênquả duyên, mà KHÔNG CÓ “qui định cứng ngắt” là “NHÂN QUẢ TUYỆT ĐỐI” trong sinh hoạt liên quan đến tâm tánh con người. -Nói cách khác, “người XẤU nếu tỉnh ngộ PHỤC THIỆN (trong hoành cảnh giáo dục khai trí), có thể thành Phật”, và “người TỐT nếu tối tăm TÍCH ÁC (trong hoàn cảnh giáo dục ngu dân), có thể thành ma”.

*Hiện tượng có nhiều người “thường xuyên ăn ở HIỀN LÀNH (nhân tốt) mà trọn kiếp vẫn gặp lắm BẤT HẠNH” (quả xấu), và ngược lại, cũng không ít kẻ hằng ngày sống HUNG DỮ (nhân xấu) mà cuộc đời lại “MAY MẮN THÀNH CÔNG” (quả tốt)…vốn KHÔNG liên quan gì đến GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ, do đức Phật thuyết minh.  

<>Nghĩa là theo Phật học, giữa NHÂN (hetu) và QUẢ (vipāka), vốn có một YẾU TỐ thứ ba rất quan trọng lẫn then chốt. YẾU TỐ thứ ba ấy có thể tạo ra sự SAI BIỆT(vividha), từ NHÂN đến QUẢ…mà chúng ta cần tìm hiểu cặn kẽ, để không vội qui nạp hiện tượng nhân quả một cách cứng ngắc, thiếu cơ sở ! -Ví như “người có hạt giống tốt (mập mạnh) mà đem gieo chỗ đất xấu, nhiều khi hạt chết. Và nếu nó mọc thì cây yếu ớt, về sau không đủ sức trỗ quả bình thường hoặc nếu sinh quả thì quả ấy sẽ xấu xí, chẳng xứng với nhân trước chút nào” là một chuyện không phải không có !

*Và mặc dù “vấn đề NHÂN QUẢ” cũng được nhiều giảng sư Phật học, dựa vào QUAN HỆ DÂY CHUYỀN, “kết nối” từ THỰC TẠI đến “nhân quá khứ”, hay “kết nối” THỰC TẠI với quả vị lai, để tạm giải quyết một cách “hợp lý” rằng, “những gì chúng ta ĐANG LÀM, sẽ cho quả tương xứng trong kiếp sau”, hay “những gì con người ĐANG NHẬN, là do chính họ đã gieo trồng từ nhiều kiếp trước”.

<>Nhưng lối giải thích nầy không thuyết phục một cách “lý hóa” cho lắm, trước một số “bằng chứng bất xứng” giữa cuộc đời. Người chấp vào “cụ thể”, thì không thể nhìn nhận cái “chân lý trừu tượng”, tuy xem ra “rất hợp lý”, gọi là “nhân quả ba đời”, nhưng nó lại “mơ hồ”. -Và dù THỜI SƯ trước mắt, có qui nạp “khá hiển nhiên” đi nữa, mà trên phương diện lý hóa BẤT liên tục, người ta cũng “không thể” tin chắc rằng “thực tại kiếp nầy (QUẢ) có thể được ấn định bỡi nghiệp kiếp trước (NHÂN)”.

-Đối với nếp sống tuân thủ vật chất, đa số người ngày nay tự nhiên phải nghĩ rằng, sau khi chết, thân thể con người sẽ mục nát, không còn dấu vết gì biến hóa CỤ THỂ cả, còn nói chi đến việc sự sống ấy đủ khả năng tái hiện ! -Kể cả câu chuyện hiếm có, xin tóm tắc :

“Một kẻ phản bội đã bày mưu đâm chết bạn mình, để đoạt vợ và tài sản. Xác nạn nhân được gian phu và dâm phụ cột chặt vào tảng đá lớn, rồi đem thật xa…vất xuống một hồ sâu rất rộng, hoang dã ít người lui tới. Nhà chức trách tìm mãi không ra thủ phạm… Câu chuyện tưởng như đã bị lãng quên. -Đôi ác nhân sau đó hạ sinh một con trai. Đặc biệt là thằng bé khi chào đời đã có 2 cái “bớt” màu tím trên người (1 trước bụng và 1 sau lưng, như “dấu” dao đâm vậy). Đặc biệt là từ khi chào đời, đứa bé luôn luôn khóc sợ và khó chịu, lúc được “cha” bồng…dường như nó không thích đối tượng. Nhưng “cha nó” chẳng chú ý, cho rằng đó là do tâm tánh “tự nhiên” của con…(-Kiểu nói “cha mẹ sinh con, không sinh tính”.)

-Khi thằng bé lên 13 tuổi…Một hôm sau cơn ác mộng, nó trở nên khác thường, ánh mắt lóe ra nhiều tia “oán hận” trước cả cha lẫn mẹ, nhất là đối với người cha. Từ đó, nó lạnh lùng…tìm dịp tốt…lẻn vào phòng đôi vợ chồng, lấy một số tiền, rồi kín đáo chạy ra tiệm mua một con dao bỏ túi sắc bén. Sau đó, nó bất thần đâm chết “người cha” (như trả thù vậy ?), rồi tự mình mang con dao đến đồn cảnh sát nhận tội.

-Khi được điều tra và đối diện với “mẹ ruột”, nó chỉ mặt đối tượng tố cáo tội đồng lõa sát nhân trước đó hơn 13 năm. Người đàn bà bị “lật tẩy” bất ngờ…Bà xấu hổ…phản ứng bằng cách dùng xách tay có khoen sắt, đánh thật mạnh vào mặt nó mấy cái (!). Thằng bé bị trúng chỗ nhược, liền té xuống đất ngất xỉu. Nhưng lúc tỉnh lại, nó tiếp tục tiết lộ nhều chuyện khác, chẳng hạn như nơi chốn có bộ xương người chết, bị cột vào tảng đá quăng xuống hồ, hơn 13 năm trước… -Kết cục, người mẹ đồng lõa sát nhân hết đường chối cải, trước những câu hỏi cung rất khoa học của cảnh sát tư pháp, và y thị đã nhận tội. Nhờ đó, ông tòa mới có đủ yếu tố kết án, và trừng phạt người ác một cách xứng đáng.

-Dù chúng ta luôn luôn tin tưởng vào “luật nhân quả”, nhưng với tính “tôn trọng LÝ HÓA” trong thái độ KHÁCH QUAN, chúng ta vẫn không thể chỉ căn cứ vào việc thấy bộ xương cột vào tảng đá, và một số bằng chứng khác (chẳng hạn như dây chuyền trên xương cổ nạn nhân), đi đôi với lời tố cáo của thằng bé…v…v… mà chúng ta “xác định 100%” cái “luật nhân quả”, một cách “thiếu đối chứng của nguyên cáo từ quá khứ quay về”. (-Chuyện vốn chẳng bao giờ có !) -Và vì sao chúng ta quá cẩn thận như vậy ?! -Vì vẫn còn một giả thuyết cho rằng, “thằng bé có thể bị người nào đó xúi dục”, do thù hằn cá nhân với cha nó !

*Trong đạo đức nhà Phật, một tinh thần “hiếu thiện” thường chọn giải pháp “thà nhận mình sơ xuất, để thả lầm hơn là tin lầm, kết tội lầm, và giết lầm” ! -Vì “thả lầmcòn có thể truy lùng, bắt lại kẻ ác, nhưng “giết lầmthì không thể làm cho nạn nhân đã chết sống lại !

*Nghĩa là, hiện tượng “NHÂN QUẢ BÁO OÁN” trong câu chuyện hiếm thấy trên đây, vốn nằm trong TÍNH HỢP LÝ của những người “duy tâm”, tôn trọng đạo đức xã hội. Nhưng như thế vẫn chưa đủ để nêu QUI KẾT một cách chắc chắn, khi không có những SOI SÁNG tối đa, nhất là với TRÍ VÔ TƯ trong khoa học TÂM VẬT. -Và đây cũng chính là SỰ NAN GIẢI của VẤN ĐỀ, đối với phàm nhân (như chúng ta), vừa muốn tìm kiếm SỰ THẬT vừa phải giữ tâm vô tư, trong sáng, khoa học !

