MINH TRIẾT trong TĂNG BẢO

Bài 4

<>“TĂNG”là “ký âm tự”, ghi theo khẩu giọng loài người… khi đọc chữ “saṅgha” trong Phạn ngữ (hay Pāḷī), tiếng nói bình dân được xem là “phổ thông”, mà ngày xưa Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya-Muni Buddha) đã dùng để truyền bá chánh pháp giải khổ đến quảng đại quần chúng, không phân biệt sang hèn. -Khác với “Saṃskrit”, chỉ dành riêng cho giai cấp thượng tầng Bà-la-môn và “quí tộc” được xử dụng, “học hỏi” ! -Dân hạ tiện mà dám “đụng đến” Saṃskrit là bị kết tội “phạm thánh”, giống như “mảnh giấy viết chữ hán” mà đế quốc Tàu đã áp đặt lên người VN thời bắc thuộc vậy !

*Đúng ra, chúng ta phải phát âm đủ 2 vần của chữ ấy, là “TĂNG GIÀ” (=>“saṅ” và “gha”), nhưng có lẽ vì muốn “giản lược giọng đọc”, nên người xưa đã “rút ngắn” như vậy !? -Ý nghĩa tổng quát trong tự điển Pāḷī của 2 chữ “SAṄGHA” (=>“tăng-già”), là “hội chúng”, gồm ít nhất “2 vị phạm hạnh” trở lên.

-Đặc biệt, trong sinh hoạt tu viện nhà Phật, thì “tăng-già” (saṅgha) lại ám chỉ cộng đoàn 4 tỳ kheo (=khất sĩ) (adhika catu bhikkhū), đang sống với đạo đức thoát ly gia đình (guṇa pabbajitena), mọi hành động đều được tinh tấn giảm thiểu tham sân si (lobha, dosa, moha appatamasaṅkhyā), -hay chế dục (taṅhā vicārita) !  

-Khi nói về TĂNG GIÀ (saṅgha), nếu được hiểu một cách MINH TRIẾT (bodhivijjā-ñāyasatthena), thì ẤY là biểu tượng của “sự bình an phạm hạnh” (brahmacariya-laya) từ «4 bậc chân tu» hay đông hơn, -còn gọi là «hội chúng lục hòa» (chalasaṃsandamāna-vagga). Và trên 4 vị thì xem là “ĐẠI TĂNG GIÀ” (mahā-saṅgha). -Chữ “ĐẠI” (Mahā) ở đây vốn chẳng luôn luôn ám chỉ cái nghĩa “lớn”, để tỏ ra ưu thế hơn “nhỏ”, mà là “một cộng đồng thanh tịnh, bình đẳng, vô chấp” (=đa chúng đức hạnh). -Nói cách khác là…tập hợp đại năng lượng từ bi tỏa rộng, có đặc tính vô ngã độ đời (anatta-pāramī) !

*Theo Phật học “TĂNG GIÀ” (Saṅgha) luôn luôn là nếp sống mẫu mực xứng đáng cho xã hội loài người, hay “hiện thân của pháp giải khổ trong chúng sanh”. -Còn “ngụy tăng già” thì sớm muộn gì cũng lộ rõ bản chất giả mạo, của nhóm người “mượn đạo tạo đời”, lừa gạt,  sa đọa, -chữ Pāḷī gọi ngụy tăng già là “mahācoro vagga” : đại gian tặc. -Và tăng già chân thật vốn không cần được phàm tình nhìn nhận (hay tấn phong), mà chính HẠNH KIỂM CHẾ DỤC (dhutaṅgacariya), sẽ “hiện thân” thành “đầu đà độ đời”, trong phẩm cách “tĩnh tuệ mặc định” (visuddhi bhāvanā-ñāna). -Nghĩa là cá nhân hay tập thể ấy luôn luôn sống tiết chế lẫn tri túc giữa THANH THIÊN BẠCH NHẬT, bằng thể hiện GIỚI ĐỨC Sa-môn (Samaṇa-guṇa), “rũ bỏ thèm khát trần tục, tâm tư thường xuyên thoát trần” !

-Cộng đồng Tăng già độ đời có bản chất hòa bình, khiêm nhượng, và chắc chắn không phải là loại “giáo hội” rêu rao danh vị, áp đặt quyền lực tín ngưỡng, bí mật kinh doanh trục lợi, treo chiêu bài “hoằng dương đạo pháp”, để che dấu mặt thật “ hệ thống gian manh, cai trị bất chánh tinh thần tín đồ” !

