Bài 3
-“PHÁP” (Dhamma) trong Phật học (Buddhasāsana-sikkhāpada) không phải luôn luôn là lý thuyết, nếu không muốn nói là “hướng dẫn kỷ thuật thực hành” và NÓ có những “ý nghĩa” rất rộng. -“Pháp” vốn là chiều sâu trong rất nhiều phẩm cách cải thiện (unnāmanā guṇa), làm cho thực tại tốt hơn (unnāmeti), bao gồm cả khoa học cụ thể (rūpa-vijjāni = xuyên qua phương tiện lý hóa vật chất) và khoa học tâm linh (bhāvanā-vijjāni) = xuyên qua hành thiền thuộc hệ thực hành GIỚI-ĐỊNH-TUỆ = Sīla-Samādi-Paññā). –Cứu cánh của PHÁP là soi sáng và hóa giải xung đột…giữa những thuận/nghịch trong đời sống vô thường. –Cụ thể sau cùng là PHÁP giảm thiểu hay triệt tiêu các chịu đựng ĐAU KHỔ nơi thân và nơi tâm (dukkha vimutti) cho toàn thể chúng sinh (sabbe-sattā), nhất là con người (manussa).
(-Tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng, “Khoa học lý hóa” (nāma-rūpa vijjā => Sārīrika + Rasāyanika), thường gọi là “cụ thể” (saṃhata) vốnlà hoa trái của trí tuệ bẩm sinh trong loài người tiến hóa (vipāka-ñāna), tự nó vẫn không thiện không ác (majjha-hattha). –Nhưng khi con người xử dụng sản phẩm từ khoa học ấy với dụng ý gì, thì nó mới trở thànhTỐT hay XẤU. Và sự “mặc định” THIỆN hoặc ÁC là do “cộng nghiệp chủ quan”!
-“Khoa học” ở đây, có thể xem như“ngọn lửa” hay “lưỡi dao sắc bén”…nếu nó được dùng để sưởi ấm sinh vật, hay giải phẫu cứu giúp…thì ẤY là THIỆN (kusala). -Ngược lại, nếu nó bị xử dụng (do tham sân si thúc đẩy) để đốt cháy mạng sống hay giết chết chúng sinh…thì ấy là 2 «vật dữ» (akusala). -Và do đó, chúng được “đánh giá” theo mục đích phàm tình trên thế gian ! -Chưa kể mặt khác, việc “giết kẻ thù”thì tuy ác, nhưng người ta lại cho là “hợp lý” !
<>Đối với “MINH TRIẾT” (bodhivijjā-ñāyasattha), “trí tuệ” (ñāna)phát sinh do tinh thần định tĩnh (maṇo ekaggatā), rồi áp dụngvào“trải nghiệm bình an thân tâm cho thực tại” (appanā)…như nhà Phật hằng khuyến kích, thì “PHÁP” là “ÂN ĐỨC” (guṇa). -Nhưng trong lãnh vực sáng tạo xã hội, TRÍ TUỆ ấy cũng là nguồn gốc của văn minh, nếu con người ít bị tham sân si chi phối! (*Bài này đề cập đến các HIỆU QUẢ TIẾN HÓA của Pháp (Dhamma) nói chung, nên cần gợi ý như thế…để khi nêu ra “đạo hạnh”, do phẩm cách biết đúng và thực hiện đời sống thiện một cách đầy đủ, thì “PHÁP” ấy sẽ phải mang lại “NHIỀU ƠN ÍCH” (Dhamma-guṇa) là kết quả giải khổ !).
*Liên quan dến ĐỨC PHẬT (Buddha), xưa nay, các “giảng sư” khi nhắc đến những “danh hiệu”, như “Ứng cúng” (Arahaṃ), “Chánh biến tri” (Sammā-Sambuddha), “Minh hạnh túc” (Vijjācarana-Sampanno), “Thế gian giải” (Lokavidū), “Vô thượng sĩ” (Anuttaro), “Điều ngự trượng phu” (Purisadammasārathī), “Thiên nhân sư” (Satthādevamanussānaṃ)…v…v…thì họ thường nặng về tán dương Ân Đức Bậc Giác Ngộ, để khuyến tấn tín đồ “tụng niệm” cho nhập tâm, và cầu xin được “che chở”, nhưng họ không nhấn mạnh “thế nào là cầu xin trong sự noi gương, sống hành động theo các đức hạnh ấy” ! –Việc làm phiến diện này không khéo có thể biến tín đồ thành “mê tín” nuôi dưỡng niềm tin một chiều…nhờ mãi vào Phật ! -Vì nghĩ rằng “mình không thể nào thể hiện nỗi các đại hạnh như Ngài” !
-Và đối với PHÁP BẢO (Dhamma-rataṇa) cũng vậy, họ ít khi nói rõ ÂN ĐỨC PHÁP (dhamma guṇa) như thế nào, -nhất là như một nguồn soi sáng không màu hay vô sắc thái…làm nền tảng cho đời sống thiện, VƯỢT CHẤP ! -Vì Ân Đức Pháp vốn nằm trong công phu thực hành một cách trải nghiệm (như khoa học hằng phục vụ nhân sinh), chứ không phải đơn giản chỉ trong “tán dương tha lực”, với đặc tính ngưỡng mộ, đầy tình trạng tiêu cực và mê tín !
<>Nghĩa là, PHÁP (dhamma) ám chỉ HỌC để HÀNH, chứ không phải học để phô diễn “kiến thức” hay biểu lộ “lòng tin tuyệt đối” vào tụng tán kinh kệ ! Do đó, người học Phật không dùng lý thuyết hay những “câu nói cao siêu, thóat tục”…để thay thế bất cứ công phu đức hạnh nào ! -Mà với chánh kiến (sammā diṭṭhi), họ luôn luôn khách quan nghĩ rằng, “một vài kinh văn huyền bí mà có thể biến hóa được thực tại”…thì đó là phản chân lý, phản trí tuệ, phản khoa học ! -Hay nói chung là phản Phật giáo, hoàn toàn hoang đường…-và nhất là dễ rơi vào tà thuật, bùa chú, vô minh !
*Vì đối với TIẾN HÓA, THOÁT LY…đạo Phật luôn luôn vẫn là con đường thanh tịnh, soi sáng, cải thiện, đầy tự lực…mở rộng, giải khổ một cách minh bạch !
–Ân đức PHÁP (Dhamma guṇa) trong đạo Phật là những gì…khi nhắc lại hay nghĩ đến…chúng ta phải cảm thấy đã thuần thục, trải nghiệm sự xứng đáng trước thực tại gồm vui hoặc khổ lẫn trung tính.
-“VUI” là “kết tinh” của thân khẩu ý lành mạnh…tỉnh thức.
-“KHỔ” là “quả báo” của những hành vi bất thiện (vô tình hay cố ý).
-“TRUNG TÍNH” là “thọ cảm bẩm sinh”, của luân hồi.
(“Trung tính” ở đây là “tâm vô nhân ưu thế” (tức “dửng dung”, hay “duy tác”), một dạng “xả phàm tình” (puthujjana-upekkhā).
*Và trong cả 3 trường hợp, Ân Đức Pháp (Dhamma-guṇa) vẫn giúp cho chúng ta đón nhận mọi thực tại (tốt, xấu, hay “trung tính”=“vô cảm”) ấy…một cách “tự nhiên”, -ít vướng mắc vào “hài lòng”, -ít dị ứng với “bất hạnh”, và -“dửng dung” (=quen hẳn) với phiền não !