-Quay lại đạo Phật…“TIẾN TRÌNH NGHIỆP QUẢ” mà bậc Toàn Giác đã thuyết minh, KHÔNG THỂ chỉ có “hiệu ứng” đối với những ai “duy tâm” hay “tôn trọng đạo đức”! -Mà GIÁO LÝ ấy còn phải soi sáng các pháp thế gian, và NGHIỆM ĐÚNG trong mọi trường hợp, một cách khoa học ! Vì “Phật” cũng là “một nhà khoa học”, đã thanh tịnh biết rõ tất cả vận hành giữa tinh thầnvật chất. Giáo lý mà Ngài cống hiến cho nhân loại, tất nhiên vốn đến từ ánh sáng BÁT-NHÃ, nền tảng của “Bản Sắc Khoa Học trong nhà Phật”.

-Lại nữa, số người thực sự học hành theo lời Phật dạy, có đủ tính sáng suốt, và không kết luận cẩu thả, nhờ THẤU ĐÁO “hiện tượng nghiệp quả” trên cuộc đời… xem ra quá ít, -nhất là trong nếp sống hiện tại, mỗi ngày một thiên về hưởng thụ vật chất ! -Một TÌNH TRẠNG rất thuận lợi cho tham sân si…và rất trở ngại cho “đóng góp” của đạo Phật nguyên thủy !

*Đây cũng chính là LÝ DO, thúc đẩy chúng tôi nêu ra chủ đề Bản Sắc Khoa Học trong Phật Giáo, xuyên qua một loạt bài phát biểu khiêm nhượng. Chúng tôi không ngại sẽ bị nhiều người bất đồng ý kiến, rồi “qui kết” rằng chúng tôi “nặng tính chủ quan”, hay “thích cường điệu”, cố ý quảng cáo cho “tín ngưỡng” của mình !

<>Hơn nữa, vì vấn đề “NHÂN QUẢ” theo quan niệm giản dị của thế gian, đã làm cho khá nhiều người “thất vọng” một cách vô lý, và mất định hướng đến độ có thể “hiểu lầm” Phật giáo. Do đó, nhắc lại “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ là một điều rất cần thiết, để “minh bạch hóa giải” hay “soi sáng” vấn đề, và đồng thời cũng không đi ngược kinh điển nhà Phật.

Vậy “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ” là gì ?

<>Ngay khi vào đề, chúng tôi đã nói, “NGHIỆP” là một từ ngữ “hán việt”, được dịch từ chữ Pālī “KAMMA” hay Saṅskrit “KARMA”, mà “nội dung” vừa dễ hiểuvừa khó hiểu. -Nhóm từ “dễ hiểu và khó hiểu” ở đây, không ám chỉ một “bài toán nan giải”, mà là NÓ phản ảnh một “ngụ ý” nói lên tính dễ dãi của những người có cảm tình với đạo Phật, rằng “Miễn là nhằm mục đích hướng thiện là đủ rồi, còn kiểm chứng chi tiết cụ thể thì…tính sau!

-Nhưng rất tiếc, xã hội ngày nay là một cộng đồng bị lôi kéo rất mạnh bỡi vật chất. Một mặt người ta tỏ ra “nặng về” sự hợp lý (?), -mặt khác, bất cứ điều gì người ta cũng đem ra kiểm chứng một cách “đòi hỏi liên hệ thực tế”! Và một giáo pháp đến từ ánh sáng GIÁC NGỘ (=bát-nhã) mà lại “không nghiệm đúng”, thì quả thật là một điều vô cùng đáng tiếc !

-Tình trạng đó thúc đẩy chúng ta phải “xét lại” cái HỌC của chính mình, để nghiên cứu sâu xa hơn, trên phương diện KHOA HỌC THÂN TÂM (khảo sát mối liên quan tinh thần và vật chất), hầu xứng đáng với cái tên “tín đồ của đạo Giác ngộ” (Sampajaññayana).

<>Theo A-Tỳ-Đạt-Ma (Abhidhamma) trong Phật giáo, thì “NGHIỆP QUẢ”, hay “NGHIỆP đưa đến QUẢ” (Kamma=>Vipāka) là một tiến trình tổng hợp của SỰ và LÝ (Attha & Dhamma), gồm 3 yếu tố “ắt có và đủ” như sau :  

1/Phải có TÁC Ý (tốt hoặc xấu) ở NỘI TÂM (Cetanā=Maṇasikāra), trong khi hành động.

2Phải đang nhắm vào một ĐỐI TƯỢNG nào đó (gọi là “định cảnh”=ālambana), và

3/Phải kết thúc HÀNH ĐỘNG, tức là thực hiện xong ý định (tốt hoặc xấu) ấy (kara).

Từ ĐÓ suy ra, chúng ta có 4 “hệ luận” A-B-C-D của NGHIỆP như sau :

A-Một “hành vi NGOÀI TÁC Ýphát ra vu vơ, thì gọi là “NGHIỆP VÔ NHÂN” (ahetuka kamma). NGHIỆP nầy không quả oan trái (đối với sinh linh khác trong kiếp sống),nhưngvẫn cóQUẢ,là làm cho quen tật lơ đảng. Một dạng vô minh rất nguy hiểm, nguồn gốc của sa đọa.

B-Một “vận hành của TÁC Ý trong tâm” (tốt hay xấu), nhưng chưa thực hiện” bằng thânhay bằng miệng, thì gọi là “Ý NGHIỆP”(maṇo kamma). Nó sẽ không trổ quả báo ứng (đối với sinh linh khác), nhưng vẫn có quả tự làm cho tâm bị tràn ngập bỡi các tư tưởng nội tại, thiện ác lẫn lộn.

C-Một “TÁC Ý theo tư tuởng (tốt hay xấu) đã quyết định trước một đối tượng (tức là cảnh) nào đó, mà người ta thi hành xong (bằng thân hay bằng miệng), thì gọi là THÂN NGHIỆP (Kāyakamma) hay KHẨU NGHIỆP (Vacīkamma). Nó sẽ trổ quả báo ứng đối với ít hay nhiều sinh linh khác trong cuộc đời. QUẢ ấy chắc chắn sẽ đến trong kiếp nầy hay kiếp sau.

D-Một “KẾT QUẢ” (vipāka) tốt (subha=mānāpa) hay xấu (asubha=amānāpa), có oan trái (dāyādayogga) hay không oan trái (adāyādayogga), thì luôn luôn tùy theo TÁC Ý (=dự định) mạnh hay yếu(cetasika=manasikāra) khi TẠO NGHIỆP. -Có thể được trình bày như sau :

a/ Quả TỐT (subha=kusala=thiện) thì sẽ không tự yếu đi để hóa giải, nếu người TẠO NGHIỆP chưa tinh tấn tu hạnh BUÔNG XẢ (Upekkhā bhāvanā).

b/Quả XẤU (asubha=akusala=bất thiện=ác) cũng sẽ không tự yếu đi, để trở thành hóa giải, nếu người TẠO NGHIỆP không thức tỉnh và chân thành PHỤC THIỆN.

A-Tỳ-Đạt-Ma (Abhidhamma=Vi Diệu Pháp) còn nói rõ :

<>Một NGHIỆP (Kamma) nói chung được thành lập, lúc nào cũng bao gồm TÂM THỨC (citta-viññāna), và NGOẠI CẢNH (bahiddhā-rammaṇa), hay “đối tượng bên ngoài” (khung hoạt động).Nhưng “đối tượng bên ngoài” ấy, nếu ám chỉ lần tiếp xúc thứ nhấttrong bộ máy LUÂN HỒI (Saṃāra),thì rất xa xưa…bất khả “thuyết”, vì nóthuộc về “quá khứ khởi thủy”, phàm nhân không ai nhớ nổi, -tất nhiên không được kể vào đây. Và “SAU sự tiếp xúc đầu tiên xa xưa” ấy, các “ngoại cảnh mạnh, đã được ghi lại trong tâm”, biến thành “hình ảnh nội tại”, mà Phật học gọi chung là “NỘI CẢNH”, chìm trong dòng hữu phần (maṇārammaṇa, bhavaṅga), hoặc “A-lại-da thức” (ālaya), hay “TÂM SỞ” (Cetasika), tương đương với tên khoa học là “tiềm thức” (sub-conscience) trong khoa “Phân Tâm Học” Tây phương.  