<>Sau khi Đức Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni) viên tịch (pari-nibbāna), PHẬT GIÁO (Buddha-sāsana) đã tồn tại vững chắc trên thế gian, vốn nhờ vào 2 yếu tố, là phẩm hạnh tăng già (saṅgha-guṇa) và chánh kiến trong giáo lý hướng thiện (sammādiṭṭhi). -Hai yếu tố này ví như 2 mặt bất ly của một tờ giấy. -Nếu giáo lý chánh kiến cải thiện là bên nầy, thì đức hạnh tăng già làm gương mẫu…phải là bên kia…-trong chiều sâu nội dung của mỗi trang kinh điển nhà Phật.

-Trái lại, khi “danh nghĩa tăng già” bị đánh tráo, lạm dụng…thì đạo Phật tất nhiên không còn hiện thân nữa…mà đó là “đám ma quỉ mặc áo tăng tướng”, và đời sống tâm linhcon người sẽ trở thành đen tối, suy đồi…đồng thời “chân pháp nhân duyên quả” (heu-vipāka paccaya bhūta dhammā) cũng biến thành “vô nghĩa” ! -Rồi xã hội không tránh khỏi cảnh đạo đức hằng ngày bị chà đạp, lương tâm con người tự chôn vùi, nhường chỗ cho các hình thức luật rừng giành ưu thế…-nhân danh “tôn giáo”…-đồng lõa bè đảng với “chính trị vô thần, ngu dân”, lạm dụng tín ngưỡng” để độc nhất cầm quyền, tước đoạt tài sản của con người khắp mọi nơi, từ “trung ương” đến “địa phương” toàn đất nước !

<>Trở lại ÂN ĐỨC TĂNG BẢO (saṅgha guṇa rataṇa). Kinh Pāḷī (=Phật học Nam Truyền) có ghi các phẩm cách thanh tịnh, như sau :

*Ân đức thứ nhất, “Supaṭipanno bhagavato sāvaka-saṅgho” : TĂNG (saṅgha) là các Thinh Văn Đệ Tử Phật (Bhagavato sāvaka) hằng ngày sống đầy đủ CHÁNH KIẾN (sammādiṭṭhi), -tức hoa trái của CHÁNH TƯ DUY (sammāsaṅkappa) trong thân tứ đại (catu mahādhātu kāya), để nhận diện (saṭipatthāna vipassanā) sự thúc đẩy của tam độc tham sân si (lobha, dosa, moha), tạo nghiệp ác qua 3 nơi thân khẩu ý (kāya-kamma, vacī-kamma, maṇo-kamma) như thế nào…mà tích cực đối trị.

*Ân đức thứ hai, “Ujupaṭipanno bhagavato sāvaka-saṅgho : TĂNG là chư Thinh Văn Đệ Tử Phật (Bhagavato sāvaka) hằng ngày sống đầy đủ THÁNH KIẾN (ariya-ujudiṭṭhi), -tức là hằng thường xuyên tỉnh thức (sampajañña) trong thân tứ đại (catu aniccā mahādhātu kāya), luôn luôn hành động ly tham (alobha), ly sân (adosa), và ly si (amoha). Đây là những Bậc thân khẩu ý đã thanh tịnh (Ariya saṅgho).

*Ân đức thứ ba, “Ñāyapaṭipanno bhagavato sāvaka-saṅgho” : TĂNG là những Thinh Văn Đệ Tử Phật (Bhagavato sāvaka). Các Ngài sống hằng ngày trong “hiện tại niết-bàn” (paccuppanna nibbāna). Trí tuệ của các Ngài (sa-paññā) đã biến thành THOÁT LY KIẾN (ariya-lokuttara-diṭṭhi), để thấy rõ mỗi tế-bào trong thân tứ đại nầy (ayaṃ catu mahādhātu kāya), qua từng sát-na (pacceka khaṅa) đang thành trụ hoại diệt, đúng như vận hành tự nhiên của “tam pháp ấn”, gồm -VÔ THƯỜNG (aniccā), -CHỊU ĐỰNG KHỔ (dukkha), và -VÔ NGÃ (anatta). -Xác chứng “kiếp người sẽ HOÀN KHÔNG là một chân lý”!