Bảy ÂN ĐỨC của PHÁP (Dhamma guṇa) gồm :
*Ân đức thứ nhất : PHÁP diệt tận tham sân si (=lobha dosa moha vimutti) phải do Bậc Siêu Thoát nói ra (Svākhāto Bhagavatā Dhammo)…chứ không phải là lý thuyết của phàm phu !
<>“Bậc Siêu Thoát” (Bhagavā) ở đây, ám chỉ “Phật Toàn Giác” (Sammā Sambuddha) hay chư Thánh A-la-hán (Ᾱrahatta), đã tháo gỡ tất cả ràng buộc trong tam giới luân hồi, -chấm dứt sinh tử do thuận nghịch, -chấm dứt các chu kỳ thăng đọa. -Và chỉ xuyên qua lòng từ bi vô lượng, sau khi đã viên tròn phạm hạnh tối thượng (paramattha pāramī), mà Bậc Siêu Thoát (āloko udapādi puggalo) mới nói ra THIỆN HẠNH…một cách Minh Triết (Svākhāto), nhờ đã trải qua thực nghiệm rốt ráo. -Ngài tiết lộ PHÁP (dhammo) như ánh sáng soi đường cho mỗi sinh linh, đang lạc hướng trong “rừng sa đọa” (saṃsāra) -«PHÁP» của Bậc Toàn Giác không đến từ bản ngã, không phải là lý lẽ suy luận, hay do tư duy quán sát của hạng trí thức phàm tình (sappañña puthujjana), -dù phàm nhân ấy có bẩm sinh thông minh đến đâu, và được thế gian gọi là «học giả», hay «triết gia» (banḍita) !
-Vả lại, PHÁP (Dhamma) đến từ «Bậc Siêu Thoát» (Bhagavā) trong chiều sâu…luôn luôn đồng nghĩa với giáo lý tuyệt đối thanh tịnh (paramattha visuddhi dhamma), hằng hiện thân bằng hành động thực tiễn (bhāvetabbanti), chan chứa vô lượng từ bi nơi CẢM THỨC, và trong TUỆ BÁT-NHÃ. -“Tu từ học” có thể gọi ẤY là “sự nở hoa” do “niệm thân & niệm thọ” (kāya-vedanā-anupassanā) trong thiền học TỨ NIỆM XỨ (Catu satipatthāna bhāvanā).
-PHÁP SIÊU THOÁT (Lokuttara-dhamma) cũng là sự toàn thiện trong DANH SẮC (nāma-rūpa) hay ngũ uẩn (pañca khandha). Do đó, hiện thân của Ân Đức Pháp vốn chẳng những không trừu tượng, mà trái lại rất cụ thể (sacchikātabban’ti)…-như đã được nói trong Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana sutta), rằng :
-“Pháp Siêu Thoát” (lokuttara dhamma) có thể ví như DƯỢC NĂNG của “mạch suối khoáng truyền”, lành mạnh trong lòng và trên mặt đất, luôn luôn cống hiến nguồn nước thanh khiết, (đã được nhiều phòng thí nghiệm khoa học xác nhận có đặc tính trị bệnh), chứ không phải nhắm mắt tin là “nguồn nước phép” do tưởng tượng, hay với “tin đồn” mà hiệu quả…khi có khi không…tùy theo một số điều kiện tâm lý !
*Ân đức thứ hai : PHÁP (Dhammo) là Cách Giải Cứu Chân Chánh (Ariya pamocaka).
-“LỜI DẠY” (Guṇa saddā) do Bậc Đã Thoát Ly Danh Sắc (Bhagavā) nói ra, khi được hiểu đúng rồi hành đúng (appita, upaṭṭhita) một cách chánh kiến (sammā-diṭṭhi) đầy đủ…liền trở thành “THÁNH PHÁP” (Ariya magga dhamma) ! -ẤY chính là “phạm hạnh” (brahmacariyā), hay cách tu khả thi, cụ thể (saṃhata bhāvanā), chứ không phải là lời suông (avisiṭṭha vāda), chỉ nằm trong kinh sách, để tưởng tượng. -Và theo minh triết, PHÁP (Dhammo)cũng là giới-định-tuệ (sīḷa-samādhi-paññā) hay Kỷ luật, định tỉnh, và đạt tâm phát quang, với năng lượng cực kỳ thanh tịnh, có khả năng hóa giải thuận nghịch.
*Do đó, ân đức thứ hai là “phá xiềng xích” trên “Con đường thành Phật” (Buddhassa nirodhagāminī). Đó là nội dung thực tiễn của PHÁP GIẢI THOÁT (pamokkha dhammā), -mà câu “Kinh văn Pāḷī” đã sắp xếp chữ «Svakkhāto» trước chữ «Dhammo», tạm dịch là «Pháp chính Phật nói, chỉ để cứu khổ» !
*Cần nhắc lại 2 đặc sắc (dvi-lakkhaṇa) của PHÁP PHẬT (Buddha-dhamma) là nhập thế (lokiya) và xuất thế (lokuttara). -Nếu pháp nhập thế (lokiya dhammā) chỉ cho chúng sanh thấu đáo nguồn gốc thực của sa đọa (là tham sân si), thì pháp xuất thế (lokuttara dhammā) luôn luôn hướng dẫn sinh linh trong toàn thể tam giới, nhất là con người thuộc dục giới, biết sống theo khoa học hành thiện(văn hóa thăng hoa), thực hiện chân phạm hạnh (yathābhūta cariya), nhằm có thể giảm thiểu đau khổ…do DANH SẮC (thân tâm=nāma-rūpa) gây ra, để sau cùng chấm dứt sinh tử luân hồi (saṃsāra vimutti). -Pháp đó (sa-dhamma) là Bát Chánh Đạo (Atthaṅgika ariya magga).
*Ân đức thứ ba : PHÁP ấy là Thanh Tịnh Kiến (Sandiṭṭhiko = tam thế giải khổ, thoát ly).
<>“Ân Đức” (ayaṃ guṅa) này có 2 hiệu lực kỳ diệu :
*Một là tạo “TRÍ GIẢI NỘI TÂM” cho chúng sanh, nhất là nhân loại và chư thiên cóChánh Tín (Sammā-saddhā). -Đó là NỘI LỰC tự thoát ly, không chủ quan, không bị bế tắt bởi thấy lầm. Người thấm nhuần ân đức này thường biết đúng vấn đề, dễ dàng vượt qua và hóa giải nhiều khác biệt tư duy, ngay cả đối vớinhững đối tượng cố chấp, bao gồm nhiều “khung bế tắc”, như văn hóa, giai cấp, vùng miền, chủng tộc, quốc độ…hay biên giới. (-Đây là phương diện thứ nhất của Ân Đức Pháp vượt qua xung đột, vô hiệu hóa ảnh hưởng từ vô minh trong cộng nghiệp, để gìn giữ bình an nhân sinh nói chung !).
*Hai là “TƯƠNG THÔNG BA CÕI” (tiloka). “Ân Đức Pháp” này (ayaṃ dhamma guṅa) không giới hạn thấp cao (trời hay người), bao gồm mọi cấp độ tri thức và phước hạnh. -ẤY chính là Tam Tạng Giáo Lý (Tipiṭka Rataṇa Dhammo) do Đức Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni Buddha) lưu lại cho chúng sanh, có thể phân bố để học hiểu như nhau. –Tạng kinh mang lại hướng thiện an vui. –Tạng luật làm nền tảng hòa hợp giữa cõi người và trời. –Tạng Luận là “kích thích tố”, làm phát sinh “mầm trí tuệ” trong chúng sanh tiến hóa, đặt biệt là nhân loại (manussa) và chư thiên (deva). Đó là “chất dinh dưỡng” của “văn hóa soi sáng” ! -Nhờ “ÂN ĐỨC PHÁP” (Dhamma guṇa) mà chúng sanh có chánh kiến trong tam giới được “tương thông”, có thể tùy duyên mà hộ trì lẫn nhau.