-Toàn bộ “hình ảnh tích tụ từ vô thỉ quá khứ” ấy, còn có môt tên khác trong Phật giáo, là TƯỞNG UẨN (Saññakkhandha), ám chỉ một cái KHO bao trùm cả NỘI CẢNH (Ajjhattārammaṇa) lẫn NGOẠI CẢNH (bahiddhā-rammaṇa) hằng phản ảnh tương tác lẫn nhau. Có sách gọi ấy là TOÀN TÂM CẢNH (Sabbacitta ārammaṇa). -Từ đó, sư sống của con người không phải đơn giản, mà là phức hợp của NỘI CẢNH (Ajjhattārammaṇa) và NGOẠI CẢNH (bahiddhā-rammaṇa), xuyên qua “5 giác quan cụ thể” (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), và “1 giác quan trừu tượng” (ý), mà NÓ còn bao trùm tất cả trong ngoài. Nhưng để “giản dị hóa”, TOÀN TÂM CẢNH chúng ta có thể xem ẤY là “những gì” con người “thấy được” trong tinh thần, tổng kết của 6 đối tượng giác quan,SẮC, THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP, -nói nôm na là TRẦN CẢNH (Rūpaloka) !(Lưu ý : “CÕI” (bhūmi, loka) trong Phật học không ám chỉ duy nhất cảnh tượng bên ngoài, mà bao trùm cả tất cả những gì bên trong tâm thức !).

-Ngoài “NỘI CẢNH” và “NGOẠI CẢNH” ra, Phật học còn giúp chúng ta nhận diện một “CẢNH THỨ BA” (ít ai để ý), là “NGHIỆP CẢNH” (kamma ārammaṇa). Và theo một “hợp lý cá biệt” (rất khoa học), NGHIỆP CẢNH vốn có đặc tính “biến hóa theo độ dày” của TƯỞNG UẨN (Saññakhandha), -nghĩa là “cùng một vật” mà xuyên qua “tưởng uẩn cá biệt”, 2 người có thể “nhìn thấy” với 2 TÂM TRẠNG khác nhau hoặc “giống nhau”. Và đó là “khởi điểm” của “THUẬN Ý” (ái rồi thủ) hay “NGHỊCH Ý” (hận rồi thủ), -một cặp DUYÊN CÁ BIỆT.

*Cả 2 trường hợp “chứa đựng đầy đủ” các “dấu ấn mạnh nhất” hay còn gọi là “hiệu số” của tất cả những hành vi THIỆN hay ÁC suốt một đời người. HIỆU SỐ nầy sẽ tự động hiện ra trong TÂM lúc “cận tử” (cuticitta), ngay trước “sát-na tục sinh” (paṭisandhi-khaṇa).

<>Chúng tôi “dài dòng” như thế, chỉ với mục đích “nhấn mạnh” rằng “các điều kiện để con người tạo NGHIỆPnhận QUẢ khá phức tạp”. -Chưa kể trong TÁC Ý (cetanā) khi tạo nghiệp, còn có “áp lực” (ogha) của 3 NHÂN ÁC (tham sân si), hay của 3 NHÂN THIỆN (vô tham, vô sân, vô si). -Câu nói thuần lý thuyết, “nhân nào quả nấy” do thế gian “truyền miệng” hoàn toàn không bao gồm những dữ kiện nầy, thì làm sao NHÂN QUẢ nghiệm đúng được !?

*Nói tóm lại, những điều kiện nầy là DUYÊN HÀNH (Paccaya saṅkhārā). Nghĩa là nếu muốn cho NHÂN và QUẢ tương xứng, thì chúng phải “thông qua” DUYÊN HÀNH (hay hệ dây chuyền của hoàn cảnh). Đây chính là lý do mà trong đoạn trước, chúng tôi đã giới thiệu 2 “đặc từ” NHÂN DUYÊN và QUẢ DUYÊN. Và cũng vì cái DUYÊN ấy mà “nhân quả tiếp tục xoay vần”, “TRƯỚC SAU hoán vị nhau”, không bao giờ chấm dứt trong “bộ máy luân hồi”.

<>Nhân tiện, “nói thêm” về 2 chữ LUÂN HỒI (Saṃsāra) một chút. LUÂN HỒI có nghĩa là “đi tới trong cái hướng sẽ quay lại khung cảnh sống, khác hay giống cũ”. Và quả đất là “HIỆN VẬT” nâng đỡ cáiKHUNG CẢNH CŨ ấy. Đó là một khối kết hợp khổng lồ, gồm chất đặc, chất lỏng, chất nóng, và chất hơi), đang “giao thoa tồn tại” bằng cách quay tròn. -Từ đó, KHÔNG GIAN và THỜI GIAN đồng thời hiện hữu vận hành, gọi là “THƯỢNG HẠ KHÍ QUYỂN” (Loka=atmosphère) bao phủ địa cầu, với 4 mùa xoay vần Xuân Hạ Thu Đông, thích hợp cho sự xuất hiện và nẩy nở của vạn vật…

*“LUÂN HỒI” (hay quay lại hướng cũ) là một tuần hoàn tự nhiên của tất cả những gì thuộc về động,  như quả đất trong THÁI DƯƠNG HỆ. Sự LUÂN HỒI không phải là một giáo thuyết do Đức Phật đặt ra, mà là một QUI LUẬT thuần túy LÝ HÓA. Từ đó, hiện tượng “sinh tử luân hồi” thuộc về mặt đất, cộng với bầu khí quyển, và không gian vô tận, là “3 cõi” mà nhà Phật gọi là DỤC GIỚI (Kāmaloka), SẮC GIỚI (Rūpaloka), và VÔ SẮC GIỚI (Arūpaloka). -“Hễ có động, có xoay vòng…thì phải có luân hồi”…Ấy là SỰ THẬT muôn đời !

*Trong DỤC GIỚI (Kāma loka), thì có LUÂN HỒI HỢP THÂN (thể xác) và LUÂN HỒI HỢP TÂM (tinh thần). Luân hồi hợp thân là sự kết cấu và tái sinh của “vật chất” (rūpa), gồm đất, nước, lửa, và khí ở dạng thô kệch (hữu hình). Còn luân hồi hợp tâm là sự kết hợp và tái suất hiện của điện tâm dựa trên đất, nước, lửa, và khí ở dạng vi tế (vô hình).

*Trong SẮC GIỚI (Rūpa loka), thì có LUÂN HỒI LƯỢNG TỬ” và “LUÂN HỒI LƯỢNG ẢNH”. “Luân hồi lượng tử” là sự kết hợp và tái suất hiện của “siêu vật chất” (abhirūpa), gồm bạch hỏa, và thanh khí ở dạng hào quang (kết nối một vùng). Còn “luân hồi lượng ảnh” là sự kết hợp và tái suất hiện của khinh hỏa, và chân khí ở dạng triều quang (kết nối vô cùng).

*Trong VÔ SẮC GIỚI (Arūpa loka), thì có “LUÂN HỒI TỊNH QUANG” và “LUÂN HỒI TOÀN QUANG”. “Luân hồi tịnh quang” là sự kết hợp và tái suất hiện của “cực siêu quang phổ” (sabhirūpa), gồm chân hỏa, và chân khí ở dạng thanh tịnh (soi sáng khắp nơi). Còn “luân hồi toàn quang” là sự kết hợp và tái suất hiện của vô ảnh hỏa, và vô biên khí ở dạng nguyên tịnh (tương đương với “thần thông”).

<>Theo Phật học, trong mỗi chúng ta KHÔNG CÓ một linh hồn bất biến, trường cửu, , nhưng có một CÁI mà chúng ta chẳng thể dùng ngôn ngữ qui ước, đặt tên chính xác được. Chúng ta chỉ tạm gọi ẤY là “SIÊU NĂNG LƯỢNG” hay “CHÂN GIÁC” (Bud). “Siêu năng lượng” nầy biến hóa theo NGHIỆP TỐT (kusala kamma) hay NGHIỆP XẤU (akusala kamma), để “phản chiếu lên chính nó”, rồi TỰ TRỞ THÀNHkhinh thoát” (tiến hóa, thăng hoa, hạnh phúc) hay “nặng nề” (thoái hóa, sa đọa, bất hạnh).  

