Hai sự “TÙY DUYÊN” và “BẤT BIẾN”

Bài 8

“tương ứng” với “PHÁP KHÉO LÉO TÁC Ý” không ?!

 (“Yoṇiso maṇasikāra” = Upakkama dhammā ?).

<>Danh từ “PHÁP” (dhammā) trong nhà Phật, vốn cho chúng ta “một ý nghĩa” rất “sâu rộng và minh triết”. -Nhất là khi nó đi chung với nhóm chữ “thực hành THIỀN PHÁP” (bhāvanā dhammā) ! -“SÂU RỘNG và MINH TRIẾT” ở đây, tất nhiên không liên quan gì  đến “thần học” hay “bản sắc tâm thức” của thuật ngữ thế gian. -Vì NÓ thông thoáng hơn “2 thứ ấy” và vẫn “chế định” (qui ước) rằng, đó là một giáo lý mô tả sự mềm dẻo (kammaññatā), “bổ túc” vào “kỹ thuật thanh lọc thân tâm” (bhāvanā), mà một người phàm cần thực hiện suốt cuộc đời đang chứa đầy nhiễu nhương…-chứ không duy nhất là vượt qua “chướng ngại tu hành” (nhất thời) của một người noi gương Phật ! 

*Để “bình định” một cách “tương đối hiệu quả” những khó khăn ấy, song song với THIỀN PHÁP, nhiều nhà hiền triết phật giáo các thế hệ tổ sư sau Phật, đã nêu ra “một giải pháp” giúp cho phàm nhân hướng thiện, khi gặp bế tắc trong việc tu tập, có thể “uyển chuyển”…nhằm tùy tiện vượt qua, bằng 2 câu châm ngôn là… “tùy duyên nhưng bất biến”, lẫn “bất biến mà phải tùy duyên”. -Và “trùng hợp thay”, trong VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma <=> chữ Pāḷī), thuộc “Phật Giáo Nam Truyền” (=Theravāda), cũng có một câu tương ứng là “YOṆISO MAṆASIKᾹRA” !

<>Vậy chúng ta thử tìm hiểu một cách MINH TRIẾT “nội dung” đôi châm ngôn vừa nêu…trước tiên trên lý thuyết. -Nhưng ngôn ngữ hay tiếng nói của bất cứ quốc gia nào, cũng có các “rào cản chế định”, sẽ làm cho người ta “đắn đo” rồi phân vân rằng, “Yoṇisomaṇasikāra” thuộc Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), phải chăng là “CÔNG THỨC” (niyamāvali), có thể xem “tương đương” với 2 câu châm ngôn “tùy duyên nhưng bất biến”, và “bất biến mà phải tùy duyên” ?!

-“YOṆISOMAṆASIKᾹRA” có thể được tạm dịch ra Việt ngữ là “khéo léo tác ý” hay “như lý phương tiện”?! -Và để tránh “chuyện kinh văn bị phàm phu tư duy méo mó” (=suy nghĩ lệch lạc), vấn đề cần đặt ra là làm sao áp dụng “CÔNG THỨC” (vi diệu pháp) ấy một cách vô hại, khi “va chạm vào” thực tế thế gian, mà không rơi vào tình trạng “ba phải”, hay phiêu lưu, rồi không khéo khó tránh lạc hướng !

*Kết quả cụ thể của hành động “uyển chuyển” đó, xem ra mới là trọng yếu ! -Nhất là hiệu lực của “khéo léo tác ý” (yoṇisomaṇasikāra), cũng phải đủ khả năng để khai thông bế tắc, giải quyết được tình trạng “trở ngại thực tại”, làm cho dẫm chân tại chỗ…mà không bị xem là “hành giả nhượng bộ”, hay “đầu hành) nghịch cảnh” !

-Một số người theo “Phật giáo cấp tiến” (=đại thừa), -kiểu đế quốc chuyên dùng mưu lược Tàu phù, hay “phong kiến đa thần Ấn-độ” thường chủ trương ngu dân, qua áp đặt giai cấp và mê tín thần quyền…đã luôn luôn lạm dụng “hai châm ngôn” nầy để tinh vi sửa đổi Phật giáo một cách phá hoại !

<>Nhất là họ vô minh nói rằng, “Những điều do Phật Thích-ca Mâu-ni thuyết ra cách nay hơn 2500 năm…là “xưa rồi”, hay “lạc hậu”hết hữu dụng !”(?) -Họ cố ý phủ nhận CÁI SỰ THẬT muôn đời (ariya sacca) tức “CHÂN LÝ” (Bhūta-dhammā) nào, cũng vượt thời gian lẫn không gian, và KHÔNG BAO GIỜ có thể là “xưa” hay “lạc hậu” ! -Ví như NGỌN LỬA đối với mọi động vật thì xuyên qua hàng tỷ tỷ năm, nó vẫn “sưởi ấm” giữa băng tuyết, chứ không thể nào khác được !!!

-Theo Minh Triết Nhà Phật, “Tùy duyên nhưng bất biến” ở đây PHẢI được hiểu là “giải chấp”, chứ không phải “bóp méo thiện pháp”, -tức tuyệt đối chẳng được dẫm lên giới luật, coi thường đạo hạnh tiến hóa. -Vì giáo lý của BẬC GIÁC NGỘ trong chiều sâu…vẫn luôn luôn “làm thông thoáng” cho người áp dụng, -gọi là “tùy duyên nhưng bất biến”, và nhất là cần thực hành một cách tỉnh thức…nhờ tính PHÁ CHẤP (=vô tư, vượt qua chướng ngại ! -NÓ trái hẳn với vô minh ngã mạn (avijjā-māna) trong “bộ ba” than sân si, là NÓ không ngụy biện, không viện cớ để buông xuôi, -đồng thời quyết tâm “chống đồng lõa với sa đọa” !

-Mặt khác, “bất biến mà phải tùy duyên” cũng chứa đủ NỘI DUNG có định hướng cải thiện tương tự ! -Nghĩa là hành giả luôn luôn xác nhận mục tiêu tiến hóa một cách vững chắc…để tiếp tục duy trì phạm hạnh (=bất biến), chứ không để cho “hoàn cảnh điều khiển tâm thức” như tạm thời trong thực tại, do ÁC TẬT CỐ CHẤP (upādāna=thủ) gây ra !

-Ở đây, sự quyết tâm và tinh tấn (bao gồm nhẫn nại) của hành giả (khi gặp trở ngại) vẫn không sụt giảm, để tránh lơ là mục tiêu hướng thượng. -THIỀN TÂM (Bhāvanā citta) trong trường hợp nầy, “tự nó” là “dũng lực soi sáng” (ujukatā), thấy rõ điểm trở ngại (bất thiện tạm thời) mà vẫn tự tin một cách vô úy, không sợ bị “khói mù” của tham sân si áp đảo, rồi phát sinh cảm giác…cho rằng “mình lùi bước khi yếu thế, trước nghịch cảnh” một cách phiêu lưu, mất tự lập !

-“Bất biến” cũng chính là “nội dung tuyệt vời” của năng lượng thanh tịnh (=tự tại, sáng suốt, vô nhiễm), chỉ xem thực tại uyển chuyển ấy, như “phương tiện tạm thời” để vượt qua “trở ngại”. -Ví như việc dùng bất kỳ thuyền bè nào (có thể nổi trôi trên mặt nước), chỉ để làm cách qua sông, -và đó chắc chắn KHÔNG phải là “hành trang cứu cánh”, trên “lộ trình buông bỏ, hướng về siêu thoát ly”! -Nhất là hành giả tuyệt đối không nô lệ những gì, được thường tình gọi bằng một cái tên đầy vướng mắc (ngầm chứa tham sân si, tranh đua, ngã mạn) là “vinh quang” (thắng pháp=vijaya dhammā), -đối nghịch với “thua cuộc” (bại pháp=parājita dhamma), theo tâm lý trần tục !