<>Bởi hiệu lực tuyệt diệu này (sabhiñña-phala), mà CHÁNH PHÁP (sammā dhammā) trở thành vượt không gian (ākāsā-atikkantā), và phi cảnh giới (bhūmi-atisita). -Chữ “Sandiṭṭhiko” có thể thoát dịch là “pháp cam lộ tươi mát vô biên” (bao gồm ba cõi), đem lại hạnh phúc cho tất cả chúng sanh thượng, trung, hạ, hay trời, người, cùng đọa cảnh ! -Rồi khi diễn tả một cách minh triết, thì “CỐT LÕI” của PHÁP luôn luôn nằm trong Tứ Diệu Đế (catu ariyasaccāni) và Bát Chánh Đạo (atthaṅgika magga) do Phật tổ Thích-ca Mâu-ni lưu tặng thế gian. Đó là những “hướng dẫn thực tiễn” (bhāvetabbaṃ), giúp chúng sanh tiến hóa và trải nghiệm nhiều ân đức vô lượng, thấm nhuần và chan hòa mọi nơi (sabbe-sukhāya sabbe-hitāya) !
*Ân đức thứ tư : PHÁP ấy vốn Phi Thời Gian (Akāliko).
<>“Phi Thời Gian” là 1 thuật ngữ chuyên biệt trong nhà Phật, ám chỉ phẩm cách không bị “qui ước” (quá khứ, hiện tại, tương lai) ấn định hay hạn chế. -Đặc biệt “Phi” ở đây là “Vượt” ! -PHÁP ấy phàm nhân chẳng thể “khái niệm”, tượng trưng, bằng những “diễn tiến” (kāla, samaya) trong vận hành sinh hóa (ngày đêm) của vạn vật. -Nhóm chữ “PHI THỜI GIAN” cũng có thể hiểu là “nằm ngoài thời gian”, không bị thời gian chi phối ! -Khi dựa theo Chú giải (Atthakathā) của “Giáo Lý Thánh Vức” (Visuddhatta sutta), thì “nội dung” ấy vốn được dịch từ chữ Pāḷī “AKᾹḶIKO”.
*Ngoài ra, “Phi Thời Gian” (akāliko), cũng ám chỉ một phẩm tính siêu việt, tạm gọi là “BẤT TUYỆT” (avihā), giữa cặp tâm thức tiến hóa (vuddhigāmī-cittaviññāna), là 1/“thoát ly” => “đắc đạo” (magga udapādi), và 2/“dứt khổ” => “đắc quả” (phala udapādi)…-ngay khi một hành giả vừa hội nhập vào “thánh lưu” (ariya jalasota), kể từ bậc Tu-Đà-Hoàn (Sotāpatti) trở lên. -Như kinh đã nói, “hễ đắc đạo thì đắc quả”, mà chúng ta vẫn thường đọc, và có thể chưa hiểu thấu !
-Đây là một xác nhận minh triết, -một THỌ KÝ “bất thành văn”, bảo đảm sự giải thoát, với đầy đủ thăng hoa nơi thân và nơi tâm, như “các chứng nghiệm cụ thể” trong khoa học lý hóa vậy ! -Thử tượng trưng bằng một hình ảnh trên đời : -Ví như khi 3 rễ chính của cây độc (tham sân si) đã bị chặt lìa, thì cây ấy phải chết, trái độc sau đó sẽ tuyệt diệt, chẳng phát sinh nữa ! “Đắc đạo và Đắc quả không bao giờ rời” (giống cái chết của cây và sự chặt đứt các rễ vậy). -Đây là một “chân pháp” (bhūta dhammā) thuộc về XUẤT THẾ (lokuttara).
<>Cùng một cách như thế, “TAM PHÁP ẤN” cũng chứng minh rằng, “hiệu quả của vô thường (aniccā) là khổ não (dukkhā), rồi kết cục của khổ não là vô ngã (anattā)”. -DO vô thường với 4 hiện tượng sinh lão bệnh tử, mà chắc chắn phát sinh khổ não. -Rồi vì khổ não (xung đột) trong sinh lão bệnh tử, triệt tiêu sự hiện hữu tạm thời…mà dần dần phơi bày ra THỰC TRẠNG HOÀN KHÔNG (hay vô ngã). -Đây là cái nội dung bất khả phủ nhận của MINH TRIẾT trong Đạo Phật. Và sâu xa hơn nữa…rằng “khi có cái này thì phải có cái kia”, hay ngược lại, “khi không có cái này thì chẳng có cái kia”. -Nhưng vì SI MÊ (moha), CỐ CHẤP (upādāna) trong kiếp sống mang thân ô-trược (tứ đại = cát bụi), mà chúng sanh nói chung, và loài người nói riêng, hằng không dễ thấy SỰ THẬT (sacca) ! -“Ân Đức Pháp” (Akāliko) ấy không bị ràng buộc bởi thời gian và không gian ! Và đối với một Bậc TOÀN XẢ thì nó là “chân pháp” (bhūta-dhammā) !
<>Theo Vi Diệu Tạng, “hành uẩn” (saṅkhārā khandha) vốn là “trung tính”, và thuộc về “vận chuyển” (kicca). Hiệu lực của nó là một thứ “tương tác hướng động”. -Khi nó bị tham sân si ưu thế thúc đẩy sẽ “mang lại” kết quả THĂNG hay ĐỌA cho toàn bộ ngũ uẩn. -Từ đó, hành uẩn lập thành con người thiện lẫn ác ! -Chính NÓ (=hành uẩn) vẫn là “khởi nguyên” của không gian và thời gian (tức danh và sắc), nên khi hành uẩn bị THIỀN PHÁP “hóa giải” thì trở thành “vô thời gian lẫn vô không gian”. -Đó là pháp trạng tất nhiên (=phala), nằm ngoài tâm lý phàm tình (puthujjana-vimutti) !
-Nghĩa là khi THANH TỊNH, giải động “với đạo quả thăng hoa” (= thoát khổ), thời gian và không gian tất nhiên trờ thành “KHÔNG”, chẳng đóng khung được bất cứ cái gì cả ! -Xem ra, tất cả chúng sanh trong “bộ máy luân hồi”, nhất là con người…từ vô thủy, đã vì THAM SÂN SI mà tự cảm thấy “thời gian và không gian…là 2 hạn chế” một cách si mê, vô định mà thôi !
*ĐẠO (magga) và QUẢ (phala) trong nhà Phật là những “cặp không rời” hay “chân pháp song song liên tiến”, vốn tính tương tác…-chẳng khác nào sự trình bày cái “trục quay” của một tờ giấy ! -Khi nó được xoay trong bất cứ chiều nào (đứng, ngang hay nghiêng), người ta vẫn thấy có 2 mặt “A” và “B” hay “B” và “A” hoán vị nhau…không bao giờ có thể khác. -Hễ bên này hiện ra trước thì bên bên kia hiện ra sau, một cách chắc chắn…rồi ngược lại ! -Và “tính đồng vị” của chúng là bản chất muôn đời, không có ngoại lệ !