*Từ đó, NGHIỆP DUYÊN (kamma paccaya) trổ ra QUẢ DUYÊN (vipāka paccaya) tốt (kusala) hay xấu (akusala), là một “giải trình hoán vị 2 chiều” (paramètre alternatif parallèle = thông số song song tương tác), rất khoa học, gắn liền với KHÔNG GIAN và THỜI GIAN xoay vần (movement circulaire, spiral), chứ không phải là một “giáo điều tín ngưỡng” thuộc về “phán quyết toàn năng”. KHÔNG GIAN và THỜI GIAN ở đây chính là “2 yếu tố” làm “nguồn gốc không đầu không đuôi” cho LUÂN HỒI.

*Kết quả, tên gọi của 2 THỜIđã qua” và “chưa đến”, trong “TƯỞNG UẨN” (Sañña khandha=trí nhớ con người) đều KHÔNG THẬT, chúng luôn luôn tương đối. Thực tại trước mắt chỉ là kết quả của đã qua, và cũng là nguyên nhân của sắp đến. THỰC TẠI vốn THẬT và “đại diện” cho cả 2 bất định, nên Phật học khuyên chúng ta nên “sống trong hiện tại”, để may ra “nắm bắt” được CHÂN LÝ nơi chính mình !

Thử suy gẫm 3 dòng chữ liên quan đến thời gian sau đây :

Hôm nayTHỰC TẠI đang sống. Nó đến sau hôm qua, đồng thời cũng đi trước ngày mai.

Hôm qua THỰC TẠI của chính nó, nhưng đến sau ngày hôm kia, và đi trước hôm nay.

Ngày maiTHỰC TẠI của chính nó, nhưng đến sau hôm nay, và phải đi trước ngày mốt.

*Cả 3 thời đều chứa THỰC TẠI (Saṭipaṭṭhāna paccuppanna), vì ở đâu cũng có 2 chữ “BÂY GIỜ” (idāni). Nói cách khác KHÔNG GIAN và THỜI GIAN chỉ là “một chuỗi” những “thực tại nối tiếp nhau” không ngừng. “Thánh nhân” hay “phàm nhân” vốn khác nhau ở chỗ ẤY, -một bên “giác ngộ sự thật, và thanh tịnh, sáng suốt, biết dừng lại để nhận thức đúng THỰC TẠI”, -còn bên kia “say mê ảo ảnh, rồi hiếu động tiếp tục đi mãi”, phiêu lưu trong RỪNG TẠO NGHIỆP, bị tràn ngập (ogha) bỡi ánh sáng bóng tối, bỡi tốt xấu, bỡi thăng đọa, mất định hướng…luân hồi !

<>Thử nhắc lại câu nói thường nghe “không ai có thể kéo lùi thời gian”. Câu nầy chỉ đúng nếu nói về “nhan sắc”, nhưng NÓ không chính xác khi ám chỉ “việc gì đã làm thì không thể sửa lại được”. -Vì theo Vi Diệu Pháp trong Phật giáo, “cải thiện cái QUẢ cũng có nghĩa là cải thiện cái NHÂN”. -Mà cải thiện THỰC TẠI là cải thiện CÁI QUẢ. Từ đó, người tin Phật không bi quan cho rằng “nghiệp quá khứ không thể điều chỉnh”.

*Như trên vừa nói, “THỰC TẠI hiện hữu trong cả 3 THỜI”. “Làm thiện để tiến hóa trong thực tại chính là chỉnh lại sự lạc hậu trong quá khứ”. Một chiếc xe hơi đã được chế tạo VỤNG VỀ trước đây nhiều trăm năm, nhưng nhà sản xuất, từ đời nầy qua đời khác…không ngừng cải thiện THỰC TẠI, nên ngày nay chiếc xe TỐT HƠN trước kia rất xa. THỨC TÁNH (hay thân tâm) nếu tu hành cũng THĂNG HOA như thế !

Quay lại chữ DUYÊN (Paccaya) :

<>Theo Phật học, hiện tại là DUYÊN, quá khứ cũng là DUYÊN, tương lai vẫn là DUYÊN. Cả ba thời đều là DUYÊN, tức là trần cảnh bên ngoài (=KHÔNG GIAN), lẫn tâm cảnh bên trong (=THỜI GIAN) hằng làm thay đổi THỰC TẠI, và thiết lập “hiện hữu liên tục, một cách tạm thời. -Nếu “duyên tốt ở thực tại” có thể “hóa giải” được cái QUẢ TRƯỚC MẮT của NGHIỆP quá khứ, thì duyên tốt (kusala paccaya) ấy cũng có thể “hóa giải” được HẬU QUẢ cộng nghiệp, SẼ ĐẾN trong tương lai.

-DUYÊN TỐT nói chunglà ĐẠO ĐỨC, hay kết tinh của chánh kiến (sammā diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā saṅkappo). Nếu duyên tốt thường phối hợp với thiện pháp (kusala dhammā), do HIỆU LƯC của GIÁC NGỘ và GIÁO DỤC thúc đẩy, có thể làm cho thực tại thăng hoa, thì DUYÊN XẤU hay PHẢN ĐẠO ĐỨC, tức HIỆU LỰC của tà kiếntà tư duy, chẳng những đã không bồi bổ gì  cho HIỆN QUẢ, mà còn làm “thực tại” xấu đi, suy đồi và bị lạc hướng, rơi vào xung đột, đắm chìm trong u-minh, si mêsa đọa.  

*Đức Phật là một nhà giáo dục siêu việt, Ngài đã đạt đến “hạnh sống toàn xả và quân bình thanh tịnh”, trên cả 2 phương diện vật chất và tinh thần. Ngài hằng dùng TRUNG ĐẠO (Majjhimapaṭipadā) như một “khoa học thực nghiệm”, để “thăng hoa” nhân cách của chính Ngài, xuyên qua vô số kiếp, rồi sau cùng cống hiến GIẢI PHÁP đến tam giới chúng sanh, đào tạo nếp sống lành mạnh cho con người. Chúng ta có thể xem “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ” của Phật như “cẩm nang” để vững vàng sống THIỆN”.

<>Theo Phật giáo, THÂN nầy KHÔNG phải “ngẫu nhiên” mà có. Đó là “sản phẩm” của NGHIỆP LỰC (kammabāla) trong từng cá nhân. NGHIỆP LỰC ấy có “sức mạnh tổng kết” của NHÂN phối hợp với QUẢ, “thông qua” những RÀNG BUỘC từ các điều kiện sống, gọi là DUYÊN. Và sự VẬN HÀNH của “bộ ba” nhân duyên quả sẽ biểu lộ ra hiện tượng, một cách vừa hợp lý vừa vô lý, nên người đời không thể diễn giải bằng “qui trình lý lẽ” được, -nhất là đối với những kẻ “thuần túy duy vật”, thì càng không thể chấp nhận !

-Thử nêu rằng, “cái gì người ta thích thì người ta nắm giữ, ôm ấp” (=ưu ái), Phật học gọi là THỦ (upādāna), -hay “cái gì người ta không thích thì người ta ruồng bỏ, vất đi, quên mất” (=đố kỵ) cần gọi là BẤT THỦ (nupādāna).  Nhưng VẬN HÀNH của NGHIỆPtrong một người, thì hoàn toàn khác biệt. Nó không bị chi phối bỡi “thuận” hay “nghịch”, THƯƠNG hay GHÉT, mà tùy thuộc vào “độ dày” của “sự lập lại” (tức là UẨN=tích tụ thói quen=tập khí) do chính nó. Trước “VẬN HÀNH của NGHIỆP”, người ta không thể dựa vào qui ước thế gian để “kết luận vấn đề” nên phải gọi là “vừa hợp lý vừa bất hợp lý”.