*Ví như một “đệ tử Phật” thì không bao giờ nói dối, nhưng trong trường hợp “nếu tiết lộ sự thật thì một nạn nhân phải chết”, nên “người đi trên Phật Đạo” hay “Bồ-tát” (Bodhisatvā) thường phải “tùy cơ ứng biến” để cứu sống một sinh mạng. “HỌ” chân thật biểu lộ lòng từ bi, bằng cách “CHỊU mang tội nói dối (trên lý thuyết) để độ đời”, và có thể dùng lời lẽ “đánh lạc hướng” kẻ truy sát. -Nhưng với trí tuệ bẩm sinh (kiriya-ñāna), được “tô bồi sâu xa” bởi Thiện Hạnh Bồ-tát (Bodhisattassa brahamacariyo), Ngài không bao giờ ngụy biện rằng “nói dối cứu chúng sinh cũng xem như là nói thật” !

-Mặt khác, CHÁNH TƯ DUY (Sammā-saṅkappo) trong nhà Phật, luôn luôn làm cho những bậc phạm hạnh rất minh bạch, đâu ra đó…trước tiên là với chính mình. Các Ngài không lẫn lộn hành động bất thiện, với lý luận quanh co…kiểu “cứu cánh biện minh cho phương tiện” (=mập mờ), hay lấy “lý thuyết hùng hồn” biện minh cho điều xấu”, ngụy tạo khái niệm “TỘI cũng là PHƯỚC” (?)!  

<>Trong “lý hóa vật chất”, luật tương đối (sai biệt) có thể nghiệm đúng…! -Nhưng trong “biến hóa tinh thần” (=văn minh thoát ly, giác ngộ chân lý), thì TÌNH TRẠNG (tương đối) ấy, là bước ngoặc SA ĐỌA đối với “thăng hoa tâm linh”, vì nó tạo ra “dẫm chân tại chỗ”, hay THỤT LÙI…-tức là nghịch chiều pháp vô lậu ! -Nhiều nhà khoa học trứ danh cũng từng phát biểu về “nội dung” đó. -Họ đã nói “văn minh vật chất phải dừng lại ở mức tương đối (=vi hạn chế). Nhưng văn minh đạo Phật (=giác ngô chân như) hằng tiếp tục đi tới…nhờ ĐẠI XẢ !”.

-Một bậc hành đạo chân chính vốn “nhận diện” mọi vấn đề một cách ngay thật (tatramajjhattatā), -khác hẳn với đa số tu sĩ (phàm phu đầy dục vọng) thường dựa vào “triết học phá chấp”, hay “trung quán hí luận” để “ngụy biện”, tìm cách xé rào, không nghiêm chỉnh gìn giữ giới luật ! *Và tính CHÂN CHẤT ấy chỉ phát sinh và nuôi dưỡng vững chắc…nhờ THIỀN PHÁP (bhāvanā dhamma), -chứ không bởi “tư duy trí thức” nào khác !

<>Chưa kể CHÁNH ĐỊNH (sammā-samādhi) trong đạo Phật, còn là cái năng lực tuyệt diệu, giúp tâm tư hành giả được soi sáng một cách xuyên thấu…để thấy rõ thân tâm hay “ngũ uẩn” nầy (âyaṃ pañca khandhā) đang từng sát-na (khaṇa), từng giây phút…trải qua thành-trụ-hoại-diệt (=sinh=>lão=>bệnh=>tử), tiến tới hoàn toàn tan rã…như thế nào. -Ấy CHẲNG phải do lý luận viện dẫn “thuyết tánh không” !

*Từ đó, cái “ta” (atta, atman) trong hành giả “tự lộ thực trạng” là tuyệt đối phù du và ngắn hạn…-như giọt sương trên đầu lá cỏ, -như bóng mờ trước ngọn đèn, -như bọt nước giữa dòng sông, -hay như ánh chớp trong khung trời, lóe lên rồi biến mất..!  -Bởi thế mới có các câu, mô tả “CHÂN TRẠNG TỊCH KHÔNG”, mà “Cổ Đức Đắc Đạo” trong Nhà Phật, đã lưu tặng hậu thế…qua dạng “văn vần minh triết”, như sau :

“Thân như diện ảnh, hữu hoàn vô.

Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.

Nhậm vạn thịnh suy vô bố úy.

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”

Thoát dịch :

“Thân như ánh chớp chiều tà,

Mùa Xuân tươi tốt, thu qua rụng rồi,

Sá chi suy thịnh ở đời,

Thịnh suy như giọt sương rơi đầu cành !”

(Chúng tôi mạn phép ghi lại “những văn vần” của hiền triết ngày xưa như thế, vì nó “tương ứng” với 1 đoạn trong “Vài lời thưa đầu” thuộc tập “NHỮNG Ý THIỀN HÓA THÀNH THƠ” (nói về ảnh hưởng của “kệ ngôn” (gāthā), mà chúng tôi đã “cống hiến” đến chư đạo hữu bốn phương trước đây…xin chép lại như sau :

“….đạo trong thơ rất thâm trầm sâu sắc, giản dị và sáng lạng nhiệm mầu. Nhiều khi nó nhiệm mầu đến độ người ta chỉ đọc năm mười câu thơ cô đọng ý đạo, người ta cũng có thể tỉnh ngộ, chiêm nghiệm ra tất cả những gì mà bình thường phải đọc hết một cuốn sách văn xuôi…”

Với các câu, đầy ý nghĩa “vô sở hữu xứ” :

“Ngàn năm nước vẫn chảy.

Muôn đời mây vẫn trôi…

Giọt mưa người luôn thấy…

từ giữa khoảng không rơi !”.

<>Xin quay về đề tài, khi “nội trí thanh tịnh” chứng đắc thân tâm thực tại rồi, thì hành giả tự xác nhận rằng, “không có bất cứ lý do gì để con người tin tưởng “ngũ uẩn” (pañca khandhā) hay cái “ta” (atta) là trường tồn, bất biến, vững chắc”. -Cá nhân nào còn ngã mạn là kẻ tự lừa dối mình, ví như người điên…nhắm mắt xây lâu đài trên cát ! -Từ đó, bậc phạm hạnh luôn luôn cố gắng triệt tiêu tật cao ngạo (māna) ! 

*Chưa kể, “4 lăng kính tuyệt vời” của THIỀN (bhāvanā) là “chánh kiến (sammādiṭṭhi), chánh tư duy (sammā-saṅkappo), chánh niệm (sammā-sati) và chánh định” (sammā-samādhi), sẽ bảo vệ hữu hiệu tinh thần (maṇo) hay THỨC UẨN (viññāna-khandha) hành giả, một cách vô lậu. -“Bốn lăng kính thiền” nầy hằng hóa giải “các phá hoại” của tham sân si, làm cho ý căn người tu được lành mạnh, “miễn nhiễm” bởi trần cảnh.

-Và nhất là “CHÚNG” có thể GẠN LỌC những khuynh hướng bất tịnh, gợn lên trong vận hành của “GIÒNG HỘ KIẾP” (bhavaṅga), cho trôi chảy bình thường…xuyên đời sống hằng ngày ! -Nói cách khác là “bốn lăng kính thiền” quí báu ấy, sẽ hộ trì “bộ lưỡng hoạt” (dvi-saṅkhārā), mệnh danh là “mạt-na” (maṇa) và “A-lại-da” (ālaya) trong người chân chất tu hành…vào lúc lâm chung. (-“Mạt-na” (Maṇa) và “A-lại-da” (Ᾱlaya) là tên gọi đặc biệt của “2 loại tâm” được xếp vị trí thứ 7 và vị trí thứ 8 trong “Duy Thức Học” (Viññāna-sikkhāpada), thuộc Phật Giáo Bắc Truyền !). *Nhờ đó, thân tâm bậc phạm hạnh luôn luôn tự tại, khinh an (passaddhi).

<>Nghĩa là Minh triết trong Đạo Phật hằng soi sáng để “người thanh tịnh” biết rằng, “GIỚI THIỀN và ĐỊNH THIỀN là 2 pháp hành duy nhất, có nhiều hiệu lực tương tác…một cách “bắt buộc” theo thứ tự trước sau, vào tiềm năng thăng hoa của tâm thức ! -Một người tu tại gia không giữ 5 giới thì không thể hành thiền được !