*Ân đức thứ tư, “Sāmīci-paṭipanno bhagavato sāvaka-saṅgho” =  TĂNG là những bậc Thinh Văn Đệ Tử Phật (Bhagavato sāvaka). Các Ngài đã hoàn toàn thuần thục trong GIỚI ĐỊNH TUỆ (sīla samādhi paññā cāturiya => asekhā => vô học !). -Tức là các Ngài đã “viên hạnh”, không còn nằm trong tình trạng “phải tinh tấn” mới thực hiện đúng 3 siêu pháp giới định tuệ (sīḷa-samādhi-paññā), mà hẳn nhiên thân tâm các Ngài luôn thuần thục phạm hạnh, tinh khiết…vì hoàn toàn đoạn trừ tham sân si !  -Nói cách khác, THÁNH NHÂN khi chưa hết tuổi thọ, thì luôn luôn sống đầy đủ tam học (giới định tuệ, hay kỷ luật,trụ tâm, và minh sát) để tất nhiên giải khổ, chứ không còn tập tành thiện pháp nữa. -Ấy là TỰ TẠI (santati) với “hữu dư niết-bàn” (upādisesa nibbāna) cho đến hết tuổi thọ kiếp chót ! Các Ngài là hiện thân (punaravatāra) của BÁT THÁNH ĐẠO (atthaṅgika lokuttara ariya magga), nên sự SỐNG (jīvita) và cái CHẾT (maraṇa) đối với các Ngài, không còn là 2 vấn đề bận tâm trong hiện hữu.  

*Ân đức thứ năm, “Yadidaṃ cattāri purisa-yugāni”: Đó là những Thánh Thinh Văn Đệ tử Phật (sāvaka). -Nếu kể về “sự liên quan” (paccaya) giữa ĐẠO (magga) và QUẢ (phala), thì phẩm cách giải thoát ấy có “4 đôi vững chắc tương tác” (=bất thối), gồm:

a/Tăng đã đắc đạo cùng quả Tu-đà-hườn(Sotāpattipanno maggapi phalapi),
b/Tăng đã dắc đạo cùng quả Tư-đà-hàm(Sakadāgāmipanno maggapi phalapi),
c/Tăng đã đắc đạo cùng quả A-na-hàm (Ᾱnāgāmipanno maggapi phalapi),
d/Tăng đã đắc đạo cùng quả A-la-hán (Arahattapanno maggapi phalapi).

*Ân đức thứ sáu, “Aṭṭha purisapuggalā” = Những Thánh Tăng ấy, nếu kể riêng ĐẠO (magga) và QUẢ (phala) thì có 8 bậc, gồm :

a/Tăng đã đắc đạo Tu-đà-hườn(Sotāpatti maggapanno),
a’/Tăng đã đắc quả Tu-đà-hườn(Sotāpatti phalapanno),
b/Tăng đã đắc đạo Tư-đà-hàm(Sakadāgāmi maggapanno),
b’/Tăng đã đắc quả Tư-đà-hàm(Sakadāgāmi phalapanno),
c/Tăng đã đắc đạo A-na-hàm (Ᾱnāgāmi-maggapanno),
c’/Tăng đã đắc quả A-na-hàm (Ᾱnāgāmi phalapanno),
d/Tăng đã đắc đạo A-la-hán (Arahatta maggapanno),
d’/Tăng đã đắc quả A-la-hán (Arahatta phalapanno).

*Ân đức thứ bảy, “Esa bhagavato sāvaka-saṅgho” : Tăng-già (sa saṅgha) ấy mới đúng là Thinh Văn Đệ Tử Phật (Bhagavato sāvaka).

<>Nhân đây, xin phép nói qua PHẨM CÁCH QUI Y, hay LỄ QUAY VỀ nương nhờ ba ngôi báu Phật-Pháp-Tăng (ti-rataṇaṃ gacchantant) một chút. -Vì sau khi «đã qui y», đa số tín đồ thường nghĩ lầm rằng, giáo tịch của mình hoàn toàn thuộc về ông thầy vừa làm lễ qui y và ban cho “pháp danh”, nên nếp sống của mình chắc…sẽ không có liên quan gì đến bốn phương tăng chúng (?!)  

-Theo Phật học, trọng tâm của «Lễ Qui Y», là QUAY VỀ TAM BẢO (Ti ratanāṇi āgacchati), gồm Phật Bảo, Pháp Bảo, và Tăng Bảo cần biết rõ rằng : -Khi hướng đến “PHẬT BẢO” (Buddhaṃ rataṇaṃ) là hướng đến Chư Phật, và Đấng Trọn Lành được tượng trưng HIỆN TẠI, là  Đức Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Muni Buddha). -Khi hướng đến PHÁP BẢO (Dhammaṃ rataṇaṃ) là hướng đến những lời dạy vô lậu của Ngài. -Và hướng đến TĂNG BẢO (Saṅghaṃ rataṇaṃ) là hướng đến Chư Hiền Thánh Tăng, hay Tất cả Thinh Văn Phạm Hạnh (Sāvaka), đã thanh tịnh, dứt tham sân si (=như các Ngài Ca-diếp, A-nan-đa, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên…v…v…để “người nhận phép qui y” lấy đó…làm gương sửa mình và tiến hóa !