<>Nghĩa là, “CÁI” người ta THÍCH…rồi vì ưu ái mà người ta “THỦ” đã đành, nhưng cái người ta CHẲNG THÍCH, rồi vì đố kỵ…mà người ta cũng “THỦ” luôn, thành ra không còn “lý lẽ căn bản” để làm chuẩn. -Trong đời sống, nhiều khi người ta còn THỦ (hay ghi nhớ hình dạng của đối tượng đáng ghét), nhiều hơn là THỦ (hay ôm ấp hình ảnh của đối tượng đáng yêu !) Từ đó, bộ máy LUÂN HỒI không phải do “TÂM LÝ” thuận hay nghịch “điều động”, mà là do ĐỘ TỒN KHO của NGHIỆP LỰC (kammabāla) TỐT hay XẤU quyết định !

-Riêng “nghiệp lực TỐT” (hướng thiện), còn gọi là “công phu thăng hoa” cũng do con người tích tụ, nuôi dưỡng. -Chứ không phải do một “đấng toàn năng” nào ban cho cả !

-LUÂN HỒI có nghĩa là “tái hiện” trong một một kiếp sống khác (tốt hơn hay xấu hơn) ở tương lai. Nếu “sự tái hiện” ấy do TÂM LÝ tùy thích quyết định, mà không cần đến “công phu hướng thiện” (=tu tập vượt lên chính mình), thì không ai cần đến ĐẠO ĐỨC nữa. Và mọi sinh linh sẽ chọn “nhớ nghiệp tốt, quên nghiệp xấu” để được “HIỆN THÂN hoàn hảo”. -Và như thế thì mọi hiện tượng sống sẽ luôn là thiên đường, -chứ chẳng bao giờ khổ đau ! -Ham muốn phản khoa học !   

<>Hai chữ “HIỆN THÂN” trên đây ám chỉ TÁI SINH trong HỖN HỢP, gồm vật chất (=thể xác) và năng lượng (=tinh thần). Cũng xin thưa rằng, “thể xác” và “năng lượng” chỉ là 2 từ ngữ qui ước tạm dùng, để “tượng trưng” cho “2 kho tập khí”, là THÂN THỂ và TÂM THỨC. Phật học nói rõ : “Kho THÂN THỂ gồm đất, nước, lửa, và khí hay tứ đại, lập thành sắc uẩn”. Và “kho TÂM THỨC gồm thọ, tưởng, hành, và thức, lập thành bốn uẩn còn lại”. Tổng cọng 5 uẩn tạo ra con người là như thế.

*Sắc thân ví như “vật dẫn điện” và Tâm thức là “dòng điện”. VẬT DẪN ĐIỆN thì đến từ hỗn hợp tứ đại, tự nó có khối lượng cụ thể để “trình diện”, nhưng DÒNG ĐIỆN thì không có khối lượng tương tự (vốn hạn chế), không có hình thức, nên phải nhờ VẬT DẪN ĐIỆN làm điểm tựa…mới có thể “biểu lộ”.

-Trong khoa học nhân thể, thuần túy duy vậtngười ta cho rằng “thân xác là do cha mẹ sinh ra”, hoàn toàn thuộc về “sinh lý xác thịt”, xuyên qua phối hợp ngẫu nhiên của các hóa chất hữu cơ, dưới dạng “cấu kết lỏng”, trong đó “dưỡng khí” đóng vai chính. Còn TINH THẦN chỉ là tổng hợp của TRUNG KHU NÃO BỘ, vận hành với hệ thống thần kinh. (!?)

-Nhưng “hệ thống thần kinh” lại KHÔNG LUÔN LUÔN được “điều khiển” bỡi cái gọi là “TRUNG KHU NÃO BỘ” (trong xương sọ), mà NÓ còn rất thường bị “tác động” một cách “mầu nhiệm”, bỡi một TỪ TRƯỜNG HUYỀN BÍ khác, hoàn toàn VÔ HÌNH, người phàm không ai biết XUẤT XỨ. Các chuyên gia về “khoa học nhân thể”, xưa nay chỉ loay hoay “phân chia” NÃO BỘ hay khối óc, ra nhiều vùng phân biệt, để tìm hiểu những mối LIÊN LẠC MÁY MÓC điều khiển toàn thân”. Và mặc dù họ đã “xem xét vô cùng tỉ mỉ”, vẫn không khám phá ra được gì khác, ngoài những tuyến “dịch điện giải lý hóa”, tiếng Pháp gọi là “hormone”.

*Phải chăng các nhà khoa học nhân thể đã “không để ý” đến NỘI DUNG của chữ “NGHIỆP” (karma) trong Phật giáo !? -Họ tưởng lầm rằng, “nghiệp chỉ là phản ứng của hệ thống thần kinh phát ra hành động”. Đối với họ, NGHIỆP là “bản năng”, và con người “bất lực” trước “bản năng” hay NGHIỆP. Bản năng là “mệnh lệnh tuyệt đối”, con người không cưỡng được và cũng không có “trách nhiệm”!

Cụ Nguyễn Du nói :

«Đã mang lấy NGHIỆP vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện CĂN ở tại lòng ta,

Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI».

<>Thiện CĂN là gì, nếu không phải là cái «TỪ TRƯỜNG HUYỀN BÍ TỐT» nói trên ?!

(-Xin lỗi, 4 chữ NGHIỆP, CĂN, TÂM và TÀI…do chúng tôi mạn phép in hoa, để gây sự chú ý, -chứ trong nguyên bản Việt ngữ truyện Kiều thì không như thế. Mong thông cảm !)

<>Quay lại Phật học, NGHIỆP không phải là “qui nạp của suy luận dân gian”. Trong TÚC SINH TRUYỆN, Bồ-tát (Bodhisattva) tiền thân Phật, đã dùng vô số kiếp sống của “chính mình”, trong vòng luân hồi mênh mông, để kinh nghiệmbiết rõ NGHIỆP (Kamma, karma).

*Cũng nhờ…“trải qua từng ấy kiếp sống, mà Ngài có thể “cô đọng được các nét chính” của những “chuyện tiền thân” (đa dạng), có ghi lại trong bộ TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka), thuộc Tam Tạng Kinh Điển tiếng Pālī. -Chúng tôi dùng nhóm chữ “TỪNG ẤY kiếp sống”, vốn không phải dám “phỏng định” CHỪNG ĐÓ với VÔ SỐ kiếp tu hành làm “tiền thân” của Ngài, tượng trưng khoảng “547” hay “550” chuyện (theo nguồn Phật học Miến-điện). Con số “trên 447 truyện” ấy, so sánh với VÔ SỐ KIẾP tu hành của Bồ-tát, thì chẳng khác nào là một giọt nước trong biển cả ! -Nhưng đó là “thời sự tạm đủ”, để mô tả một cách bình dân cái CÔNG PHU bất khả thuyết bất khả tư nghì (Phật học gọi là “Ba-la-mật”=Pāramitā) của Bồ-tát (Bodhisattvā) giúp cho người phàm hiểu về “hạnh kiểm” (HÀNH VI THIỆN) dễ dàng. -Chúng ta có thể xem bộ TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka), như một “cơ sở tài liệu” của GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ. Vì hầu hết những truyện trong sách, đều “đầu tiên nêu ra một thực tại”, rồi từ THỰC TẠI ấy “tiết lộ” NGUỒN GỐC xa xưa, hay nguyên nhân quá khứ.

*Chưa kể, trong tủ sách Phật học, chúng ta còn có quyển PHÁP CÚ, một “bảo thư” đi đôi với Túc Sinh Truyện. -PHÁP CÚ KINH (Dhammapada) gồm 423CHÂM NGÔN ngắn gọn, hàm súc. MỖI CHÂM NGÔN không dài quá 6 dòng, là một bài dạy, rút từ một câu chuyện của TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka).

<>Người chưa hiểu Phật giáo, có thể nghĩ rằng, “TÚC SINH TRUYỆN là những câu chuyện đặt ra để răn đời”, mà hầu hết các tôn giáo vẫn có, nhằm “hướng dẫn tinh thần” cho tín đồ (!?). -Kiểu như ngụ ngôn của La Fontaine trong văn học Pháp. -Nhưng chúng tôi xin thưa rằng, –đạo Phật không chủ trương tạo tín đồ, bằng nghệ thuật “tu từ học” (=dùng chữ nghĩa minh triết, bóng bẩy…để hùng biện “thuyết phục”).