<>Xưa nay chưa có một “Sách Thiền” (bhāvanā pakaraṇa) nào, đề cập đến TAM HỌC (Ti-sikkhāpada) gồm GIỚI ĐỊNH TUỆ (Sīla-Samādhi-Paññā), mà có phân bổ ra 3 năng lực đầy TÍNH “tương tác bắt buộc”, -là 1/giới thiền (sīḷa-bhāvanā), 2/định thiền (samatha-bhāvanā), và 3/tuệ-thiền (paññā-bhāvanā), xác nhận rằng “khi không tròn đủ pháp nầy thì chẳng thành tựu pháp kia”, như chúng tôi nhân dịp khiêm nhượng nêu ra ở đây ! -Việc làm nầy là một vô tư tham cứu kinh điển, chứ không phải “cường điệu” nhằm gây chú ý !

-Trong Thập Độ Ba-la-mật (dasa-pāramī) thuộc Phật giáo Nam Truyền (Theravāda), và ngay cả trong Lục Độ Ba-la-mật (cha-pāramī), thuộc Phật Giáo Bắc Truyền (mahāyana) cũng vậy. Cả 2 bên nào đều có GIỚI ĐỘ (sīla-pāramī) “được nêu ra” như NỀN TẢNG (pādaka) của giải thoát sinh tử luân hồi (saṃsāra vimutti). -Đó là TIỀN HÀNH duy nhất của ĐỊNH THIỀN và TUỆ THIỀN để đạt cứu cánh !

*“GIỚI ĐỘ” (sīla pāramī) là hiệu lực căn bản (rakkhitadhana-vipāka) để giải thoát của giới thiền” (sīla bhāvanā) một cách có thứ tự thực nghiệm, như trong tiến trình KHOA HỌC vậy !

1-“GIỚI THIỀN” xác nhận rằng, sự gìn giữ 5 giáo luật (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất say) sẽ giúp người hành đạo có thể ĐẠT ĐỊNH (samatha-ekaggatā) một cách ít (hay không) bị chướng ngại (appaka-nīvarana) ! -Nói rõ hơn là sự cảnh giác thường xuyên, để KHÔNG PHẠM 5 tội ác, vốn có “hiệu lực kỳ diệu” trong sự giải trừ oan trái do “từ trường cộng nghiệp” loang ra. –Diệu lực đó là “năng lượng hòa bình”, hay “giòng điện” của Ý THỨC VÔ HẠI “tỏa rộng” đến tất cả chúng sinh trong bốn phương tám hướng, tam giới ! -Nhiều người đã lầm tưởng “tai hại” rằng “giữ được 5 giới là một chuyện” và “hành thiền là một chuyên khác”, hai bên có thể liên quan nhưng không “quyết định nhau” !   

*Và TỪ TRƯỜNG của thân tâm thanh tịnh lẫn thăng bằng đó thường tỏa thiện cảm ra xung quanh ! -Nghĩa là chỉ có người hằng ngày tình nguyện tránh xa 5 tội lỗi nầy, mới đầy đủ “năng lượng sạch” (suddha guṇa) để “hành thiền” tiến bộ, hay tập trung tinh thần dễ dàng (maṅaṃ samādahati), hầu “thanh lọc ngũ uẩn”, với ít hay không bị phóng tâm !

<>Theo Phật học, GIỚI ĐỨC (sīḷa guṇa) chính là “nguồn dinh dưỡng cho mạch sống tiến hóa” trong CÕI DỤC (kāmalokasmiṃ). -Nếu năng lượng dinh dưỡng ấy của chúng sanh có “thân tứ đại thô” (=máu thịt), mà dơ bẩn ô trược (dūsita), thì “nó” sẽ làm cho “khí huyết vẩn đục” (=thần kinh vận hành hỗn loạn, chênh lệch), phát sinh phóng tâm lang thang…gây trở ngại cho khả năng an trụ. -Đây là lý do khiến hành giả phàm phu khó đạt ĐỊNH (vì mất thăng bằng) !

*Vi Diệu Pháp (Abhidhammā), thuộc “Phật giáo Nam truyền” (Theravāda) vẫn nhấn mạnh rằng, “DẤU ẤN” (nimitta) của sự vi phạm 5 giới hạnh…hằng nhiễm sâu và gây rối loạn “tận đáy mạch sống” (ālaya), và “khuấy phá” dòng hộ kiếp (bhavaṅga). -Còn “Duy Thức Học”, “Phật giáo Bắc truyền” thì gọi là “a-lại-da thức” (alaya-viñññāna), hay “TÀNG THỨC (mana) bị “hỗn độn”. -Nghĩa là, tật PHẠM GIỚI lẫn “có giới bất tịnh” sẽ đóng vai trò “tập khí ác”, -một “thuận lợi bất thiện” để dục vọng (taṅhā) lôi kéo tâm tư…đến các “đòi hỏi” những đối tượng đa dạng, gây thèm khát triền miên vô đáy !

*Đó chính là nguyên nhân gốc của “phóng tâm liên tục”, làm cho tinh thần phàm phu không bao giờ ổn định. –Phóng tâm (uddhacca) hay “suy nghĩ lung tung” (bâng quơ =kukkucca), vốn cũng là “những bàn tay sản xuất phiền não” (āsava-racaka) rất tàn khốc ! -Chúng như một tập khí bạc nhược luôn luôn tạo ra lơ là, sẵn sàng buông bỏ SỰ ĐỊNH HƯỚNG TỐT (hay thiền pháp) cho tri thức bẩm sinh !

<>Đối với đạo Phật, một người thân tâm còn tham sân si và sống vô giới luật (không cải thiện hạnh kiểm) là một phần tử chẳng thể tiến hóa…và chắc chắn sa đọa ! –Cái chết cuối đời thực ra chưa phải là “hết”, -mà chỉ là “KHÚC QUANH” đeo đuổi các khát vọng khác…khi xác thân nầy hết năng lực tồn tại ! -Hiện tượng “ngừng thở” đối với kẻ phàm tình…là còn chứa rất nhiều khát vọng, do tham sân si trong người ấy tiếp tục đeo đuổi…sau khi tim dừng đập ! -Và “quả của nghiệp báo” (kamma-vipāka) là một “năng lực tự nhiên” sẽ “áp tải” tâm thức con người nói riêng, chúng sanh nói chung…đến sinh mạng mới, đúng như “tập  khí” của tất cả những gì họ đã tích tụ do hanh động suốt đời sống lúc trước, bất kể là vô tình hay cố ý !

-Nhà Phật gọi “ẤY là tương tác hằng định của nghiệp quả” (kamma-vipākassa niccāpaccaya), một “qui luật rất khoa học, luôn vận hành tự nhiên của TOÀN THỂ VŨ TRỤ ! -Phàm phu “tin” hay “không tin”, NÓ vẫn như thế…một cách “xác chứng”, như hình với bóng ! -Chẳng phải “vì không tin mà khỏi trả quả” hoặc “nhờ rất tin mà quả tự nhẹ đi”. -Vì NGHIỆP và QUẢ luôn luôn tương ứng một cách khoa học !!!

<>Hay nói cho vui, “chừng nào không còn những hành tinh (kể cả quả đất), không còn vô số vì sao, không còn các giải ngân hà, không còn bất cứ vật gì, thấy được bằng đôi “mắt thịt”…lẫn bằng “con mắt tâm”…thì khi ấy “luật nghiệp quả” mới có lẽ…vô hiệu !!!

*Khi thu hẹp “LUẬT” ấy vào ĐẠO LÝ xã hội, ví như một người chiếm đoạt tài sản của kẻ khác, thì “DÙ TIN” nghiệp quả hay “KHÔNG TIN” nghiệp quả báo ứng, tiềm thức của họ vẫn luôn luôn biết rằng “nạn nhân mất tài sản là vì mình, đồng thời đang đau khổ vì mình”. Và tiềm lực oan trái cấu kết hướng về sự vay trả, để “tái lập thăng bằng” cho “tâm trường” liên quan đến những gì đã mất mát (xung đột), trong CỘNG NGHIỆP về sau…là một điều chắc chắn !