*Như thế, qui y không có nghĩa là trọn đời phải trung thành với ông thầy (phàm phu) đã làm lễ nhập mônđặt pháp danh cho mình !

-Kinh nêu rõ TĂNG BẢO là Chư thánh nhân, từ “Tu-Đà-Hườn” (Sotāpanno) trở lên. -Còn phàm tăng dù cho đầy đủ hạnh kiểm đến đâu, vẫn chỉ là những “tỳ kheo” (bhikkhu) hay sa-môn (samaṇa), phát nguyện lìa bỏ lối sinh hoạt phàm tục, gia nhập nếp sống Đạo Phật, và tích cực làm phận sự “Y CỨ TRUYỀN BÁ CHÁNH PHÁP” của Phật cho tín đồ, để giúp họ cải thiện thân tâm và giải khổ. -Sự quy-y đúng đắn, trong Đạo Phật vẫn luôn luôn là như thế !

<>Nói về «Tăng Bảo Thánh Nhân» (Ariya Puggala Saṅgha Rataṇa), tưởng cũng nên nhắc lại kinh điển Pāḷī rằng, “sự chứng đắc sơ thánh (hay Tu-đà hườn = Sotapanno) trong đạo Phật, phải hội đủ BA CỞI TRÓI. -Và theo Vi Diệu Pháp (abhidhamma) Phật giáo Nam truyền (Theravāda), thì một “Thánh nhập lưu” (sotāpanna), mệnh danh là Tu-đà-hườn, -hay Thất lai (sẽ chỉ tái sinh thấp nhất là làm người toàn vẹn, không tàn tật…tối đa 7 lần nữa mà thôi. Ngài là BẬC đã triệt tiêu được 3 trong 10 «sợi dây ràng buộc luân hồi» (saṃyojana), gồm 1/thân kiến hay chấp ta (sakkāyadiṭṭhi = do mầm THAM (rāga),
2/hoài nghi (vicikicchā), dạng tinh vi của SÂN (paṭigha),
3/giới cấm thủ(sīlabbataparāmāso), đồng nghĩa với SI (moha, kết tinh trong chiều sâu lập thành mê tín, tà kiến (miccha diṭṭhi).

*Nói rõ hơn, ấy là «các nguyên nhân rất vi tế» (atisukhuma hetu) của động cơ luân hồi (saṃsāra) trong một phàm nhân, gồm 1/ảo lợi (=ích kỷ), 2/bất mãn (=giận hờn), và 3/mê tín (=vô minh, tin mù) !

*“CHÂN GIỚI ĐỨC” (bhūta-guṇadhātu) qui về Chư Thánh nói trên… ám chỉ phẩm cách đầy đủ phạm hạnh (Brahma cariya puṇṇa), hay viên tròn CÔNG PHU “ba-la-mật giải thoát” (pāramī-saṃsiddhi pamokkha) đạt minh kiến (sammā-diṭṭhi) soi xuyên thấu…-để thông suốt, triệt tiêu các “tiền khiên tật” như sau :

-1/Liên quan đến thân tâm, thì «ngũ uẩn» nầy hằng không bền vững, nó chắc chắn sẽ tan rã (hoàn không),
-2/Lên quan đến ý thức, thì «bám bíu vào» thể xác và tinh thần, lầm tưởng là trường tồn, giá trị, nhưng nó sẽ biến thành bất mãn, và dẫn đến bị thiêu đốt (=phiền não),
-3/Liên quan đến siêu độ, thìcầu cứu ngoại năng…mà bản thân không giới hạnh là VÔ HIỆU, và ẢO TƯỞNG, chắc chắn rơi vào TÀ KIẾN, đọa quả của vô minh !

(-Đặc biệt có một loại “đỉnh tà kiến” do “bệnh trí thức” (=mọt sách) gọi là “sở tri chướng”, hay tình trạng tinh thần…thường xuyên làm nô lệ cho cái gọi là “cổ học tinh hoa” của “tư tưởng tàu”,tích cực nêu ra các lý thuyết rằng, “-ta ngu mà ta biết mình ngu, là ta khôn” (?!), hoặc hoang đường hơn nữa, là “-ta quá dốt mà ta biết mình rất dốt, là ta hết dốt” (?). -Và biết đâu cũng có kẻ cường điệu hơn… tuyên bố “-ta tuy không biết lội, nhưng biết mình xuống nước liền chìm, thì cũng có thể xem như ta biết lội…một ngày kia ta sẽ tự nhiên có thể băng qua sông sâu, mà không cần học bơi, hay nhờ phương tiện thuyền bè chi cả” ?!