*Đức Phật là “một nhà giáo dục thực tiễn”, Ngài đã chân thành chia xẻ kho kinh nghiệm bản thân lẫn cộng đồng (gồm sự “tái sinh” của Bồ-tát với một số sinh linh khác, mà về sau Ngài “tái ngộ” vào kiếp chót, như các đệ tử A-nan-đa (Ananda), Xá-lợi-phất (Sāriputta), Mục-kiền-kiên (Moggallāna)…v…v…), gồm thăng đọa rút từ vô số kiếp sống quá khứ, trao tặng đến những ai hữu duyên với Ngài. Nội dung TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka) là những kiếp sống xưa mà Ngài đã tự thân trải qua, và được làm đà để tiến hóa một cách thiết thực, chứ không phải là những điều học trong sách vở, hay “sáng tác”, rất khó kiểm chứng.

-Do đó, giáo lý Phật-đà ở đây là phải SOI SÁNG, cải hóa, làm phát sinh sự HIỂU BIẾT ĐÚNG (chánh kiến=sammādiṭṭhi), lẫn SUY NGHĨ ĐÚNG (chánh tư duy=sammā saṅkappo)…một cách KHOA HỌC (vijjāya) về NGHIỆP QUẢ (kamma vipāka) và LUÂN HỒI (saṃsāra).

*Hơn nữa, mục đích của “bài 4” nầy là để “đặc biệt trình bày” về BẢN SẮC KHOA HỌC trong ĐẠO PHẬT, liên quan đến GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ, nên những gì thuộc về Phật học phổ thông, đã được diễn giảng rộng rãi từ trước đến nay, chẳng hạn như “LỢI ÍCH” của “xuất gia”, “trì giới”, “hành thiền”, “tụng kinh”, “bố thí”, “phục vụ kẻ khác”…v…v… chúng tôi xin phép không lập lại. -Vì hầu hết quí vị đã biết qua rồi !

<>Ngoài ra, “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ” còn một “bản sắc khoa học” rất đáng quí. Đó là MẦM MÓNG của TINH THẦN TRÁCH NHIỆM. Người tin tưởng một cách trọn vẹn, và sống theo giáo lý nghiệp quả là người “vô hại” đối với xung quanh. Vì họ làm bất cứ điều gì, cũng nghĩ đến “hậu quả”, sẽ liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến TRÁCH NHIỆM của mình. Người không tin NGHIỆP QUẢ là người bất chấp thiệt hại do mình gây ra cho kẻ khác. Họ chỉ “ỷ vào” sức mạnh của đồng tiền, và sẵn sàng phục tùng quyền lực. Họ tin rằng “hối lộ có thể xóa hết những việc làm bất chánh”. -Khi mánh khóe và tiền bạc có thể “tẩy sạch” tội lỗi, thì sá gì quả báo sẽ trả trong kiếp sau một cách “mơ hồ” ! (?)

*Một xã hội mệnh danh là “có tổ chức” mà những KHỔ CẢNH (như bất công, hiếp đáp, cướp giật…) thường xảy ra, không thuộc về trách nhiệm (NGHIỆP QUẢ)của ai cả, là một xã hội hỗn loạn. “Hình thức tổ chức” chỉ là một “kỷ thuật”, để lừa bịp quần chúng.

<>Nói tóm lại, -“NGHIỆP” (kamma) theo Phật giáo, là một từ ngữ…-vừa nặng tính triết học, -vừa nặng tính thực nghiệm, -và vừa nặng tính giáo duc. -“QUẢ” (vipāka) là một danh từ ám chỉ sự kết thành của một qui trình hành động nào đó. Ý nghĩa của “QUẢ” tương đối dễ hiểu. Còn “GIÁO LÝ” là một “đặc ngữ”, nói chung thuộc về tín ngưỡng. Nhưng khi chúng ta “tập hợp” tất cả lại thành “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ”, thì NỘI DUNG là một “THUYẾT MINH” phát nguồn từ “Bản Sắc Khoa Học trong Đạo Phật”, và TRÍ BÁT-NHÃ (Prajña) là nguồn sáng.

*****

TÚC SINH TRUYỆN (I) và PHÁP CÚ KINH (II).

(Jātaka & Dhammapadasutta)

-I-

<>“TÚC SINH TRUYỆN” (Jātaka) là sách thứ 10, và “PHÁP CÚ” (Dhammapada) là sách thứ 2, trong số 15 quyển, thuộc TIỂU BỘ KINH (Khuddaka Nikāya) của TAM TẠNG PHÁP BẢO (Tipitaka Saradhamma) Phật giáo. TIỂU BỘ KINH là “tập kết” cuối cùng của “5 bộ” (hay “tập hợp”), lập thành TẠNG KINH (Sutta pitaka), gồm :

1/TRƯỜNG BỘ KINH (Dīgha Nikāya), 2/TRUNG BỘ KINH (Majjhima Nikāya), 3/TẬP BỘ KINH (Saṃyutta Nikāya), 4/CHI PHÁP BỘ KINH (Aṅguttara Nikāya), và 5/TIỂU BỘ KINH (Khuddaka Nikāya), đã được Ban tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh PG (Sàigòn), và nhiều học giả khác dịch ra tiếng Việt, trước năm 1975. -Quí vị có thể tìm đọc trên internet, kể cả các bản Anh ngữ hay Pháp ngữ !

*Nói chung, TRÚC SINH TRUYỆN thuật lại khoảng trên 447 chuyện “Tiền thân Phật” (Jātaka), với những “bố cục” gần giống nhau. -Nghĩa là…trong thuở xa xưa ấy, Bồ-tát tiền thân Phật đã sinh ra ở đâu, thân phận như thế nào, nam hay nữ, sang hay hèn, mạnh hay yếu, đẹp hay xấu, sướng hay khổ…v…v….Tiếp theo, truyện “tiết lộ”, thực tại ấy là quả báo của NGHIỆP gì trong quá khứ. -Ngoài ra, cũng có một số kiếp (rất hiếm), Bồ-tát (Bodhisattva) còn tái sinh làm “thú vật” trong vai trò “đầu đàn”, có đặc tính thông minh, biết cứu nguy, và giúp đỡ đồng loại.

*Đọc TÚC SINH TRUYỆN, một người sẽ khó cảm thấy “hứng thú” và cho là “hoang đường”, nếu họ không có quan niệm rằng, cuộc đời là một sân khấu. Vì sao ? -Vì TÚC SINH TRUYỆN luôn luôn nhắc đến kiếp trước, là nguồn gốc hay “nguyên nhân” của “hiện quả” (thực tại). -Mà “kiếp trước” thì chẳng bao giờ “kiểm tra” được.

-Nhưng nếu cá nhân nào tỉnh ngộ, biết xem “cuộc đời là một sân khấu”, thì thay vì là độc giả họ sẽ tự nhiên biến thành “khán giả”, trước những “tích truyện đậm nét nhân quả” trong sách. Khi một truyện chấm dứt, cũng là “một vở kịch kết thúc”. Sân khấu được “hạ màn”, và diễn viên cuối cùng phải tự mình “xóa sổ” vai trò, để lui vào hậu trường, giống như các đồng nghiệp khác, đã làm trước đó…. Tiếp theo cả bọn phải thay đổi y phục, cải trang mặt mũi, theo vở tuồng kế tiếp, rồi thứ tự trở ra sân khấu…đóng vai trò mới, đúng với khả năng diễn xuất.

-“KHẢ NĂNG” ấy ví như “hiệu lực” của “NGHIỆP”, hay “tập khí” đã thuần thục nghề đóng kịch. Nghĩa là bắt chước cung cách kẻ khác, nhưng “đóng nhuần nhuyễn như thiệt”. Qui nạp các “vai trò khác nhau” trong một đời đóng kịch, xem ra chẳng khác những kiếp luân hồi !

*Ngoài ra, biết đâu khán giả cũng gặp một số “cá nhân đặc biệt” là những nghệ sĩ nổi tiếng đã “bỏ nghề đóng kịch”. Họ dứt khoát rời bỏ SÂN KHẤU và ung dung ở đó, chứ không phải “biến mất”. Hiện tại họ KHÔNG tiếp tục NGHIỆP đóng kịch nữa, vì muốn được thảnh thơi, đứng ngoài vòng quay cuồng, của những vai trò khác nhau. Việc lập lại cung cách, và thay hành đổi dạng không còn trong đời sống họ nữa.