*Trong cuộc sống (vô minh) nhiều xung đột, lắm dằn vật…thì “trí thức” (phàm nhân) nào cũng đề cao lý thuyết, “muốn giảm khổ và an nhiên giải thoát thì phải vô ngã”, -tức thể hiện “tâm hằng không”, hay“xem TA chẳng LÀ gì cả”. –Nhưng khi vào thực tế, “muốn trở thành vô ngã”, để “duy trì tâm không” hay xem “TA chẳng LÀ gì cả”,thì phải thực hành một sốthiện pháp đầy ân đức mới đạt tới cảnh giới ấy. -Chứ tư duy và biện luận suông thì hoàn toàn vô ích, -chỉ là không tưởng ! -Kinh Phật đã nói rõ “vô ngã vốn là kết quả”, còn “áp dụng cách tu hữu hiệu”nào để đạt tâm cảnh vô ngã, hóa thành “TÁNH KHÔNG” ấy mới chính là“nguyên nhân”. -Vì không gieo nhân bằng hành động (thân, miệng, ý lành mạnh) thì muôn đời không có quả ! -Ngay cả “TAM PHÁP ẤN” (gồm vô thường, khổ não, và vô ngã), nếu không thông qua 3 công phu GIỚI ĐỊNH TUỆ thì vẫn chẳng có gì đáng nói ! -Xin nhấn mạnh “Ân đức của Pháp Bảo nằm trongcông phu hành thiện, chứ không nằm trong…nghe nhiều biết rộng và giảo biện !”.
*Trước tiên hãy nói về “ĐẮC PHÁP VÔ THƯỜNG” (aniccā dhammā), tức đạt “tri kiến hành giả”đã xác định danh sắc, hay nội tình thân tâm chính mình,LÀ sinh diệt không ngừng”, chứ chẳng phải chỉ “quan niệm suông” dựa theo các hiện tượng nhìn thấy được ! –Màmuốn xác định vô thường thì phải viên tròn giới hạnh (sīla pāramī) và “tự tại trong thiền”, thanh tịnh thấy rõ NÓ biến đổi…từ mỗi mạch sống thực tại (do niệm thân và niệm thọ), -chứ không dựa trên hý sự do so sánh luận bàn, kiểu trí thức phàm phu ! -Vì những nét thay đổi vạn hữu bên ngoài qua 4 mùa (xuân hạ thu đông), hay hình thức củasinh lão bệnh tử nơi sinh động vật, làm biến dạng mọi vẻ xuyên qua thời gian, trong hoàn cảnh vật chất…v…v…thì với đôi mắt trần tục ai cũng “có thể nhìn thấy” để triết luận, -cần chi phải học đúng và tu đúng theo Phật ?!
-Khi “lý thuyết thoát tục” có nội dung đề cao “vô ngã”, là “tâm không”, hay “TA chẳng LÀ cái gì hết”, được vô tư dùng để diễn tả phẩm cách chư thánh nhân…thì tất nhiên không sai, nhưng nếu dùng lý thuyết ấy để “đồng hóa” cái hiểu biết suông của phàm phu (dù là “mọt sách” (“quảng kiến”) đến đâu) cũng sẽ trở thành ngụy biện, lầm lạc, tai hại, đầy ngã mạng…một thứ lười biếng nhưng tham vọng…nhằm “biện luận” (hay lý thuyết hung hồn) tự xếp “hạng cao” cho mình trong cộng đồng tín đồ..thì bản chất rất bất thiện ! -Hiện tượng này luôn luôn gây hoang mang cho những ai tôn trọng công phu hành đạo, và đang nương nhờ Đạo Phật !
<>Nói tóm lại, phẩm hạnh GIẢI THOÁT là kết quả của tri hành hợp nhất, chứ không phải của biện luận sắc bén, dựa trên “tính hợp lý” trong tư duy ! Người nghiêm chỉnh phải thường xuyên coi chừng cạm bẩy của lý thuyết ! -Nhất là khi nó được người ta dùng để gián tiếp hay trực tiếp phê phán những ai kiên nhẫn sưu tầm kinh điển (gần với nguồn Phật ngôn nhất)để THỰC HÀNH…rồi kết luận đối tượng là lệch lạc, xem người chân tu là “cố chấp” hay “bị nô lệ” bởi niềm tin vào ba-la-mật (pāramī saddhā). -Tật phủ nhận công phu chân chánh ấy chính là biểu lộ của một loại tà kiến (miccha diṭṭhi), gọi là tự kỷ đề cao(=sở tri chướng), cố ý lung lạc nguyện lực trong các thiện nhân tìm kiếm con đường giác ngộ…bằng TỰ LỰC !
-Chưa kể người ta còn khôn khéo loang truyền cái “luận thuyết độc hại”, xuyên qua những câu “văn chương bóng bẩy”…như “chân lý hay cứu cánh tâm linh không bao giờ thật có trên thế gian này” (!) -Viện lẽ “tất cả đều hằng biến, hay vô thường, phù du”. (!?)
-Phải chăng những “bộ óc” lười biếng, ngồi không phản đối công phu, chủ trương “không gieo trồng mà được gặt hái” ấy, đã quên rằng…“nhờ hằng biến (hay vô thường)mà“sự tiến hóa hay thoái hóa mới có thể hiện hữu, phát triển”. -Trong thực tế, họ cố ý khai thác ý nghĩa của 2 chữ “không thật” (=tánh không) để “chơi chữ” theo tu từ học, nhằm phủ nhận công phu chân chánh (tu tập thân khẩu ý), đồng thời ngụy biện, xuyên tạc…phê phán sự tôn trọng pháp hành (=tự lực) là “bảo thủ” ?!
-Hãy ghi nhớ rằng, nơi nào có Bát-nhã (Prajña), có khoa học tâm linh (maṇa vijjā)…thì ở đó có PHÁP BẢO…cảnh báo rằng «văn chương đạo đức giả và lý thuyết ru ngủ quần chúng bằng biện luận đa chiều, nghịch nghĩa, mâu thuẫn» luôn luôn là bế tắc !. -Những “triết lý” vòng vo lẩn quẩn ấy xưa nay vốn chỉ để sơn phết mầm bệnh hoạn tinh thần và thể xác, làm cho người đời trở thành lầm lạc, loạn kiến, rồi an phận…để cho cường bạo dễ dàng thao túng, cai trị tinh thần lẫn thể xác ! -Và đối với Việt-nam “đế quốc đạo tặc văn hóa” (phương bắc) rất lo sợ tinh thần “nổ lực rồi cậy trông” này, của những “Việt tử” nào tin vào ánh sáng giác ngộ của Phật Thích-ca (Sakya-Muni Buddha) !
-Quay lại vấn đề “xác định VÔ THƯỜNG từ nội cảnh”, do NIỆM THÂN (kāya anupassanā) và NIỆM THỌ (vedanā aunpassanā) trong kinh Tứ Niệm Xứ (Catu satipaṭṭhāna sutta), thuộc “Phật giáo Nguyên chất”. -Đây là một tiến trình hành động (=tu tập thực tế), chứ không phải là một “luận thuyết” nêu ra bằng lời giảng hay văn bản trên trang giấy, nhắm vào khuyến khích “suy luận” nơi tư tưởng phàm tình…để “ấn định vô thường”.