-Đây là những câu “triết lý trống rỗng, bâng quơ, an ủi một cách tự phong, vô lý”…dành cho kẻ «thông minh» và «phản văn hóa», chỉ củng cố cái “ta” (lười biếng, tiêu cực, ngã mạn), chứ chẳng soi sáng chi cho TRI HÀNH THIẾT THỰC !

-Theo Phật học :

*“Tự biết mình dốt”…vốn không là gì cả, để có thể xử dụng hữu hiệu hết ! -Đó chỉ là bước đầu của nhận diện thực tại, cao lắm gọi là «thức tỉnh», để lập tâm cải thiện thực tại, dẹp bỏ nếp sống cuồng tín cũ ! -Và muốn hết dốt thì phải khiêm nhượng, gia công học hỏi với các hàng Thiện Trí Thức (hay Bậc Chân Giác Ngộ), rồi chuyên cần áp dụng để trải nghiệm, qua thân cũng như qua tâm…một cách tỉnh táo, vô tư !

-Chính công phu học hỏi và thực hành chân pháp ấy, mới làm cho một người hết ngu…cùng xác chứng được tiến hóa, -chứ không phải chủ quan “thảnh thơi tiếp tục sống theo lẽ tự nhiên (kiểu Lão-Khổng), như đang…là”, thì tư tưởng sẽ tự nhiên thông suốt”, «siêu thoát », tuân thủ “tập khí quân tử tàu” !

-Mặt khác, Phật học lẫn Khoa học đều minh chứng rằng “muốn bước ra khỏi NGU DỐT, hay tình trạng xoay vòng xung đột tham sân si (=KHỔ=dukkha), “người thiện trí thức” (ariya puggala) hay “bồ-tát” (bodhisatvā), phải luôn luôn phấn đấu hóa giải tam độc (bằng GIỚI ĐỊNH TUỆ), từ kiếp nầy sang kiếp khác…cho đến khi trở thành TOÀN TỊNH (sabba visuddhi), tiến hóa, thuần thục vô tham (alobha), vô sân, (adosa)và vô si (amoha)…nhằm LY KHAI kiếp mang thân tâm phàm tục cuối cùng, chứ các Ngài không bao giờ thả trôi, mơ tưởng “sống như đang là”…để đạt mục đích, theo luận thuyết hoang đường «tánh không», -chẳng nổ lực mà vẫn cậy trông ?!

-Vì “trí khôn bẩm sinh” (dù ít) trong một con người vẫn làm cho “họ” biết rằng, “đã sinh ra có thân tứ đại phàm tục này, thì tất nhiên chịu ô trược” và “muốn tiến hóa phải tự mình gia công cải thiện, sửa sai, thanh lọc” -“chứ không thể để yên như thế (=không tu tập)…mà có thể thăng hoa” (=nhờ tư duy suông !?). -Vì chư Đại Bồ-tát trước khi thành Phật đều đã nhờ nhận ra mình CÒN ô-trược, phải gia công thanh lọc (trọn cả thân khẩu ý) mới thoát khổ. -Đó là một MINH TRIẾT (Bodhivijjā-ñāyasattha) vừa khoa học, vừa trí tri siêu độ vậy !

*Ân đức thứ tám, “Ᾱhuṇeyyo (=xứng đáng với lòng tinsự hộ trì). -Tăng-già thanh tịnh ấy (sa-saṅgha) trong Đạo Phật, được xem là «quí báu» (=BẢO VẬT=Rataṇa), vì HỌ không cố ý gìn giữ giới hạnh để thu hoạch lợi lộc từ tín đồ, mà là để giảm thiểu dục vọng, THOÁT LY tham sân si, hay giải trừ TAM ĐỘC trong chính mình, nguyên nhân của vô số kiếp sống luân hồi, mang dạng chúng sanh thăng rồi đọa, hay «thân tứ đại» hiện hữu bấp bênh nầy.

<>Chữ Pāḷī “āhuṇeyyo” tuy chứa «nghĩa đen» là “sự hộ trì bậc phạm hạnh, tức phẩm cách bình an, hạnh phúc”, nhưng MINH TRIẾT vẫn ám chỉ rằng, “ấy là nội dung tuyệt hảo, tinh khiếtđối với loài người” nên cần được xã hội trân trọng, bảo vệ. -Và 2 chữ “HỘ TRÌ” ở đây cũng khuyến khích người hướng thiện nên thường xuyên “cấp dưỡng và sống thân cận”, để noi gương tiến hóa, siêu thoát.

*Theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), chữ “Ᾱhuṇeyyo” đồng nghĩa với “Arahaṃ” (= ứng cúng = đáng hiến tặng, đáng noi gương), bởi thực tại thân khẩu ý của các Ngài luôn luôn trọn lành, tỏa rộng từ bi khắp 3 cõi, mọi thời.