*Tất nhiên, ở đây chỉ chúng ta chỉ mượn “SÂN KHẤU” như cái SỰ (có hình thức=VỌNG ĐỘNG), để “phản ảnh” “TÍNH THẢNH THƠI” như cái (với nội dung BÌNH AN) mà thôi.

Nhưng Bậc Giác Ngộ nhìn toàn cảnh, thì thấy 2 phương diện LÝ và SỰ, đều “cụ thể”, dưới dạng 2 hạng phàm phu : –Hạng thứ nhất gồm QUẦN CHÚNG thích xem kịch (chen lấn nhau để giành chỗ tốt trong “vở kịch đời”). Và hạng thứ nhất là các DIỄN VIÊN say mê đóng kịch (xoay vòng tạo nghiệp) trên sân khấu thu hẹp. -Còn người giác ngộ sống thảnh thơi, “dứt đóng kịch” (=ngừng tạo nghiệp), không lên không xuống sân khấu (luân hồi) nữa.

*Từ phản ảnh của “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ” và “TÚC SINH TRUYỆN” ấy, chúng ta có thể suy gẫm  để ý thức được “KHẢ NĂNG hoàn toàn giải thoát, bình đẳng KHỔ lẫn VUI của Phật, siêu việt như thế nào”.

Nghĩa là Ngài vẫn Ở ĐÓ (không cần xác định “ngoài tam giới”, hay “trong tam giới”. Nhưng điều chắc chắn là “năng lượng tinh khiết của Phật”, KHÔNG bị thu hút, KHÔNG bị đồng hóa, KHÔNG bị xoay vần trong hiện tượng sinh tử. “NĂNG LƯỢNG” ấy chính là THANH TỊNH BÁT-NHÃ (Pañña Pārisuddhi) !  Như thế, ngoài “Bản sắc Khoa Học trong Phật giáo” ra, dù tri thức phàm phu trong văn minh vật chất có “cao xa” đến đâu, vẫn không thể nắm bắt được tiềm lực của NGHIỆP QUẢ ! -Vì sao ?! -Vì ở phàm nhân thiếu hẳn phẩm cách TOÀN XẢ của TRÍ BÁT NHÃ (Prajña), thì làm sao nhận ra NIẾT-BÀN, chân pháp triệt tiêu NGHIỆP ?!

-II-

<>PHÁP CÚ KINH (Dhammapadasutta) được xem là quyển sách Phật học phổ thông nhất, trong các giới trí thức Đông cũng như Tây, xưa cũng như nay. Tuy sách mang tên PHÁP CÚ, nhưng nó chính là “yếu văn” của TÚC SINH TRUYỆN. Đọc PHÁP CÚ KINH chúng ta không thể nào không đọc TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka). Vì mỗi «luận đề» trong PHÁP CÚ, là một «định hướng đạo đức» cho con người, qui nạp từ một câu chuyện tỉm thấy trong TÚC SINH TRUYỆN. -Để không “xa đề chính” và quân bình bài viết, chúng tôi xin phép chỉ nêu ra một cách giản lược…Pháp cú thứ nhất, và Pháp cú cuối cùng, tượng trưng mà thôi.

-Quí độc giả có thể tìm đọc đầy đủ KINH PHÁP CÚ, bằng cách mượn sách trong các chùa có thư viện, hay trên internet, hoặc thậm chí có thể mua từ một số tiệm sách .

Pháp cú đầu tiên ấy là một cặp song đối, gồm 2 đoạn Pāli văn, như sau :

 a/ “Maṇo pubbaṃ gamā dhamma

Maṇoseṭṭhā maṇo mayā

Maṇasā ce paduṭṭhena

Bhāsati vā karotivā

Tato naṃ dukkhamanveti

Cakkaṃ vā vahato padan’ti”

Thoát dịch Việt :

“Mọi pháp hành do tâm dẫn đầu,

Tâm là “chủ”, tâm điều động tất cả,

Người hành động bằng ác tâm,

Thì quả khổ sẽ đi theo,

Như bánh xe lăn sau chân con bò”.

————–

b/ “Maṇo pubbaṃ gamā dhamma

Maṇoseṭṭhā maṇo mayā

Maṇasā ce pasannena

Bhāsati vā karoti vā

Tato naṃ sukkhamanveti

Chāyā’va anapāyinī”.

Thoát dịch Việt :

“Mọi pháp hành do tâm dẫn đầu,

Tâm là “chủ”, tâm điều động tất cả,

Người hành động bằng thiện tâm,

Thì quả lành sẽ đi theo,

Như bóng đen phía sau người”.

<>Hình ảnh QUẢ XẤU sẽ theo người tạo NGHIỆP ÁC (như bánh xe lăn theo chân con bò), hay QUẢ TỐT theo sát người tạo NGHIỆP LÀNH (như cái bóng đen bám sát nhân vật di động), là 2 khuyến cáo về hạnh kiểm, mô tả 2 phẩm cách trái nghịch (thiện><bất thiện), nên Phật học xếp đôi Pháp cú ấy trong “Phẩm Song đối” (Yamaka vagga).

<>Nhìn qua TÚC SINH TRUYỆN, chúng ta thấy cũng 2 Pháp cú (đầu tiên) ấy, nhưng ở đây được “quy nguyên”, nối với “nguồn gốc” bằng 2 câu chuyện “nghiệp nào quả nấy”, -một thuộc về kiếp nầy và…-một thuộc về kiếp trước, kể lại xuyên qua cái KHẢ NĂNG BÁT-NHÃ, hay “khoa học tâm linh” của đạo Phật, gọi là TÚC MẠNG THÔNG (Pubbe nivāsaññāna).

 Trong TÚC SINH TRUYỆN, dù Bồ-tát đóng vai chính, vai phụ hay là chứng nhân, thì cả 3 trường hợp, Ngài đều đã “trực tiếp trải qua” “thời sự” ấy, nên đó là “kinh nghiệm thực tiễn”, ghi lại một cách “khuyến thiện” cho đời sau, chứ không phải là một “lý thuyết đạo đức”, sáng tác nhờ đọc nhiều sách vở (gián tiếp).

***

<>Và PHÁP CÚ KINH sau cùng là câu số 423, -theo văn bản Phật ngữ Pālī thì như sau :

“Pubbe nivāsaṃ yo vedi

Saggāpāyañca passati

Atho jatikkhayaṃ patto

Abhiññā vosito muṇi

Sabbavosita vosānaṃ

Taṃ ahaṃ brūmi brahmanaṃ”.

Thoát dịch Việt :

“Người tịnh trí biết rõ…

Thân hiện tại khổ vui

 Do tiền nghiệp mà có

Và sống thiện không lùi

Phạm hạnh tự sáng tỏ”.

<>Xin nhắc rằng, PHÁP CÚ KINH gồm nhiều phẩm (vagga), trong đó thì mở đầu bằng “phẩm song đối” (yamaka vagga) là có Phật ngôn được trình bày “từng cặp” (đối chiếu thiện ác), như 2 câu đầu tiên trên đây. Nhưng toàn bộ những câu tiếp theo, thì Phật ngôn “đơn” hay “kép” tùy “đề mục”, không nhất thiết như trước. Do đó, chúng ta tuy có 423 PHÁP CÚ, mà lại “tương quan” với khoảng từ 447 đến 550 TÚC SINH TRUYỆN thôi.

(-Các con số chúng tôi trình bày ở đây là dựa trên tài liệu Phật giáo Miến-điện).

Bài 4 đến đây tạm đủ. -Nếu có gi sơ sót, mong quí vị rộng lượng. Hẹn gặp lại trong bài 5.