<>Đó cũng là cái năng lực tồn tại của 3 gốc sa đọa THAM SÂN SI (lobha-dosa-moha saṃsārabala). Phàm phu có thể gọi ấy là “nghịch lý luân hồi” giữa môi trường duy vật hay đoạn kiến (=chết là hết) ! -“NÓ” chính là tiềm lực vay trả, tuy vô hình nhưng luôn luôn đầy đủ cường độ, và tự xoay chiều…tức “áp đặt giải pháp từ vòng trước” để trở thành “thanh toán tương ứng ở vòng sau”. -Theo “công thức” GÂY OÁN sẽ TRẢ OÁN, hay GIEO THIỆN sẽ GẶT LÀNH một cách “phản động vì có động” đúng theo “khoa học lý hóa”, nơi mỗi “tâm trường phàm phu tối tăm”, của cả 2 bên (=kẻ cướp và người bị cướp), mà không có một khả năng nào có thể “can thiệp” !

-TIỀM LỰC VAY TRẢ (sa-kamma vipāka pabala) ấy hằng “trực tiếp bộc lộ”, dưới dạng CÁC CỘNG NGHIỆP (=cùng chịu đựng)…từ kiếp nầy sang kiếp khác…-không thể có điều kiện miễn trừ ! -Nhiều khi ân oán lại “đẩy” nhiều động tử “tái sinh trong cùng một gia đình” (=một làng xóm, một bộ lạc, lẫn một quốc gia) để đòi hay trả “NỢ TẬP THỂ”, một cách oan nghiệt, vô cùng khó hiểu ! -Đó là những THẢM KỊCH !

-“MẠCH” nhân-duyên-quả tương báo nầy rất hùng hậu và TINH VI, ẩn sâu trong tâm khảm của mỗi sinh linh xuyên qua mọi hoàn cảnh, mà không một tâm thức phàm phu nào có thể nhận biết ! -VẬN HÀNH ấy không bao giờ chấm dứt, vì NÓ được năng lượng (xấu hay tốt trong các vòng luân hồi) thường xuyên nuôi dưỡng, trở thành ưu thế ngầm trong duyên hệ tái sinh (sukhuma-aḍhipati-jāti-paccaya), -DÙ CHO thân thể con người đã tan rã hay còn hiện hữu. -NÓ hằng biểu lộ dưới dạng PHỨC HỢP OAN TRÁI (=ân lẫn oán), xuyên qua nhiều chu kỳ sống chết về sau, với “2 chiều hoán vị xoay vần”, gọi là “mãn kiếp” (maraṇa) và “tái hiện” (jāti) !

-Đó là “hiện thân” của VÔ SỐ “lần trả vay” giữa các cõi sa đọa, dễ thấy nhất là giữa loài người. -Riêng trong thú vật thì sự cộng nghiệp ấy là “bản năng mặc định”, biểu lộ dưới dạng “mạnh được yếu thua”, phàm phu khó phân biệt “bên nào trả…bên nào vay”, như một “chuỗi nhân quả liên hoàn tương tác bất tận”! -Rồi mỗi lần oan trái báo ứng như thế…là một lần “hai” hay “nhiều” bên, cùng thoái hóa, sa đọa !  

<>Ở đây chỉ nói tượng trưng về sự trộm cắp mà thôi, chúng ta hãy cùng nhau suy ra, để nhận thức được những tội lỗi khác, sẽ cản trở sự tu tập định tâm một cách trầm trọng như thế nào, -huống chi “ác quả” sau khi phạm cả năm giới sẽ vô cùng tai họa ! -Chưa kể cái HẬU QUẢ TO TÁT ấy còn “triệt tấn” nhiều phương diện khác. Do đó, người phạm 5 giới chẳng thể nào tu thiền, và chánh định không bao giờ thành tựu cho họ ! -ẤY là lý do tại sao “KỶ LUẬT” (sīḷa) trong TAM HỌC (giới-định-tuệ) còn được “mệnh danh” một cách trân trọng…là GIỚI THIỀN (sīḷla bhāvanā) là NỀN TẢNG vậy !

*Ngoài ra, TRÌ GIỚI hay “sống bằng kỷ luật thiện” trong Đạo Phật, còn hàm chứa một “TIẾN TRÌNH” nhắm đến “CỨU CÁNH SIÊU THOÁT” cho kiếp người. Đó là một phương pháp “giũa sạch ác tật” và “hóa giải oan trái” nơi THÂN lẫn TÂM mỗi con người trong CỘNG SINH. -Nếu nhờ BỐ THÍ (dāna) mà “tín đồ” của Bậc Toàn Giác (Sammā-Sambodhi), có thể chặt dần những sợi dây tham luyến vật chất, chấp thủ sinh mạng…đang cột chặt thức tánh họ, vào bánh xe sinh tử luân hồi…thì nhờ “TRÌ GIỚI”, họ cũng có thể tháo gỡ từng hệ lụy, oan trái cấu kết với những chúng sanh khác, xuyên qua đã tương tác tạo nghiệp (ác lẫn thiên) thuộc TAM GIỚI (tilokā)…trong muôn vạn kiếp quá khứ…để kiếp chót được GIẢI THOÁT “sòng phẳng” !

<>Khi đặt câu hỏi “do công hạnh nào mà Bồ-tát bước ra khỏi vòng sinh tử”, thì kinh Phật (Nam truyền cũng như Bắc truyền) đều xác nhận “đó là hiệu lực siêu thoát của viên tròn BA-LA-MẬT”. -Nhất là Ba-la-mật giới hạnh và toàn xả” (sīla-upekkha-paramattha-pāramī). -Rồi chúng ta đọc lại kinh “Đại bát-nhã Ba-la-mật” (Mahā Pañña Pāramitā Sutta) của cả “2 khuynh hướng Phật giáo” (Nam truyền và Bắc truyền), chúng ta vẫn thấy “Thập độ” (Dasa-pāramitā) hay “Lục độ” (Cha-pāramitā), đều xem GIỚI ĐỘ (Sīḷa pāramitā) là Pháp Cứu Giúp tối quan trọng, xứng đáng được nêu ra, trong “bộ ba” Bố thí, Trì giới, và Tham thiền ! -Ai theo Đạo Phật mà không mà không giữ đúng 5 giới là người vô cùng lầm lạc !

(-Mời quí vị đọc lại chi tiết “Kinh Ba-la-mật” (Pāramita sutta), -đặc biệt là chú ý đến 3 phẩm cách thực hành, gồm “bậc sơ hạnh” (Pāramitā), “bậc trung hạnh” (Upapāramitā) và “bậc tuyệt hạnh” (Paramattha-pāramitā). Tài liệu tu tập siêu thoát nầy đã được phát hành từ lâu, và chắc chắn có mặt trong các tủ sách Phật Học. -Do đó, sự sống đúng theo kỷ luật Đạo Phật (Sīḷe veramaṇī sikkhāpadaṃ), được “mệnh danh” là GIỚI THIỀN (Sīḷa bhāvanā), thì quả thật chẳng quá đáng tí nào, -nếu không muốn nói là “rất chính xác”, nhưng rất tiếc “ít ai đã nhận rõ như thế !

<>Nhìn chung, sự giữ đúng 5 giới, ngoài việc tránh được sa đọa quả báo trong các đời sau, còn giúp chúng sanh (nhất là loài người), thoát được tình trạng chồng chất oan trái (đã có từ vô số kiếp quá khứ). “OAN TRÁI” nêu ra ở đây là NỢ CŨ, vốn cấu kết từ nhiều phía…trong “guồng máy” sinh tử luân hồi. -Nếu hiện tại mỗi sinh linh (nhất là con người) vẫn tối tăm, không hướng về “ánh sáng giác ngộ” của “Bậc Toàn Xả”, để GIỮ GIỚI hóa giải khổ đau…mà tiếp tục TẠO TỘI thêm nữa, bằng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và dùng chất say, thì con đường thăng trầm vay trả mịt mù trước mặt…sẽ kéo dài vô tận !

 -TRÌ GIỚI phải luôn luôn là “nền tảng” của “THOÁT ĐỌA” ra khỏi “lưới tương quan cộng nghiệp”. -Đức Phật đã dạy :

“Người tin và quyết tâm TRÌ GIỚI,

thì có tiếng thơm cùng tài sản thanh cao,

rồi sẽ được kính trọng ở mọi nơi,

và an toàn bất cứ trong cảnh nào họ hiện hữu”.