<>Do phẩm tính trong Thánh tăng độ đời như thế, nên nơi nào có “TỊNH HẠNH āhuṇeyyo” thì nơi ấy dân nghèo kinh tế (ít phước) vẫn may mắn có việc làm để sống, không thường xuyên bị thất nghiệp, thiếu hụt, đói khát ! -TĂNG BẢO là “biểu tượng ngầm” của «NGUỒN GIÓ PHÚC ĐỨC», cái tiềm năng kích thích tấm lòng mát mẻ, mở rộng, thương người của giới trưởng giả, có thể hóa giải sự keo kiệt, giũa mòn tật ích kỷ nơi phàm nhân, biến họ thành hạng người biết quan tâm và cải thiện đồng loại, chúng sanh, môi trường !

*Ân đức thứ chín, Pāhuṇeyyo(=đáng hiến chỗ dừng chân, tạm trú…trên con đường hành đạo). “Danh hiệu pāhuṇeyyo” nầy cũng ám chỉ “ân đức của phẩm cách vô tham” (alobha), -hay trước mắt quần chúng nào có tư duy minh triết…rằng “chân tăng trong nhà Phật không bao giờ nghĩ đến chuyện “cố gắng lập chùa am” hay “tìm cách làm chủ tu viện” để thu hoạch, lợi dưỡng. –Mà một cách tuyệt đối độ đời, “Tăng Pāhuṇeyyo” chỉ nhận trú sở như tịnh thất để ở tạm…hầu tinh tấn thực hành đạo giải thoát, tỏa sáng gương sáng vị tha, và gieo phúc lành trên cõi đời nhiễu nhương, phàm tục ! -Rồi nhờ TÂM HẠNH đó, nên nơi nào có “tăng nhân thanh tịnh, đầy ân đức pāhuṇeyyo” là nơi ấy kinh tế phát đạt, nên ai nghèo nhất cũng có mái nhà để ở, không kẻ màng trời chiếu đất !

*Nói cách khác, TĂNG GIÀ (Saṅgha) là “đại diện” của Phật bảo (Buddha-rataṇa), và là “hiện thân” của Pháp Bảo (Dhamma-rataṇassa punaravatāra, sacchikaraṇa) ! -TĂNG BẢO trong Đạo Phật luôn luôn thanh tịnh để hướng dẫn tín đồ bằng chánh kiến (sammā diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā saṅkappo) giữa kiếp sống ô-trược, u-minh, đa chiều…vốn xung đột, nhiều mâu thuẫn. Khi Tăng bảo đầy đủ phẩm cách thì đạo phật hưng thịnh, -ngược lại là tập đoàn ác, lạm dụng cửa chùa, làm suy đồi đạo đức, ngấm ngầm gây tai họa trên thế gian !

*Ân đức thứ mười, “Dakkhiṇeyyo” = Sự kính trọng đặc biệt dành riêng cho bậc tròn đủ giới đức là một “ƯU ĐÃI CAO THƯỢNG” (ariya dakkhinādāna). -“Ưu đãi tín ngưỡng” (nhân văn) này vốn khác hẳn với “tính thiên vị thường tình” theo thói quen luyến ái phàm phu. NÓ là một hành động lành mạnh, phản ảnh của tri thức thiện, có tịnh kiến và chánh tín, luôn luôn chứa nguyện vọng tiến hóa…hướng đến những Bậc Đầy Đủ Đạo Hạnh.

*Sau khi Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni Buddha) khuất bóng (tịch diệt = nibbāna), gương sáng cụ thể của Ngài và Chư Thánh Nhân sẽ dần dần lu mờ…theo thời gian do cộng nghiệp sa đọa…của chúng sanh nhân loại. –Giáo lý hướng thiện mà Ngài đã chỉ ra, đối với những tâm hồn chìm đắm trong dày đặc vô minh, vẫn không dễ thức tỉnh họ…trước những lầm lạc…bởi TÀ KIẾN (micchā diṭṭhi), và say mê hưởng thụ vật chất. –Nếu không có phẩm hạnh của chư tăng già (Saṅgha guṇa), thừa truyền gương sáng vô lậu (siêu thoát), thì đạo giải khổ trong Phật giáo sẽ bị lạm dụng !