-Cũng không nên xảo biện rằng “vô thường là một từ ngữ qui ước do tư tưởng con người đặt ra, chúng ta chỉ cần khai thác nó trong tư duy, quan niệm là đủ” (!?). -Tất nhiên, cái gì được “chế định” hay “qui ước” thì “không nên chấp”. -Nhưng Vi Diệu Pháp (abhidhamma) trong nhà Phật cũng nhấn mạnh nhiều lần “tính mập mờ” (do vô minh gây ra) rằng, “người thích chơi chữ là kẻ phù phiếm, tối tăm coi thường định hướng lành mạnh”. Họ càng vướng mắc trong “văn tự bóng bẩy” càng mất phí thì giờ, và chẳng bao giờ nắm bắt được chân pháp trong chiều sâu, cũng như không bao giờ thoát ra lủng củng !
<>Lý do bị “lủng củng”, vì “ngôn ngữ chế định” vốn chỉ là “tạm thời”, nhưng ảnh hưởng của tà kiến (micchā diṭṭhi) và lòng tham (lobha), đã làm cho phàm nhân tưởng tượng là “vĩnh viễn” (sassata). Thử xét câu chuyện, người đầu tiên chế ra một vật để “vẽ ra hình dạng một vật” và đặt cho nó cái tên là “cây bút”, nên ngày nay ai cũng nói “viết cái bàn bằng cây bút”. Và một cách khác, nếu kẻ sáng chế vật ấy đã gọi nó là “cái ly”, thì ngày nay ai cũng tưởng vẽ cái bàn hay viết chữ“bằng cái ly”. -Như vậy, “cây bút” hay “cái ly” chỉ là “phương tiện” để phân biệt trong đời sống. Cả 2 chỉ “tạm đúng” trong cùng một ngôn ngữ, cùng một dân tộc, cùng một địa phương…chứ bước sang một quốc độ khác, thì cách nói không còn như thế nữa !
-Hai lãnh vực “chân đế” (paramattha) và “tục đế”(paññatti) trong “Tính Giác Ngộ” thuộc Phật học cũng vậy, phàm phu rất khó phân biệt ! -Đọc Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) chúng ta thấy “niết-bàn” là “chân đế” nhưng nếu có người muốn “chơi chữ”, lại “phản biện” rằng… “bất cứ từ ngữ nào cũng do con người chế ra”, thì 2 chữ “niết-bàn” vẫn thế thôi ! -Tức là “tục đế”…làm sao chúng ta có thể chắc chắn nó là “chân đế”, như 1 số người vướng chặt từ ngữ tin tưởng !?
-Rồi tranh luận kéo dài, bên nào cũng “triết học đầy mình”…vừa «cố chấp» vừa «phá chấp» ! -Mỗi bên lý thuyết theo tư duy riêng, do “TƯỞNG UẨN” (saññā-khandha), hay “tập khí ghi nhớ và phân biệt” làm nền tảng…để luôn luôn lún sâu vào “xác nhận nằm trong phủ nhận” và “phủ nhận nằm trong xác nhận” một cách rối bời !
<>Nhưng HIỆU LỰC (vipāka) của «pháp thiền» (bhāvanā) hay của công phu (āyāsassa) gọi là “ba-la-mật” (pāramitā), thì hoàn toàn khác. ĐÓ là “hoa trái nở ra” (puppa-phala) do TỊNH XẢ trong “thọ cảm” (còn gọi là “thanh tịnh chứng” (visuddhi vedanā) qua thân (kāyena-pi) cũng như qua tâm (cittena-pi) của hành giả nào đã thuần thục. -Tất nhiên chỉ có hành giả ấy biết thôi, không thể phổ biến một cách truyền tin như qui ước thế gian được !
*Sự CHỨNG ĐẮC tức “thấy rõ” TÍNH VÔ THƯỜNG (aniccā lakkhaṇa), -hay «mắt tâm chứng kiến được» tiến trình sinh trưởng=>tàn úa=>hoại diệt…của mỗi tế bào(kuṭi=cellule) trong nội thân, gồm hiện ra, tồn tại, rồi tan rã qua từng sát-na, thuộc sắc uẩn, thọ uẩn, và tưởng uẩn…là kết quả (vipāka) của công phu tu thiền, chứ không phải là “qui nạp” của khái niệm do “tâm phiêu lưu bất tịnh” (=bạc nhược) hay “ý thức trống không” (=tiêu cực, lang thang), được “đồng hóa” một cách nâng cấp rồi tự phong là “tỉnh thức” ! -Ấy vốn là ảo luận của TƯỞNG UẨN (saññā-khandha), thường xuyên vọng động…giữa một môi trường loạn thị, gọi là nội giới và ngoài cảnh, với bản chất mê muội, tương đương với lười biếng, vô minh, ngã mạng…để che mờ thức uẩn !
*Và một khi đã CHỨNG ĐẮC rằng, thâm tâm này biến hoại không ngừng (vô thường = aniccā) dẫn tới HOÀN KHÔNG (vô ngã = anattā)…thì hành giả mới dứt khoát buông bỏ (anupādāna), không si mê ôm cứng nó !
-Nhưng thực tại trước mắt, là “hỗn hợp ngũ uẩn đang sống” phải sinh hoạt, có hành động tạo nghiệp…thì đó là “tiền hành” của quả báo THIỆN hay ÁC, mà mỗi cá nhân chắc chắn phải gặt hái, hay chịu trách nhiệm…nên người tin Phật cần dựa trên công phu tu tập, để “giải nghiệp”…tránh sa đọa, được tiến hóa, …-như một QUI LUẬT Bát-nhã tự nhiên, chứ không phải “giáo điều” !
*Ai chưa là thánh nhân (ariya puggala), mà dùng “lý luận cao siêu thoát tục” để giảng thuyết, và hạ thấp hay phủ nhận công phu tu tập (pāramī=ba-la-mật), gồm giới định tuệ (sīla-amādhi-paññā)…là kẻ tối tăm ngã mạn, tự tôn một cách thoái hóa, -nếu không muốn nói là vô minh tự hại bản thân, mà cực đoan, lười biếng, tưởng mình xứng đáng là “kẻ học Phật” hay “thiện trí thức” !
-Chưa kể sự NẶNG VỀ tu tập (=cải thiện ngũ uẩn => thanh tịnh thân tâm) còn đòi hỏi «phạm hạnh phải viên tròn» (brahmacariyā pāramī = ba-la-mật) đầy đủ năng lực thăng hoa…thì khi ấy TÂM THỨC (upekkhā cittaviññāna) mới “quán triệt” (abhibhavati) nội ngoại cảnh vô thường, “đắc được pháp XẢ” (upekkhā) có thể chặt dần 10 sợi dây kiết sử (saṃyojanāni), đang cột chặt một sinh linh vô minh vào “bánh xe sinh tử luân hồi” (saṃsāra-cakka). -Và sự đắc chứng VÔ THƯỜNG (aniccā) trong thân tâm phàm phu ở đây, chỉ là “bước sơ khởi”, làm “đòn bẩy” tiến ra khỏi DỤC GIỚI (kāmaloka), -nơi hằng chịu khổ vì xung đột nội tại của TỨ ĐẠI thô cũng như tế, do tham sân si kích thích mà thôi ! -Nghĩa là thân tâm phàm phu (của cả 2 dạng tu sĩ và cư sĩ), dù cho “học rộng” đến đâu…thì “kiến thức” ấy cũng không thể là điều kiện nòng cốt, để bảo đảm về sau trở thành thánh nhân ! -Ngược lại, không khéo chính cái “kiến thức học rộng” đó sẽ là căn bệnh sở tri chướng, hằng dẫn đến lạc lối luân hồi, sa đọa !