<>Chúng tôi cố ý trình bày khá nhiều về GIỚI THIỀN” (Sīḷa bhāvanā), vì đó là nền tảng (pādaka) của giải thoát cộng nghiệp (kamma-gaṇībhūta pamokkha). Và chỉ có giới thiền mới triệt tiêu hết mọi oan trái (vera, viddesa), mọi vướng mắc nhân quả thiện/ác (upādāna), trong 2 chiều (thăng rồi đọa, đọa rồi thăng) xuyên qua sự luân hồi (saṃsāra).

2-Tiếp theo là ĐỊNH THIỀN (Samatha bhāvanā). -Như trên vừa nhắc qua, ba pháp thực hành của người theo Đạo Phật, gồm bố thí (dāna), trì giới (sīḷa) và tham thiền (samādhi), luôn luôn là “các bước đầu cơ bản” (không thể thiếu) của một Bậc Bồ-Tát (Bodhisatvā). Và “Bậc Bồ-tát” nêu ra ở đây vốn là “một linh thức phạm hạnh, hằng tiến hóa” giữa những vòng sinh tử bất tận (saṃsāra), chỉ với mục đích vun bồi tự lực vô nhiễm (anupādāna-upekkhā), để giải khổ oan trái thân tâm (nāma-rūpa dukkhā vimutti), chứ không phải là “chúng sanh làm lành để hưởng quả phúc ! -Tất nhiên, “tiềm năng” nầy khi chưa hoàn toàn tinh khiết, hay “còn mắc dính” (thủ=upadānāsava) thì vẫn còn nằm trong MÔI TRƯỜNG “công đức hữu lậu” (āsava guṇa).

-Nghĩa là phẩm hạnh của “THIỀN” (bhāvanā) trong nhà Phật, cũng ám chỉ nhiều diệu pháp thăng hoa, bao gồm các “bước tiến”, như “thanh lọc”, “lắng trong”, “hóa giải”, “tận xả”, và “viên mãn”, hằng tương tác một cách minh triết, rằng :

-“THIỀN là TÂM an trú thuần thục” (samatha ekaggatā-citta),

-“THIỀN là Ý tỉnh thức thanh tịnh” (sati-sampajañña-citta),  

-“THIỀN là THỨC quan sát vô tư, chánh niệm” (sammā-sati), và

-“THIỀN” là DANH SẮC toàn xả, tự do, vô nhiễm, bình đẳng.

*Như vậy, THIỀN chính là “công dụng độc đáo” của ĐỊNH (ekaggatā), gồm cả 2 mặt, 1/“Cô đọng năng lượng, phát quang” (minh trí = vijjā-ñāna), và 2/Soi sáng, quán chiếu siêu việt (lokuttaraṃ joti, vipassanā).

*Đồng thời THIỀN, cũng là “nguồn gốc vô lậu” (anāsava-hetuko) của CHÁNH KIẾN (Sammā diṭṭhi) và CHÁNH TƯ DUY (Sammā saṅkappo), ví như “bánh lái con thuyền” giữa giòng khổ, hằng “hùng  hậu hổ trợ sinh thức” đi đúng hướng, thoát ra “vòng xoáy luân hồi” !

<>Tức là khi “GIỚI” (=vô oan trái phiền não) và “ĐỊNH” (=an trú phát quang) được kết hợp, gọi là “TUỆ THIỀN” (samatha bhāvanā ñāna), thì “NĂNG LƯỢNG THĂNG HOA” liền tương tác trong MẠCH SỐNG hành giả (yogācacara bhavaṅga) như một nền tảng bình an vững chắc và hiển nhiên. *Ấy là KẾT QUẢ “tiến hóa chung” của Tam học GIỚI, ĐỊNH và TUỆ (sīla-samādhi-paññā).

*Cần vô tư nhận chân rằng, “ĐỊNH THIỀN” (samatha bhāvanā) là một “vận hành thanh tịnh, tinh khiết”, hay “khả năng anh minh nâng cao tiến hóa”. -Ví như “đòn bẩy hướng dẫn và đẩy mạnh tâm linh thoát ly tam giới”, siêu thoát (lokuttara) vậy !

<>Ngoài ra, “minh triết” cũng khuyên chúng ta không nên quan niệm lạc đích rằng, “định thiền là một “năng lực hội tụ thần lực”, hay “cô đọng tâm linh có thể biến công phu thành kỳ công cứng ngắc”, hữu hạn, –kiểu vụ lợi…để hành giả gặt hái danh dự cúng dường và hưởng thụ (!). -Nhưng một cách sâu xa hơn nữa, “AN TRÚ” ấy (Sappanā-ekaggatā) là một trạng thái nở hoa, “tỏa hương” trên “nền đất tâm thức lành mạnh”, VÔ HẠI (Ahiṃsa guṇa) !

<>Vì “ĐỊNH THIỀN” (samath bhāvanā) sẽ cùng với GIỚI THIỀN (Sīḷa bhāvanā) “đồng tương tác”, và “phát quang bát-nhã” sau nầy. -“ĐỊNH THIỀN” (samatha bhāvanā) vốn là “biến thiên lý hóa kỳ diệu” (THÔ lẫn TẾ hay từ THÔ đến TẾ), của “siêu năng lượng” gồm cả 2 phẩm cách HỮU HẠN (sīmita) và VÔ HẠN (asīmita).

*Hữu hạn thì gọi là “THỜI ĐỊNH” (kāliko jhāna), hay hành giả “lập nguyện an trú…suốt một khoảng mạch sống thanh tịnh nào đó” (trôi qua tối đa 7 ngày đêm), không vọng động.

*Vô hạn thì gọi là “THƯỜNG ĐỊNH” (akāliko-jhāna). Hành giả (=phần nhiều là Thánh Nhân từ Tu-đà-hườn quả trở lên), đã đạt đến “hạnh sống thường xuyên an trú trong thân thọ tâm pháp”, hay “tỉnh thức qua từng biến thiên” trên thực tại chính mình. -TỨ NIỆM XỨ !

-Nói cách khác, trong THƯỜNG ĐỊNH…hành giả “trải tâm an trú liên tục qua từng sát-na, không gián đoạn”. -Nghĩa là lúc nào thức tánh hành giả cũng ĐỊNH trên chính nó (sacitta kammatthāna), và thanh tịnh “hóa giải” tất cả ảnh hưởng của nội và ngoại cảnh (sabbālambaṇa), gồm THUẬN lẫn NGHỊCH (mānāpapi amānāpapi), và TRUNG TÍNH (apakkhagāhī)…trong cộng nghiệp với xung quanh.

<>Mặt khác, “Thường định” còn được gọi là “Sát-na thiền” (khaṇa bhāvanā) hay “Toàn thời thiền” (Sabbasati sampajañña bhāvanā), dịch ra tiếng Anh là “permanent minfulness”. *Và cũng do “đạt định mỗi sát-na liên tục”, mà Chư Thánh A-la-hán (hay Phật) không bao giờ phóng tâm, dù cho trong sinh hoạt hằng ngày (=sống bình thường). -Và chẳng mộng mị trong GIẤC NGỦ (=qua vận hành tinh thần => khi nghỉ ngơi ở “ngũ căn”). -Các Ngài sống là MINH SÁT (vipassanā).

-Suốt phần còn lại của cuộc đời thanh tịnh hiện tiền, TÂM LINH Thánh nhân chỉ biết có “2 cảnh giới song song”, là :

1/“Thực tại năng lượng thân thể” hay “vận hành vật chất” (SẮC và THỌ = rūpa + vedanā) thuộc về ngoại cảnh (=không gian = ākāsa), đang diễn tiến theo thứ tự thành trụ hoại diệt. -Và…

2/“Thực tại dòng điện tâm linh” hay “vận hành tinh thần” (thức tánh = maṇa), thuộc về nội cảnh (=thời gian =samaya), hay “dòng hộ kiếp…trôi êm, an tịnh, xoay vòng”, qua mọi “chu kỳ sinh mạng” (cittavīthi) khi chưa hết tuổi thọ kiếp chót….