———————

Phụ Lục :

“CHUYỂN ĐỘNG VẬT LÝ THEO ĐƯỜNG CONG”

hằng chứng minh “Luật Nghiệp Quả” (Luân hồi)

<>Chúng ta đang sống trong một thực tại “VŨ TRỤ TƯƠNG TÁC ĐỘNG” có thể thu hẹp và gọi là VẬN HÀNH THÁI DƯƠNG HỆ, trong đó mặt trời là “cơ lực chính”. Và vì mặt trời nằm ở “vị rí trung ương”, nên NÓ được xem là “định tinh” so với các “hành tinh” nhỏ hơn (trong đó có trái đất) lăn tròn trên quỉ đạo xung quanh NÓ. Nhưng đối với các “hệ tinh tú khác”, thì mặt trời cũng KHÔNG “đứng yên”.

*Khi quan sát những ngôi sao, xa hay gần…từ quả đất thuộc THÁI DƯƠNG HỆ, các nhà khoa học không gian tiết lộ rằng, “tinh tú vô số cũng không cố định”. Chúng luôn luôn thay đổi vị trí. Và nếu tinh tú di chuyển thì chúng phải “di chuyển” theo đường cong. Vì…nếu chúng “di chuyển” trên “đường thẳng” thì chắc chắc chúng sẽ va chạm vào nhau cực mạnh, và sự chấn động sẽ phá hủy vũ trụ kinh khủng. -Nếu như vậy thì…tổng số những  tinh tú (ngôi sao) sẽ phải mỗi ngày một ít đi trên “bầu trời”…do bị «phá hủy».

<>Chúng tôi nêu ra những “tiền đề” trên, để qui nạp 2 sự thật, liên quan đến những gì «quá nhỏ» như chúng ta, nằm trong THÁI DƯƠNG HỆ :

*Thứ nhất, toàn thể động vật nói chung, và con người nói riêng, dù chỉ là những phần tử cực vi, so với thái dương” và so với “tinh tú”. Nhưng con người lại có một điểm chung với 2 “CỰC ĐẠI” đó, là bên trong con người cũng “cháy ngầm” như “thái dương» và “tinh tú”. Sự «CHÁY NGẦM» ấy do «cấu kết» của 4 THỨ, gọitheo qui ướcchất đặc, chất lỏng, chất nóng, và chất khí (=thủy thổ hỏa phong), dưới dạng “thân thể hữu cơ biến hóa”.

*Thứ hai, tất cả vạn vật nói chung,động vật nói riêng (tiêu biểu là con người) đều SỐNG với “mạch tuần hoàn”, tức là “vận động xoay vòng”, do hấp thụ “dưỡng chất” khi còn điều kiện để «HIỆN HỮU» (=sống), và do luân tryền “năng lượng” khi hết điều kiện tồn tại để «BIẾN MẤT» (hay chết, tan rã). Quỷ đạo sinh hoạt của THỂ XÁC lúc sống, cũng như chiều hướng di tồn của TINH THẦN lúc chết, luôn luôn là hình CONG hay XOẮN (Cỉrculaire ou Spiral). -«Quỷ đạo» của BIẾN rồi HIỆN.

<>Kết quả, con người làm bất cứ việc gì, thì tinh thần (điện tâm) cũng không tách rời việc ấy”, nên NĂNG LƯỢNG “xoay vần tạo ra trí nhớ” phải «đi vòng» và «xoắn lại» (xoay vần), chồng chất lên nhau (TẬP KHÍ=UẨN). Phật học gọi “làm bất cứ việc gì” ấylà NGHIỆP” (karma), và NĂNG LƯỢNG di tồn tạo ra trí nhớ” kia làQUẢ” (Vipāka). Cả «2 hiện tượng» NGHIỆP và QUẢ đều đến từ “năng lượng xoay vòng”, nên chúng «cô đọng» thành 2 DẠNG…là “khối điện tử” và “sóng lượng tử”…tức là VẬT CHẤT và TINH THẦN, luôn luôn «vận hành» trong CHIỀU CONG, tạo ra CHU KỲ bao gồm SỐNG và CHẾT, luân hồi !

*Thử khảo sát HÀNH ĐỘNG sau đây, để chứng minh CHIỀU CONG (circulaire, spiral) trên phương diện vật lý (=thân thể) lẫn tâm lý (=thức tánh), để chứng minh “nguồn gốc” của «LUẬT NGHIỆP QUẢ» (Kamma Vipāka Niyama) :

<>Một người đi vòng ngôi nhà, xung quanh sạch sẽ…. Vì thiếu giáo dục (vô đạo đức), người ấy không biết tự trọng, ích kỷ…vất khá nhiều ĐỒ DƠ xuống đường, rồi dẫm lên ngang nhiên đi tới. Y bỏ mặc các VẬT XẤU sau lưng, xem là chuyện đã qua (=quá khứ bất cần), chẳng liên quan gì đến mình. Nhưng tiến bước trên lộ trình cong một thời gian, người ấy SẼ thấy VẬT XẤU kia nằm ngay trước mặt, như chờ đợi mình. Và y KHÔNG thể nghĩ rằng “vật xấu ấy là do kẻ khác bỏ xuống đất, chứ không phải mình” (!) , -và trong THỰC TẠI chính mình phải đi trên con đường có rác đó.

*Vất đồ dơ ở đây ám chỉ NGHIỆP ÁC. Con đường nhiều rác tượng trưng cho sự sống thực tại. Việc thấy lại đồ dơ đang chờ trước mắtphải đi trên con đường không sạch là QUẢ ÁC của người đã tạo NGHIỆP XẤU ! Rồi sau đó, nếu người ấy phục thiện, dọn dẹp con đường sạch sẽ thì TIẾN HÓA, ngược lại là THOÁI HÓA, và không ngừng tự làm sa đọa.

*Giả sử có một người khác, cũng đi vòng quanh ngôi nhà ấy. Người ấy dù bước cạnh ĐỒ DƠ, nhưng họ biết chắc rằng mình KHÔNG phải là kẻ đã vất nó, nên không tự trách. Người ấy sẽ có 2 thái độ. -Một là nhanh chóng rời khỏi nơi nầy, và quyết định không quay lại. -Hai là phát thiện tâm dọn dẹp, rồi khi nhìn thấy sự sạch sẽ cảm giác tự hào, tâm cơ sinh niềm vui !

*Ví dụ vừa cụ thể vừa đơn giản nêu trên, chứng minh rằng «di chuyển trên CHIỀU CONG», một “động tử” sẽ đối diện với toàn thể kết quả của những gì mình đã làm qua. Tất cả “di sản” của mình sẽ luôn luôn Ở ĐÓ để chờ mình, chứ không chờ ai khác”. -Và nếu trên mặt vật chất có sự vận hành như thế, thì trên mặt tâm linh cũng chẳng khác !

-Tất nhiên, chưa thành Phật thì KHÔNG THỂ RA NGOÀI CHIỀU CONG bắt buộc ấy được !

<>Khi THỜI GIAN và KHÔNG GIAN chính là “nguồn gốc” của VẬN HÀNH CONG (Saṃsāra), thì CHU TRÌNH NGHIỆP QUẢ phải nằm trong QUI LUẬT «vay trả» !

*Nói cách khác, LUÂN HỒI là “qui luật nhất định”. Nó hằng NGHIỆM ĐÚNG cho mọi “vận hành sống”, duyên theo KHÔNG GIAN (vật chất), và THỜI GIAN (tinh thần), biến đổi xoay vần qua  4 dạng THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG.

<>Theo Phật học, “SINH TỬ LUÂN HỒI” không phải là 1 “GIẢ THUYẾT”, để người ta TIN hay KHÔNG TIN, -mà ĐÓ là SỰ THẬT, một qui luật tự nhiên khi THÂN và TÂM con người còn tràn ngập bỡi THAM SÂN SI, hay VƯỚNG MẮC trong vận hành của KHÔNG GIAN phối hợp với THỜI GIAN ! -Nghĩa là người làm ác, dù không tin QUẢ BÁO của NGHIỆP, vẫn phải trả đủ, không ai có thể tránh khỏi nó ! -Ví như “một nắm tay đánh mạnh vào tường thì sức dội tương xứng, chỉ chấn động ở nắm tay ấy thôi, chứ không phải chỗ khác” ! Tin hay không tin chẳng thay đổi sự THẬT !

Cs.Tuệ Lạc

(Người viết ghi lại tri kiến, phát sinh nhờ “CHỈ QUÁN” trong mùa “tịnh thất” 2021 tại Pháp).