<>Điều cần nhấn mạnh ở đây là tình trạng sinh lão bệnh tử NỘI THÂN (-tức VẬN HÀNH thuộc NGŨ UẨN, hay -trong HỖN HỢP tinh thần và thể xác), mà một người hành đạo có chánh kiến, đã “thấm nhuần” qua trải nghiệm TU TẬP một cách đầy đủ…-được gọi là viên tròn ba-la-mật, bao gồm đại hạnh TOÀN XẢ (paramattha pāramī => sabba-upekkhā), vốn chính là một “kết tinh giải khổ tự nhiên” -chứ không phải là “hiện tượng thành công”, đối với các đầu óc chỉ thuộc lòng những “ngụ ngôn siêu xuất” giả nghĩa thoát tục !!!
*Ân đức thứ năm : PHÁP ấy là Đến Để Thấy (Ehipassiko), hay hễ tiếp xúc, hành trì thì…biết (-vượt lên trên suy luận, biện giải)!
<>Chữ «Ehipassiko» cũng có thể thoát dịch là «Thiện lai hiển thị». Nghĩa là Ân Đức Pháp này (ayaṃ dhamma guṇo) xác nhận rằng, người hội đủ 2 hạnh kiểm là «giữ giới và định tâm, thì tự nhiên thấy rõ thiện quảcủa công phu tu tập, -chẳng nghi ngờ, –không cần ai giải thích, chứng minh, hay phải được thuyết phục».
*Còn “ý nghĩa” trong từ điển Pāḷī của “Ehipassiko” là “hãy đến gần Phật để thấy Ngài sống đúng bát chánh đạo». -Điểm này cũng giúp chúng ta tự nhiên hiểu ra «PHÁP THÀNH» (pativedha dhammā) trong nhà Phật (Budhhasāsanassa) ám chỉ phẩm cách gì. Đó là «làm đầy đủ những thiện hạnh nào mình nói», gồm ĐANG THÀNH hay SẼ THÀNH (=>giải thoátt sa đọa !), -chứ không phải là “ngôn ngữ tấn phong” của tư duy phàm phu còn tham vọng, luôn luôn đề cao kết quả hữu lậu…-như “đắc đến»” cảnh giới gì hay bậc thánh nào…một cách quảng cảo công bố…lý thuyết !
-Khi hiểu và biết như vậy thì “3 thuật ngữ chuyên biệt” trong nhà Phật, là “pháp học” (pariyatta dhamma), “pháp hành” (satipatti dhamma), và “pháp thành” (pativedha dhammā) sẽ tự động được “thông suốt trong tâm tư của người tu Phật”. -Câu hỏi “làm sao nhận ra Thánh nhân hay phàm phu” cũng tất nhiên tự chấm dứt !
*Xin nhắc lại, “ai làm được các thiện pháp mà họ nêu ra, là họ đangvà sẽ thành tựu cứu cánh, bậc ấy sắp tiến vào đạo bất tử” (amataṃ magga) ! -Sự giải thoát niết-bàn (nibbāna) hoàn toàn CHẲNG tùy thuộc vào chuyện “có được các triết luận thế gian nhìn nhận, theo qui ước, chế định phàm phu hay không” !
<>Chúng ta vì không đủ khả năng thanh tịnh, nhận ra CHÂN THÁNH (Bhūtāriya-puggala) để noi gương, nên phải luôn luôn nhớ đến những ân đức pháp “Ehipassiko” (dhamma-guṇa) nơi Bậc Giải Thoát (Bhagavā), để tạo duyên gần gũi, và bình tĩnh…quan sát tướng trạng PHẠM HẠNH (Brahma-cariya) của các Ngài, là tri hành hợp nhất (lời nói đi đôi với việc làm), hầu lấy “thông minh bẩm sinh” (đã được thiền pháp bồi bổ) mà xác thực đối tượng ! -Còn những “học giả”, do…có lẽ “thuộc lòng” sách Phật, nhớ nhiều câu mô tả sự cao siêu thoát tục…rồi vội vàng qui nạp rằng “thánh nhân luôn luôn có những nét này, lẫn những nét kia…v…v…” để tưởng là “mình đã có con mắt liễu đạo” (=”giống” các Ngài ?!) thì…không khéo sẽ vì chủ quan mà lầm lạc, tin theo một số tà tư duy, pháp lý giả mạo !
<>Ngoài ra, kinh điển cũng tiết lộ rằng, thời Phật còn tại thế, có một ít cư sĩ (-cực hiếm !) nhờ ẩn mình tinh tấn tu hành (tận diệt tham sân si) mà đắc các thánh quả, trong đó có “A-la-hán” (Arahatta-phala), rồi biến thành “Viên Hạnh Đạo Nhân” (Visuddhimagga Puggalo). -Và khi những “Tịnh nhân cư sĩ” ấy đến ra mắt Phật, Thế tôn biết rõ căn cơ…liền thốt “Ehi-bhikkhu” (tạm dịch “Thiện lại tỳ kheo”), thì lập tức ngoại hình của họ “biến thành sa-môn”. -Hiện tượng này tuy khó hiểu…! -Nhưng đa số chúng ta vẫn tin rằng, “Tướng tự Tâm sinh” mà ! -Tất nhiên “hễ Tâm LÀ thánh, thì Thân LÀ thánh”…chẳng gì lạ cả ! -Trong khoa học và ngôn ngữ Phương Tây cũng có tiếng “métamorphoser” (Pāḷī : “rūpantaraparivattana”), -nghĩa là “hóa thân thanh cao” (uttama) hay “hóa thân thấp hèn” (hīna) vậy !
-Theo thời sự văn minh, một nhân vật có nhiều tài đức, được đa số dân chúng ưu ái, kính phục, và tự nguyện chọn đối tượng làm Tổng Thống. Sau khi kết quả bầu cử được vô tư công bố, công dân đắc cử ấy “tự nhiên hóa thân” thành “Vị Nguyên Thủ Quốc Gia”…là điều không có gì “hoang đường” cả ! -Đó là “Ân đức của HIẾN PHÁP” (dhamma guṇa), thăng hoa dân sinh, do năng lượng tinh anh của bao nhiêu thiện trí thức của một dân tộc viết ra ! -Theo “Thanh Tịnh Đạo” (Visuddhi-magga) thuộc nhà Phật, bộ máy tuyên truyền chánh trị, dù giỏi đánh bóng “lãnh tụ” đến đâu…cũng chỉ gạt được 1 hay 2 giác quan (như mắt, tai) của thường dân, nhưng nó khó đánh lừa được tất cả giác quan trong một con người, nhất là “giác quan thứ sáu”, bắt nguồn từ “sự thông minh bẩm sinh” đã được phát triển một cách hướng thiện ! -Và nếu là đạo đức giả thì cái mặt-nạ trước sau gì cũng bộc lộ, để cho quần chúng biết rõ họ đã LẦM ! Dó là một dạng “Ân Đức Pháp Bảo thứ 5” (pañcama guṇa) vậy !
*Ân đức thứ sáu : PHÁP ấy là “Nội Lực Tiến Hóa” (Opanayiko).
-“Nội lực đẩy tới tiến hóa” ở đây, ám chỉ “ÂN ĐỨC của công phu ba-la-mật, hay của hành đạo thoát ly đúng cách, để diệt tận tham sân si”, bằng THÂN (kāyena) và bằng TÂM (cittena). -Ấy là thành tựu thực tiễn (niyata udapādi), chứ không phải chỉ trên mặt lý thuyết, do thông minh phàm phu (puthujjana ñāna) suy luận ra… một cách tham lam, tưởng tượng ! -Chữ Pāḷī “Opanayiko” có “nghĩa đen” trong đạo Phật, là “sự dẫn đường không lầm lạc”, với “cây đuốc bát-nhã trắng tinh” (không màu). -Đó là ánh sáng thuần khiết đối với đêm dày, có thể làm cho người ta thấy vạn vật đúng thực trạng của nó, hoàn toàn biểu lộ bản sắc…-xanh ra xanh, -trắng ra trắng, -vàng ra vàng, -đen ra đen…-NHƯ THỊ PHÁP (Tathāgata dhammā) !