-Đặc biệt các Bậc Thánh Nhân (Ariya puggala), từ A-na-hàm Đạo (Ᾱnāgāmi magga) trở lên…cũng có thể “nhờ vào” một thiền pháp đặc biệt, gọi là “diệt thọ tưởng định” (nirodha samāpatti jhāna), để “thoát ly xung đột trong cơ thể, do TỨ ĐẠI thành trụ hoại diệt phát sinh”, nhất là suốt thời gian bi bệnh hoạn trầm trọng, để sau cùng buông bỏ báo thân. -Nói cách khác là lúc hết tuổi thọ kiếp chót…các Ngài Giải Nhập Vô Dư Niết Bàn (Anupādiseasa nibbāna).

-Còn bình thường thì Phật và chư Thánh (A-la-hán) hằng ngày sống trong phẩm hạnh TOÀN XẢ (Sabbupekkha bhāvanā), VÔ THAM (alobha), VÔ SÂN (adosa), và VÔ SI (amoha) hay phi phiền não, vượt thắng mọi bất tiện vật chất, không chịu khổ tâm lý (āsava vimutti).

*Mỗi HÀNH GIẢ THANH TỊNH (Ekata visuddhi ariya yogi) đều có thể qui nạp một cách minh bạch rằng, “ĐỊNH THIỀN” (samatha bhāvanā) trong trường hợp nầy, là một phẩm cách của TÂM đã dứt oan trái trong cảnh cộng nghiệp (nhờ tròn đủ giới đức = sạch tội lỗi), và đã tuyệt đỉnh an trú (nhờ HẠNH XẢ = hoàn toàn vô chấp). -Và “ĐÓ” không phải là kết quả vinh quang, cần gặt hái trên thế gian, kiểu “được linh quyền tán thưởng công phu tu luyện”, -hay “ban cho” nhiều loại năng lực thần thông, có “pháp thuật phi thường” như phàm nhân còn tham lam hằng mơ ước, tưởng tượng !

<>Quay lại nhóm chữ “nhất tâm bất loạn” hay “ĐỊNH” (samatha) trong Phật học. *“Bất loạn” hay “ĐỊNH” ở đây có nghĩa theo kinh “Pāḷī”, là “đi một đường đề mục” (kammatthāna ekaggatā)…“trực chỉ thánh đạo” (ariya-magga) và “dứt hẳn phóng tâm”, tương đương với “xả hết các cảnh khác” (aññaṃ ālambanaṃ vimutti), -tức là thức tánh hành giả vô bấn loạn (anuddhacca) không bị lạc hướng bởi một vọng động nào cả ! -Khi một người “đạt được”, hay “thuần thục nội dung” của “ĐỊNH THIỀN” (samādhi bhāvanā) như thế…thì phẩm cách hướng đến “mục tiêu” (sa kammatthāna) ấy…mới xứng đáng là MỘT trong BA “khả năng nòng cốt” để GIẢI THOÁT tam độc tham sân si, thuộc về Giới Định Tuệ !

3-Sau cùng là TUỆ THIỀN (Paññā bhāvanā). -Đó là “Sự Soi Sáng Vô Biên» (appamā joti) hay VIÊN TRÒN BÁT-NHÃ (Prajña=paññā paramattha pāramī). Với Tuệ Thiền, thì không một ác pháp nào có thể “ẩn núp, lẩn tránh” ! –Và vì “đã nằm hẳn” trong tam lực giải thoát (=Giới, Định, Tuệ), nên “TUỆ THIỀN” không ám chỉ sự “thông bác xuất chúng” kiểu danh tiếng phàm phu. -Mà một cách khác, “NÓ” có nghĩa là “soi sáng mọi mặt”, hay “Toàn Tri Diệu Giác” (=biết tận cùng vạn pháp). -“TUỆ” ấy (sappaññā) chẳng những thấu đáo mọi “lý hóa vật chất vũ trụ” (Sắc pháp = Rūpa-dhammā loka), -mà còn “quang minh thông suốt” tất cả “ngõ ngách phức tạp” ẩn sâu trong tinh thần chúng sanh (satta maṇo), nhất là loài người…!

*Nếu chúng ta tạm “chế định ngôn ngữ”, để làm “phương tiện qui ước”, nhằm tìm hiểu…thì “TUỆ THIỀN” chính là “thuần thục trong năng lượng phát quang” vô biên, tinh khiết, thanh thoát, siêu việt (lokuttara raṃsī), thoát khỏi mọi thiên kiến luân hồi (saṃsāra diṭṭhi vimutti) !

*Trong tiếng Pāḷī, ngôn ngữ phổ thông thời “Ma-kiệt-đà” (=Magadha, hơn 2500 năm trước), mà Đức Phật đã dùng với mục đích từ bi ban bố chánh pháp đến đại đa số quần chúng bình dân, -dĩ nhiên đối lớp người học thức thì tiếng nói ấy càng dễ nắm bắt. -Hai chữ “Ñāna” và “Paññā” (Saṅskrit : “Prajñā”), đều có thể chuyển ra Việt ngữ là “TUỆ”.

 -Nhưng *“tuệ” dịch từ “Ñāna” chỉ có nghĩa là “thông thấu cốt lõi” một lãnh vực hay một tầng hành động (thực nghiệm) nào đó (asatho) mà thôi. *Còn “TUỆ” là “nội dung” của “Paññā” hay “Prajñā” thì khác hẳn. -Đó là “TRI THỨC” thông thấu tất cả, -nhất là với đặc tính vô chấp “vừa sáng suốt vừa toàn xả”, không có “sự tự hào” những gì mình biết…là “hạng nhất”, một cách chân chất, minh bạch (ariya sacca). –“TUỆ” ấy (sapaññā) luôn luôn xác nhận “cái thật trong tam giới vẫn là cái thật trong vô thường, phù du”, –hằng biến => CÓ rồi KHÔNG, KHÔNG rồi CÓ…-hay phàm nhân “cũng thấy” qua hiện tượng CÓ như KHÔNG, rồi KHÔNG như CÓ, nếu tâm thức chứa “LINH QUANG” Bát-nhã !

<>Có lẽ tiền nhân đắc đạo nhà Phật của chúng ta từng “nắm bắt được” cái “vi diệu thậm thâm” ấy, nên đã thỉnh thoảng chỉ ký âm hóa “PAÑÑᾹ” (hay “PRAJÑA”) thành “BÁT-NHÔ, chứ không an tâm phiên dịch “PAÑÑᾹ” (hay “PRAJÑA”) ra “hán việt” một cách rườm rà, bằng nhóm chữ “trí tuệ bát-nhã”? -Lý do, -vì “nội dung xuyên thấu” của “bát-nhã” chính là “TRÍ TUỆ THOÁT TỤC” (puthujjana pamokkha ñāna) trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh. -Còn 2 tiếng “Bát-nhã” (Prajña) thì đơn giản ngụ ý là “phẩm cách siêu tam giới” trong Thánh tâm toàn xả (sabba upekkhā citta viññāna) mà thôi ! -Phải chăng họ sợ làm rối óc các thế hệ học Phật sau nầy ?!

<>Mặt khác, hai chữ “TUỆ THIỀN” (paññā-bhāvanā) chúng ta chỉ thấy “đề cập” gián tiếp trong “SÁCH TU”, mệnh danh là Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga), gồm “Thanh tịnh Giới”, “Thanh tịnh Định”, và “Thanh tịnh Tuệ”, -chứ không thấy nói đến trong các “tài liệu phổ thông về ĐỊNH” hay “chú tâm nhất điểm” (nói chung), -kể cả “trong cầu nguyện” thuộc về “truyền thống tương thông”, giữa phàm phu và thần thánh (hay “Thượng đế”) của hầu hết tôn giáo khác.

-Nghĩa là “GIÁ TRỊ” của hiệu lực chăm chú không phải chỉ được “đề cao” và “khuyến khích” trong Đạo Phật, mà hầu hết các tôn giáo trên thế gian cũng đều trân trọng. -Một số “sách thiền” (bhāvanā pakaraṇa) trong đạo Phật còn gọi “giá trị” ấy là “Minh sát” (vipassanā) hay “thiền tuệ”. Nhưng chúng tôi vẫn chưa tìm ra lý do căn bản chính xác ! -Có lẽ bởi từ ngữ “minh sát” (lý thuyết) khi nghe thoáng qua, có vẻ giống với sự biểu lộ của “Tuệ Thiền” trong Thanh Tịnh Đạo, nhưng trong chiều sâu “ấy” vốn không cùng một loại !