*Dù cho kinh điển Pāḷī nhà Phật, có chú giải rằng “hãy thành tâm tôn kính hộ trì các bậc PHẠM HẠNH (chân tăng) để tô bồi cội phúc, tương tự như con cái có hiếu…hằng chăm sóc cha mẹ, người thân, hay niên trưởngthì tạo pháp an vui”! -Nhưng khi «văn minh hưởng thụ» đã làm cho «tăng già» hủ hóa, mất hết hạnh kiểm, học đường xuống cấp…các bậc cha mẹ chỉ vật lộn kiếm tiền, không đủ thì giờ chăm sóc con cái…và hầu hết giá trị tinh thần của con người sẽ biến mất, -nói chi đến một chữ «hiếu» !? -Hiện nay, tại những nước gọi là theo đạo Phật, đã có một số con cái công khai ngược đãi cha mẹ !

*Ân đức thứ mười một, “Añjalikaraṇīyo” (xin “thoát dịch” là cùng với những hộ trì khác). Thực ra, chữ “Añjalikaraṇīyo” vốn có nghĩa từ điển là “chấp tay cung kính” (theo nghi lễ thân khẩu ý đồng hiến dâng vật dụng) đã phổ thông xưa nay. -Nhưng “Ám Chỉ Minh Triết” trong nhà Phật thì “Añjalikaraṇīyo” chính là “bày tỏ hình thức lẫn nội dung” (do thân và tâm chân thành, sáng suốt hành động), hay TRI HÀNH hợp nhất đối với Tăng Bảo (Saṅgha rataṇa).

-Sự hộ trì tuy gồm thực phẩm, y phục, chỗ ngụ, và thuốc men (còn gọi là “tứ vật dụng”), trong phẩm cách TOÀN XẢ (sabbupekkhā)…vốn chứa cái nội dung (vô lậu), duy trì ân đức giải khổ…là “nuôi dưỡng nếp sống cao thượng, thanh tịnh, tiến hóa, do các bậc phạm hạnh thể hiện hằng ngày”. -Ấy là niềm tin chánh trực đầy khai trí, soi sáng nhân loại chúng sanh, một cách SỐNG THIỆN để sau cùng thoát ly !

*Nhóm chữ “cùng với những hộ trì khác” được “thoát dịch” nêu trên, vốn có nghĩa là phát triển “công đức bằng tâm thức bất vụ lợi” (hay vô lậu), là “buông bỏ tất cả” ! -Và TOÀN XẢ ở đây cũng KHÔNG có “nghĩa tiêu cực” (=dửng dưng, bỏ mặc…), mà là việc thiện cao thượng của “người hành động giải thoát” sẽ chẳng chứa kết quả ràng buộc (hữu lậu chung).

-Và nói một cách tiến hóa bát-nhã, cái ĐẠI HẠNH TỪ BI ấy sẽ trổ “quả lành rất lớn” cho toàn thể, -còn bậc gieo trồng “nhân vô lậu” thì luôn luôn không mong đợi đền bù, để tránh khỏi mọi xiềng xích, cột trói vào bánh xe sinh tử luân hồi (saṃsāra cakka), -nhất là “tật mong hưởng thụ” ấy có thể biến thành tập khí mắc dính, BẤT THIỆN (akusala khandha), làm cho con người (nói riêng), và chúng sanh (nói chung) tiếp tục ôm cứng bản ngã, tái sinh, sa đọa, mê chấp quả phước.  

*Ân đức thứ mười hai, “Anuttaraṃ puññakhettaṃ lokassā’ti” (Thoát dịch “ấy là” “phước điền” hay “RUỘNG THIỆN” (vô song) trong ba cõi luân hồi (=trời, người, và đọa cảnh). -Ân ĐỨC nầy (sa-guṇa) ám chỉ nếp sống phạm hạnh của Tăng Bảo (Saṅgha rataṇa) được “hiện thân hóa” là “mảnh đất quí báu”, để cho nhân gian gieo trồng hạt lành, làm nghiệp nhân duyên tiến hóa giải khổ và thoát khổ.

*“Ruộng phước” nầy (Ayaṃ-puññakhettaṃ) quả thật rất “mầu mỡ” (sinh hoa trái dồi dào). -Ai nhận ra NÓ là người có chánh kiến (sammā-diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā-saṅkappo) ! -Vì không phải vô cớ mà Phật học đề cao, “cộng đồng xuất gia” tinh tấn tu tập đúng theo giáo lý giác ngộ là “PHƯỚC ĐIỀN VÔ THƯỢNG”!

*Xin khiêm nhượng dẫn giải về CỘNG NGHIỆP một chút :

<>Vì tính tương tác (nhân duyên) giữa ba cõi đa sinh linh (=tam giới) hằng biểu lộ một cách khoa học, rằng nghiệp ác (do tham sân si), hay nghiệp thiện (do vô tham, vô sân, vô si) không bao giờ có thể được tạo ra bởi duy nhất “một động tử” (-chuyện không bao giờ có !), mà do “CỘNG NGHIỆP”…mọi hiện hữu là bởi từ hai sinh linh trở lên !