-Theo Phật học, tất cả các nhà sáng lập tôn giáo trên thế giới, đều có thể ví như “những người cầm đuốc, đáp ứng được một số nhu cầu tinh thần của con người…nhưng đó là những cây đuốc có màu sắc khác nhau, một cách nhất định” (-hay chủ quan trong một niềm tin bất khả suy luận !). -Do đó, thế gian có câu nói chung chung, “tôn giáo nào cũng đề cao đạo đức”, phải luôn luôn khuyên nhân sinh ăn hiền ở lành”, nhưng không ra ngoài giáo lý của vị sáng lập. Và trong cái “khung” (giáo điều) ấy, tín đồ của họ bị cấm tin vào một giáo lý nào khác, hay xem là “linh thiêng”…-nghĩa là chỉ có tín ngưỡng bản giáo mới là trên hết (tuyệt đối) !
*Trái lại, “GIÁO PHÁP” (dhamma) của Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya-muni Sammā-Sambhuddha) là “giải ngu”, là luôn luôn cởi mở (thông thoáng), khuyến khích những ai nghe pháp, hãy khách quan, vô tư, bình tĩnh…-chỉ tin vào SỰ THẬT (ariya sacca) do CHÁNH KIẾN và CHÁNH TƯ DUY nơi chính mình (attano kamma-vipāka sammādiṭṭhi), nhất là phải xuyên qua áp dụng (=thực nghiệm), không nên đóng khung tinh thần trong một “giáo thuyết độc tôn” nào cả, -dù cho nó đang được mệnh danh là “hoàn toàn nhất” !
-Mặt khác, “chiều sâu ÂN ĐỨC opanayiko” cũng có thể xem như NỘI LỰC thanh tịnh (ajjhatta visuddhi bala), do công phu định tâm vô lậu (anāsava-ekaggatā-samādhi) và do thiền quả…sáng suốt thoát ly một cách buông bỏ danh sắc (paramattha upekkhā pāramī). -Vì chỉ có “toàn xả”, mới không bị tật cố chấp (upādāna-bādhā) làm lạc hướng…khiến cho “lực đẩy tới” trở thành lệch xa mục tiêu, nhằm sau cùng thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi (saṃsāra) !
-Đến đây, chúng ta chợt thấy rằng, chỉ có tự tại thực hành TOÀN XẢ một cách thanh tịnh (=im lặng), mới là “chìa khóa”, mở nổi xiềng xích, “thoát ra sinh tử luân hồi”. -Còn các “tư tưởng” nhập tâm thuần túy trên lý thuyết, như “vô ngã”, “phá chấp”, “sống với tánh không”, hay “để tâm tự nhiên” (như «nó đang là»)…v…v…đều vẫn nằm trong “nhị biên đối đãi” (du-paccaya = duality), -một dạng “đọa tật cố hữu” (upādān’āsava) rất tinh vi, rất khó nhận diện…-vốn luôn luôn đổi chiều trong tư duy lẩn quẩn : “-Vô ngã thì nghịch lại với hữu ngã”. “-Phá chấp thì nghịch lại với cố chấp”. “-Sống với tánh không thì nghịch lại với sống với tánh có”. “-Để tâm như nhiên thì nghịch lại với giữ tâm trong biệt cảnh nào đó”…! -Tất cả luôn luôn “phản chiếu qua lại”, suy ra phía nào cũng có mặt “tích cực” lẫn “tiêu cực”…và đều không tránh khỏi gọng kềm song đối của lý thuyết. Từ đó, những “lập ý” hay “triết lý” ấy…bám chặt trong tư tưởng của trí thức phàm phu…thì làm sao có thể THOÁT TỤC ?!
*Ân đức thứ bảy : PHÁP ấy là biểu lộ của Thực Nghiệm (Paccattaṃ veditabbo viññūhi), hay “Hiện Thân” do “TINH THẦN THANH TỊNH” (visuddhi-maṅo) tác dụng nơi “THỂ XÁC GIỚI HẠNH” (kāya-brahmacariyā)…tạo ra hiệu ứng của năng lượng (energy) vận hành trong vật chất (matter). -Còn nói về “sự tương đương”, thì ví như nếu thế gian có “Bách Khoa Tự Điển” (Encyclopedic), chuyên chở cái ý nghĩ hạn chế trong tri kiến hữu tình, thì Đạo Phật có “Giác Tính Bát-Nhã” (Bodhi prajña), hằng soi sáng, thông thoáng vượt qua tất cả ngăn ngại THÔ (olārika) cũng như TẾ (sukhuma).
-Nghĩa là, “Tu Từ Học” (alankārasattha=rhetoric) trong “Bách Khoa Từ Điển”, khi được xem tương đương với “thiện ngôn” (kusalavāda) trong Vi Diệu Tạng (abhidhamma piṭaka) của nhà Phật…thì chữ “PHÁP” (dhamma) có thể ám chỉ tất cả những “tư thức tiến hóa” (=sáng tạo) của chúng sanh, nhất là con người, -chẳng hạn như PHÁP (dhammā) là hàm ý của 3 nhóm chữ “đã biết”, “chưa biết”, hay “không biết”. -Nó bao gồm mọi lãnh vực, kể cả NHỮNG GÌ đã nêu trên (gồm danh, sắc, tứ đại, siêu việt, nguyên tố, thô, tế, tử, sinh, thăng, đọa, chân đế, tục đế, vật chất, tinh thần, năng lượng, cõi giới, luân hồi, giải thoát, xả, chấp…v…v…).
-Hãy nêu lại, khi «PHÁP» (dhamma) là TẤT CẢ thì hằng chứa :
*Danh và Sắc (nāma/rūpa), *Hữu và Vô (atthi/natthi), *Cụ thể và Trừu tượng (diṭṭhigocara/adissamāṇa), *Thăng và Đọa (pariṇāma/hāyanagatika), *Thô và Tế (olārika/sukhuma), *Chân đế và Tục đế (paramattha/paññatti sacca), *Khinh và Trọng (lahu/garu), *Hiệp thế và Xuất thế (lokiya/lokuttra), *Cõi thấp và Cõi cao (adhama/uttama bhūmi), *Thanh khiết và Ô-trược (suddha/asuddha), *Luân hồi và Giải thoát (saṃsāra/nibbāna), -Toàn Xả và Cố Chấp (upekkhā/upādāna)…v…v…!
<>Từ đó, người học Phật sẽ tìm ra những “Qui Củ Minh Triết” (=thước đo đường thẳng và chiều cong) hằng biến dịch…để nghiệm chứng được “từ đâu bậc đại hạnh khám phá ra pháp tu hóa giải tham sân si, phá chấp và diệt nghi…”, trước khi tiến tới cứu cánh giác ngộ một cách tuần tự, chánh kiến. -CỨU CÁNH ấy là hết thắc mắc về nguồn gốc của vũ trụ. -Nghĩa là, tất cả “thông số khoa học” (paramètre scientifique) vốn đã có ngay từ đầu, dành cho những “bộ óc tiến hóa siêu đẳng”, tạm gọi là “công thức lập kiếp” (lokakappa-saṅkhārā), -nói theo “Tu Từ Học Tinh Tế” (subtile rhetoric), một ngôn ngữ tâm linh chánh giác trong văn minh giải khổ !