<>Bởi chúng tôi thiết nghĩ “TUỆ là sự phát quang của ĐỊNH, được thành lập trên nền tảng GIỚI HẠNH. -Nói rõ ra, “định” là “nhân”, và “tuệ” là “quả”. -Hay “ĐỊNH” là “phương pháp áp dụng” (thuộc về cách tu). -Còn “TUỆ” là “hiệu lực nở ra” từ thuần thục pháp hành tập trung tinh thần. -Dĩ nhiên, sự phát quang đó đồng thời cũng được TÂM nhất định và toàn xả, xử dụng như ánh sáng thanh tịnh, để “minh sát”, hay khách quan nhận diện chính bản thân mình. -Đó vốn là “lợi khí thần diệu”, hay “LINH ĐĂNG” rọi đường thăng hoa, chứ không phải phương pháp, để “thực hiện” đối với những người chưa thuần thục GIỚI THIỀN và ĐỊNH THIỀN…nên vội vàng gọi là “minh sát” là “thiền tuệ” thì không xác minh lắm !

-Vả lại, “TUỆ THIỀN” (“Prajñā-bhāvanā” trong Thanh Tịnh Đạo) là một “lãnh vực” khác ! “Tuệ thiền” ám chỉ hành giả (hầu hết là Thánh nhân) thường xuyên sống trong “thường định” (akālika-bhāvanā), nên mọi hành vi của các Ngài lúc nào cũng VÔ NGÃ (anatta). -Đó là một hạnh sống anh minh, giải thoát, vô nhân vô quả (TOÀN XẢ)…nên có thể mệnh danh là “TUỆ THIỀN”! -Mà đã chứa nội dung “Tuệ thiền là Vô ngã”…thì quang điểm đặt tên của phàm phu về “cách sống” của các bậc thanh tịnh (dứt tham sân si), thì khó đúng được !

*Ví như rất hiếm những “đạo sĩ ẩn dật” (=khiêm cung). -HỌ giữ đúng giới luật (=tuyệt đối không gây hại chúng sanh) là một điều TẤT NHIÊN. Nhưng họ hằng TỰ DO (vimutti, pamokkha), và HỶ XẢ không tuân theo một nguyên tắc hành chánh, hay nội qui một tổ chức hữu lậu lớn nhỏ nào trên thế gian cả ! -Họ ung dung, tự tại…chẳng cần được xã hội xem là “TU THẬT” (satho) hay “TU GIẢ” (asatho), hoặc có danh nghĩa cao thấp gì hết ! -Họ không sở hữu bất cứ cái gì có giá trị phàm tục, -những vật do tham sân si mà có. -Họ không chú ý danh lợi, và cũng không tranh thủ với bất kỳ ai. -Họ vui vẻ sống đúng theo thiện pháp, luôn luôn tạo duyên lành đến hết kiếp hiện tại (=vòng luân hồi chót). Họ chẳng bi quan lẫn lạc quan, và đối đãi bình đẳng trước tất cả mọi người, hay vạn vật đối tượng xung quanh !

*Nếu chúng ta không ý thức được cái phẩm cách độ đời siêu thoát đó (hay “tuyệt ba-la-mật”), rồi vội vàng gọi hạnh kiểm tự nhiên (=vô tham, vô sân, vô si, hỷ xả) ấy của Thánh Nhân, là “CÁCH TU” mà phàm nhân có thể “cũng thực hiện” được (?)…thì coi chừng bị “sự đóng kịch” (=đạo đức giả) của thế gian, do tham sân si chủ động…lừa gạt !

-Vì sao ?! -Vì VÔ THAM (alobha), VÔ SÂN adosa) và VÔ SI (amoha) chính là “Ba Thành Tựu Ba-la-mật” (pāramī), hay kết quả của HÀNH TRÌ Giới Định Tuệ, chứ ẤY không phải là “phương pháp” như Giới Định Tuệ, để có thể xem là “cách tu” mà bắt chước cái bề ngoài !!!

*Có khi THÁNH NHÂN chính là “hiện tượng lạ” trong một số THỜI SỰ. -Họ không quan tâm đến việc thế gian “đánh giá” họ cao/thấp như thế nào. Rồi họ ngẫu nhiên trở thành “đối tượng hy hữu”, hay “đề tài lẫn mục tiêu tuyệt hạng…để người đời lý luận cạnh tranh”, nhằm trục lợi. -“Đạo Phật Nguyên Chất” khách quan gọi “HỌ” là “tịnh nhân” (=thiện sĩ), sống ẩn dật bằng “HẠNH ĐẦU ĐÀ” (Dhutaṅga pabbajitā), để hóa giải phiền não (āsava vimutti) !

<>Về “khẩu ngôn chánh niệm”, những Thánh nhân như thế chỉ thỉnh thoảng “phát ra” 2 tiếng “MÔ PHẬT” giản dị, ám chỉ sự cung kính đối với toàn thể Các Bậc Giác Ngộ (Buddhā), chứ các Ngài không ấn định là vị nào. -Ngoại trừ để “xác nhận” một Vị Phật “đã giáng trần” (hay có thật), thì Các Bậc Tận Phiền Não chỉ nhắc tên “Vị Phật lịch sử”, như “Thích-ca Mâu-ni” chẳng hạn. -Chứ các Ngài không bao giờ niệm “danh hiệu một vị phật hoang đường”, gọi là “tiếp dẫn đạo sư”…để làm cho nhân loại có thể rơi vào tình trạng tưởng tượng, mê tín ! -Và tất nhiên những phần tử “sống nhờ quảng cáo lẫn thổi phồng các chuyện lạ”…như huyền năng, tha lực…vẫn bám theo họ như “bóng với hình”…để trục lợi và quấy rầy họ không ít !

*Nhân đây, chúng tôi xin nói sơ qua 13 pháp tu “Đầu-đà” (Dhutaṅga) một cách chỉ giới thiệu, mà không bình phẩm, hay không đi vào chi tiết, -sợ lạc đề đối với nội dung “Minh Triết trong Giới Định Tuệ” :

Tổng quát mười ba hạnh đầu đà.

(Tedasa dhutaṅga bhāvanā)

<>“ĐẦU ĐÀ” (dhutaṅga) theo nghĩa tự điển là “đốt cháy” hay “tẩy sạch” dục vọng. Trong “Phật giáo Nguyên Chất”, ĐẦU ĐÀ chính là “pháp hạnh thoát ly ô-nhiễm” (pamokkha dhammā), hay giải khổ luân hồi (saṃsāra dukkha vimutti). -“ĐẦU ĐÀ” không phải lối tu mù quáng hành xác mà Đức Phật đã bình đẳng bác bỏ. -Vì “mê tín hành xác” thuộc về vô minh (avijjā), còn “đầu đà” là thể hiện của THANH TỊNH (visuddhi) và TRÍ TUỆ (Paññā), không để cho dục vọng lôi kéo !

*Hạnh Đầu Đà đã được Ngài Sa-môn Pháp Âm (Buddhagghosa), thế kỷ thứ V sau Tây lịch, giải thích rất soi sáng và cặn kẽ, trong Thanh Tinh Đạo (Visuddhi-magga), cuốn sách nói về “Đại Viện Vô lượng” (Mahāvihāra) trong Thượng Tọa Bộ, thuộc “Phật Giáo Nam Truyền” (Theravāda). Đó là “PHÁP SIÊU THOÁT” (Lokuttara dhamma). -Và theo Ngài Pháp Âm, thì “NÓ” gồm 13 hành trì thanh tịnh, hay “Đầu Đà Thập Tam Hạnh” (Tedasa dhutaṅga brahmacariyā), gồm :

1/Mặc “Y phấn tảo” (Paṃsukūlika-aṅga). -Hành giả phải lượm vải vất bỏ bên đường, hay trong nơi tống táng, hoặc gần chỗ hỏa thiêu người chết (phổ thông vào thời cổ Ấn-độ). -Nói chung là “vải ấy” không thuộc về ai cả. -Tiếp theo người tu giũ sạch bụi bám (=phấn tảo)…rồi giặt sạch, chắp vá thành “3 mảnh” (=tam y) để che thân…suốt đời.  