-Ví như trên thực tế “người chophải có “người nhận”, hay “kẻ phạm tội sát sinh” phải có ”đối tượng bị giết. -Và PHƯỚC (puñña) lẫn TỘI (pāpa) cũng như thế. -Từ đó phát sinh ÂN ĐỨC (guṇa) hay OAN TRÁI (veranīyātana), vướng mắc (upādāna) hay vay trả (kamma-vikāka), hằng biểu lộ và cấu kết, dựng lên sự luân hồi (saṃsāra), một cách “tri thức” (ñāna) lẫn “khoa học” (vijjā), không thể nào tránh !

<>Với ánh sáng MINH TRIẾT trong Đạo Phật, Ân Đức TĂNG BẢO (Ratana saṅgha guṇa), không thuộc về “huyền năng” hữu lậu hay vô lậu. -Đó là một VẬN HÀNH TIẾN HÓA (rất nghiệm chứng), để giải khổ, thoát ly…chẳng dựa trên ĐỘNG CƠ nào cả ! -Nếu đó là lòng thamvô minh…rồi “tu sĩ đóng kịch”, đón nhận sự cung kính cúng dường của “tín đồ mê tín”…thì ấy là “tương tác hữu lậu”, -nhân quả cấu kết liên hoàn, qua lại không ngừng, vay trả cộng nghiệp mãi !

*Trái lại, Ân Đức TĂNG BẢO (Ratana saṅghassa guṇa) là một “nội lực vững chắc”, của mỗi bậc xuất-gia -hay «sa-môn» (samaṇa pabbajitena), sống trong hạnh thanh lọc thân tâm chính mình, qua công phu (ba-la-mật = pāramitā)) giải thoát, -đồng thời làm gương lành cho nhân sinh, giữa một chuỗi vô số những cuộc đời đầy thăng đọa, kể cả khi đạo đức chỉ mới bắt đầu suy đồi…thì ấy vẫn là VÔ LẬU !

<>TĂNG BẢO (Saṅgha Rataṇa) có thể “hiện hữu” trong Đạo Phật suốt tuổi thọ của Giáo Lý Thích-ca Mâu-ni đến mãn 5000 năm, nhưng sự “biểu lộ” (lành mạnh) về sau…lại mỗi ngày một hiếm thấy, tùy thuộc vào nhân duyêntri kiến trong nhân gian, xuyên qua CÁI gọi là “nền văn minh lý hóa”, -một tình trạng nặng về hưởng thụ vật chất hơn là khai sáng tinh thần !

-Từ đó, chúng ta có thể dựa vào MINH TRIẾT trong PHẬT GIÁO (Bodhivijjā ñāyasattha) mà khiêm nhượng nói rằng, “Đạo Giác Ngộ để Giải khổ cho nhân loại (nói riêng) và chúng sanh (nói chung) sẽ HIỆU LỰC VÔ CÙNG, nếu toàn thể “Tăng già” (saṅgha), gồm tỳ kheo (bhikkhu) và tỳ-kheo-ni (bhikkhunī), thể hiện đồng tâm với “CƯ SĨ” (gahahaṭṭha) gồm thiện nam (upāsaka) và tín nữ (upāsikā)…hằng ngày còn tích cực duy trì đức hạnh ! -Vì 4 hạng người nầy là những cột trụ hộ trì PHẬT PHÁP, được Phật học gọi là “TỨ CHÚNG” !

*Ngược lại, khi “tu sĩ đầu trần áo vuông” mà vô minh viện lẽ “dấn thân nhập thế” để hưởng thụ danh vị, lợi lộc…và tín đồ chỉ «hùa theo» vì tham ái…thì ĐẠO VÔ LẬU sẽ mỗi ngày một lu mờ, rồi biến mất…cho đến năm thứ 5000, kể từ sau khi Phật Thích-ca nhập diệt (Sakya Muni Buddha Parinibbāna).

<>Một lần nữa, NỘI DUNG của Đạo Phật Nguyên Chất vẫn xác nhận rằng, “Hiệu lực của giải khổ, thoát ly tam giới chúng sanh, xung đột, hữu hạn…chỉ nằm ở HÀNH ĐỘNG của Tăng già và của Cư sĩ trong CHÁNH KIẾN, chứ không tùy thuộc vào lý thuyết hay triết học, do các «luận sư» nổi danh nào cả !

-Ngôn ngữ của tất cả «luận sư» vốn chỉ đến từ “sở tri chướng” (hay “bệnh trí thức”) đã, đang, và sẽ rất nguy hiểm cho tiến hóa nhân loại !

———

Laisser un commentaire