<>Như đã giới thiệu qua, “nguyên thủy của vô sắc pháp” hay “phi vật chất” (amita-mūla) vốn bất khảthuyết, bất khả tư nghì, đối với phàm nhân. Vì NÓ cực kỳ “không chuẩn”, “mênh mông”, “phiêu lưu”…nên vận hành tự nhiên của nó…đã tạo ra cả “bất thăng bằng” và “đối xứng”…để tìm ổn định…trong “tình trạng hỗn mang nguyên thủy”. Từ đó…PHÁP (dhammā) tất nhiên phát sinh “tình trạng nhất nguyên” với “4 cặp giao thoa nhị biên” (gồm cứng/mềm, kết/phân, phù/trầm, động/tĩnh, và biểu lộ ra 4 hiện thân qui ước, gồm đất, nước, lửa, khí) tạm gọi là, -nguồn gốc PHÁP HÀNH (saṅkhārā dhamma hetu) của “tứ đại nguyên tố” (catu mahādhātu-dhammā).
-Đến đây, Pháp (dhamma) hay «Tất Cả» (sabba) vẫn là «chân tố vĩnh hằng» (tathābhūta dhammā), luôn luôn «hầu hết như thế», không biến dịch, hay chưa bị sự vô thường (aniccā) chi phối ! -Rồi «TỨ ĐẠI SIÊU VIỆT» (Catu mahābhūtāni) ấy, duyên theo tương tác bất kỳ của chính nó, tạo ra «năng lực linh động», vận hành và “ngẫu nhiên triển khai” (saṅkhārā) hướng đến “tính tự cấu kết”, có “HIỆN THÂN TINH VI” (abhirūpa), trở thành tứ đại nguyên tố THÔ lẫn TẾ (catu mahādhātu olārikapi sukhumapi).
-Tức là…từ “tình trạng hằng không” (suññatā) tiến dần đến “tình trạng hằng có” (bhava), và “lập trình thường xuyên thay đổi” (aniccā saṅkhārā). Nói cách khác, ấy là “PHÁP” (dhamma) chuyển từ VÔ HẠN (=asīmita), đến HỮU HẠN (sīmāta), rồi tạo ra “tương tác”“phản chiếu”, “nhận dạng” hay “biết đối tượng” (viññāna)…nằm hẳn trong biến dịch (rūpantaraparivattana) của một hoặc nhiều chiều NHÂN+DUYÊN=QUẢ xoay vần ! -Đồng thời, sự “BIẾN DỊCH” ấy “tự hiện thân ra” cái gọi là “ĐA VŨ TRỤ” (lokā = universe), vừa “CỰC TIỂU” (aputhulapi) thu hẹp, vừa “CỰC ĐẠI” (atimahantapi) mênh mông, với “CẶP VẬT LIỆU NGUYÊN SƠ”(gồm tĩnh và động), mệnh danh là «tứ đại nguyên tố» (catu mahādhātu)…-từ đó “khởi nguồn các kiếp” (kappā), hay NHỮNG VÒNG «luân hồi nguyên thủy» (āvaṭṭa saṃsāra).
<>Sự luân hồi này chi phối tất cả, -và hiện thân xoay vần của nó là sinh lão bệnh tử…đối với mọi sinh động vật ! -Thoạt đầu của «CHÚNG» chỉ là «những tập khí đa dạng» (vividha-khandhā), trong đó có các CẤU KẾT gồm SẮC THÔ và SẮC TẾ. *«Sắc thô» (olāriaka-rūpa) vận hành trong sinh hoạt thấp thỏi dục giới (kāmasattā-saṅkhārā), với thân thể vật chất vọng động (taṅhā), ô-trược)…phải chịu biến đổi, mục nát (=sinh, lão, bệnh tử = thành-trụ-hoại-không). *«Sắc tế» ám chỉ «chúng sanh tinh vi», tương đương với “tiểu” hay “đại” năng lượng…có ánh sáng (obhāso sattā), và sau này “hóa thành” cái gì đó…nhờ “bụi ánh sáng” (raṃsī).
-Phật học cũng tiết lộ rằng, vì SẮC THÔ (=thân) và SẮC TẾ (=tâm) luôn luôn bị HẠN CHẾ qua THỜI GIAN (kāla=time) lẫn KHÔNG GIAN (ākāsa=space), nên Bậc Giác Ngộ gọi “ấy” là “duyên khởi tử sinh”(paṭicca samuppāda saṃsāra), do chúng bị kềm chế bởi cả hai chiều THĂNG và ĐỌA. -Chưa kể “2 tự tính”NẶNG (garu) và NHẸ (lahu)…của SẮC THÔ (olārika rūpa) và SẮC TẾ (sukhumā rūpa) lại là “cặp chân tướng” của trọng lực và năng lượng.
<>Rồi tính hút và sức đẩy của những gì hữu khối (=>cực nhỏ đối với cực lớn), có hình dạng…cũng do đó mà phát sinh, nên “chân đế” vẫn đến từ “tục đế”, hay “tục đế” vốn có nguồn gốc từ “chân đế”. Đó là…sự thật muôn đời (nicca sacca) !
-Thí dụ, trong Vi Diệu Pháp (abhidhammā), “niết-bàn”(nibbāna) là “CHÂN ĐẾ” (paramattha), nhưng “2 chữ niết-bàn” vốn cũng do ngôn ngữ trí thức phàm phu chế định ! -Như vậy, “danh từ niết-bàn” tuy được xem là “chân đế” trong “cái biết” của Thánh nhân, nhưng nó vẫn là “tục đế” trong tư tưởng thường tình. -Xin đừng phàn nàn “Phật học sao rắc rối thế !”. -Xin góp ý rằng, không chỉ nhà Phật, mà ngay cả trong kinh điển các tôn giáo tín ngưỡng khác, những “mật nghĩa” cũng luôn luôn như thế ! -Nghĩa là theo Phật học, “PHÁP” (dhammā) giữa thế gian vốn tùy trường hợp, hay tùy trình độ tâm linh ! -Kể cả môn “Tu Từ Học” (alankārasattha) trong tự điển đời thường (=nặng về hưởng thụ), của Đông lẫn Tây ngày nay…vẫn như vậy !
<>Trở lại «Ân Đức Pháp» (dhamma guṇa), chúng ta thấy cái «nội dung giải khổ» ở đây (ayaṃ asādhārana guṇa) là THIỆN HẠNH(brahmacariya) khi được thể hiện đầy đủ, NÓ phải ám chỉ «sự soi sáng trong tâm» (Dhammassa āloko udapādi), hay phải tự biểu lộ bằng giới đức tiến hóa (kusalakamma=sīla vattati), kết hợp với chánh định (sammā-samādhi). -Đó là kết quả thăng hoa do ÁP DỤNG CỤ THỂ, nhất là rất minh chứng trên phương diện khoa học (=chánh kiến). -Nói cách khác, ấy chính là «hoa trái » (puppa phala) của trí đức bát-nhã» (pañña-guṇa), nở ra từ Pháp Thanh Tịnh (visuddhidhamma’jāti), mà Phật học còn gọi là «ƠN ÍCH CỨU THẾ» (lokuttara pāramī guṇa)…luôn luôn KẾT TINH bằng viên tròn nhập thế (pāramatha-lokiya dhammā), chứ không phải chỉ có niềm tin vào thần thánh, được xác nhận bởi tập quán tín ngưỡng là đủ !