2/Tam Y (tecivarika-aṅga), gồm a/“Tăng-già-lê” (saṅghātī), dày nhiều lớp, dùng khi trời giá lạnh, b/“Uất-đà-la-tăng” (uttarāsaṅga), mặc thường xuyên quanh thân, phủ từ “ống chân” lên kín vai trái, và c/“An-đà hội” (antaravāsaka), quấn từ eo lưng xuống tới “mắc cá” bàn chân).

3/Sống nhờ khất thực (pindātika-aṅga). Chỉ nhận đồ ăn lành mạnh (=không chứa sinh mạng), hợp pháp, đúng lẽ đạo…từ người hảo tâm một ngày một lần, trước 12 g trưa.

4/Khất thực với tâm bình đẳng (sapadānacārika-aṅga). -Nghĩa là “xin ăn gieo duyên vô tư”, không phân biệt thí chủ giàu hay nghèo, thực phẩm do họ trao tận tay ngon hay dở.

5/Chỉ ăn mỗi ngày 1 lần, vào giữa trưa (ekāsanika-aṅga).

6/Luôn luôn ăn trong bát (pattapindika-aṅga), không dùng đồ đựng khác, như chén đĩa chẳng hạng.

7/Xong bữa thì dừng hẳn, không ăn nữa (khalupacchābhattika-aṅga).

8/Trú ở rừng (araññika-aṅga).

9/Ngụ cạnh gốc cây (rukkhamūlika-aṅga).

10/Ngủ giữa trời (abbhokāsika-aṅga).

11/Ẩn trong nghĩa địa (sosānika-aṅga).

12/Chỗ khất sĩ nghỉ qua đêm phải không gây phiền phức đến xung quanh (yathāsanthatika-aṅga).

13/Chỉ đứng, đi…và ngồi mà không nằm (nesanjjika-aṅga). 

<>Quay lại TUỆ THIỀN (prajña-bhāvanā), đây vốn là “pháp môn giải thoát dục vọng”, xuyên qua áp dụng 13 hạnh đầu đà, một cách trung trực (majjhima paṭipadā), nên mỗi hành giả có chánh kiến (sammā diṭṭhi) phải vô tư “đi sâu vào” THANH TỊNH ĐẠO (Visuddhimagga), mới có thể “nắm bắt” và “xác nhận được” tính tích cực của “13 pháp thoát ly” ấy, một cách sáng suốt, khoa học, -để không lẫn lộn với “khổ hạnh” (=đày đọa thân thể) của “Bà-la-môn giáo” (thời cổ Ấn-độ) !

<>Do 13 hạnh đầu đà trong nhà Phật, không lấy HÌNH THỨC cực đoan hành xác, để thay thế NỘI DUNG thanh lọc tinh thần, hay làm sạch thân tâm để tiến hóa vô oan trái, nên gọi là THOÁT LY ! -Nhất là tránh xa sự lầm lạc, mê tín rồi đui mù…tư hào cho rằng, nếu ta triệt tiêu tất cả vận hành tự nhiên của thân thể (khổ hạnh)…thì đó là “công phu cao nhất”, để ta sẽ được “Vua Trời Phạm Thiên Toàn Năng (Mahā Brahama) ban phước, chọn về Thiên giới với Ngài”.

-Và nếu xét kỹ chiều sâu, thì đó là tật cố chấp (thuộc tà tư duy hữu lậu), hay “hành động thù ghét vật chất” (=giận hờn sắc pháp, dị ứng cõi trần), vô minh chống lại các “hiện tượng biến ảo” của “Tứ Đại Nguyên Tố” (Catu mahādhātu), hằng “vô thường”. -Thay vì khách quan xem mọi hiện tượng vốn là “kết tinh kỳ diệu” của “TỨ ĐẠI SIÊU VIỆT” (Catu Mahābhūta), vẫn “vô danh” và “vô định”. -Cả 2 nguồn gốc vật chất, gồm TỨ ĐẠI SIÊU VIỆT và “Tứ Đại Nguyên Tố” đều không ai trong tam giới có thể biết rõ và “đối phó” một cách “theo ý nguyện” (=tham)…-ngoại trừ ấy là Toàn Giác Phật (Sammā Sambuddha).

-Nếu chỉ nhìn “bề ngoài” của sự “KHỔ HẠNH” (atta-kalimathā), tức “HÀNH XÁC” một cách “vô lý tác ý” (ayoṇisomanasikāra) theo kiểu “Bà-la-môn giáo” (thuộc Văn hóa Vệ-đà, Thần quyền Cổ Ấn-độ), -mà không thanh tịnh quan sát chiều sâu của “ÁP DỤNG” 13 pháp tu đầu-đà, thuộc Văn hóa Đạo Phật, nhằm Giác ngộ Sự Thật Vô Thượng (Anutara sacca)…thì dường như “giống nhau”. -Nhưng khi “nghiệm chứng” NỘI DUNG thì “chung kết” của “2 phương pháp hành động” ấy…vốn hoàn toàn khác nhau. -Rằng một bên (Bà-la-môn giáo) thì hướng về “tha lực”, -còn bên kia (Đạo Phật) luôn luôn hướng về “tự lực” Ba-la-Mật !

(*Tưởng cũng nên nhắc lại rằng “MINH TRIẾT trong ĐẠO PHẬT không đồng lõa với bất kỳ ai…xuyên qua lý luận chủ quan…để cố ý qui chụp chung chung cho một đối tượng, rằng đặc tính văn hóa nầy hay phẩm cách tôn giáo kia” là “tốt” (chánh) hay “xấu” (tà), -mà “Minh triết” ở đây là mục đích đưa đến GIÁC NGỘ GIẢI KHỔ (cho mình và cho tất cả chúng sanh), hay chủ trương soi sáng, làm bộc lộ tận cùng MỌI SỰ THẬT (Sacca pakaraṇa) !

-Người phát nguyện ¨Noi Gương Thoát Ly Tam Giới” (Bodhi-yogī) của Chư Phật, thực hành “13 hạnh đầu đà” (Dhutaṅga) thì chính họ sẽ tự biết rằng “mình sống thanh tịnh để nâng cao chánh kiến (sammā diṭṭhi unnāmeti), để tẩy sạch tham sân si (lobhe-dose-mohe nāseti), để tiêu trừ oan trái đối với chúng sanh trong vô lượng kiếp qua (vera nivattana karoti), để vô ngã (anatta hoti), để đủ trí tuệ lẫn tự lực (paññā-aparavasatā bhavati), và sau cùng để chấm dứt luân hồi (vimutti, pamokkha abhsameti). “Hành giả đầu đà” (dhutaṅga yogī) đã THÀNH ĐẠO, tất nhiên sẽ không bị ảnh hưởng bởi những “phê phán thế gian” (puthujjana-bhāsa), kết luận mình là gì ! -Phong thái của các Ngài có thể diễn tả bằng 3 câu thơ mộc mạc sau đây :

“Như tảng đá vững vàng, không lay chuyển.

Hàng Thoát Ly thanh tịnh giữa cuộc đời.

Khen chẳng mừng, chê cũng thản nhiên thôi !”.

<>Nói tóm lại, “TUỆ THIỀN” (Paññā-bhāvanā) là “hoa trái”, gặt hái được từ pháp hành “MINH SÁT” (vipassanā), phối hợp với công phu “thiêu hủy phiền não” (gồm giới định tuệ đầu-đà), chứ ẤY không phải là “qui nạp” của lý thuyết “Minh sát”. -Riêng nội dung của “MINH SÁT” là “quán chiếu” với “ánh sáng định tâm” để nhận chân “phẩm cách giác ngô”, “phẩm hạnh toàn xả” hằng THOÁT LY tam giới !

*Và “Nội Dung của Tuệ Thiền” (Pañña-bhāvanā) như thế, cũng là “minh giải khiêm nhượng” giúp chúng ta cùng nhau suy gẫm…xem chủ đề “Hai sự “TÙY DUYÊN” và “BẤT BIẾN” có tương ứng với “PHÁP KHÉO LÉO TÁC Ý” trong Vi Diệu Pháp nhà Phật hay không ?!”…để kết thúc bài chia xẻ Phật học nầy !

__________

Votre commentaire