Và “Ba Pháp Ấn” tiếp theo..
Bài 5
<>“Tam học” (ti-sikkhā) là một “BỘ BA” (tika, tividhākāra) gồm giới định tuệ, (sīla samādhi paññā), -hay hệ thống thanh lọc thân tâm (saṃsodhanassa paṭipāṭi), đầy tương tác (paccayā), và là nền tảng cốt lõi (=paṭicca samuppāda), của TIẾN HÓA tinh thần phối hợp với thể xác. -Do đó, “GIỚI ĐỊNH TUỆ” cũng là “chân pháp duy hành động” (kammassa bhūtadhammā) không thể thiếu, đồng thời “chẳng bao giờ tách rời (hoặc gián đoạn) lẫn nhau”, trong mạch sống xoay vần.
-Hầu hết người học Phật “chín chắn”, sau khi nghe qua “TAM HỌC”, đều có “qui nạp khách quan” như sau :
*GIỚI (Sīla) hằng mang lại hiệu lực chấm dứt tội lỗi, tránh sa đọa và gây oan trái, ly khai cộng nghiệp khổ, giảm thiểu chịu đựng cảnh bất thiện với một hay nhiều kẻ khác.
*ĐỊNH (Samādhi) là hiệu quả diệt phóng tâm (=bảo tồn năng lượng sạch), sống an trú (=cô đọng nội lực thanh khiết), tạo quân bình cho tánh biết trong phẩm cách điều hòa thể xác lẫn tinh thần. Và…
*TUỆ (paññā=prajña) là “cơ năng phát quang”, -một CÔ ĐỌNG hùng hậu và tự nhiên, hay “hoa trái tinh anh” của “tập trung năng lượng an tịnh”…với phẩm lực cực kỳ thông thoáng, vô ngăn ngại…!
<>Còn “TAM ĐỘC” (ti-visā), hay tham sân si (lobha, dosa, moha) là “một dạng” hỗn hợp tánh tật, mang tính co rút, u-minh, nguyên nhân của sa đọa. -Và vì “triết học thế gian” đã “nhân cách hóa” chúng, nên 3 thứ phiền não nguy hiểm nầy (ti-upaddāva-āsavā), thường làm cho tâm thức (citta-viññāna) mỗi chúng sanh dễ bị ô-nhiễm, nhất là loài người. -Vì NÓ ám chỉ “ba thứ độc” (tham sân si), hiển nhiên là nguồn gốc của những xung đột…hằng làm cho sự sống tất cả sinh linh bất an, nhất là động vật thấp thỏi, không ngừng chịu đựng (dukkha) thuận lẫn nghịch (mānāpaca amānāpaca) trong số phận tồn tại, đầy vô minh (avijjā) và luôn luôn lạc lối…!
*Phật học vẫn báo động rằng “chúng sanh dục giới khó tìm ra định hướng hóa giải, để giảm thiểu bị vùi dập…suốt những kiếp sống xoay vòng (luân hồi), chứa nhiều khổ hơn vui, hỗn độn thuận nghịch xen kẽ…và thường xuyên tạo thất vọng” !
<>Tình trạng bất thiện nầy có thể làm cho “tâm hồn” (hay tinh thần) con người rơi vào “1 trong 2 tư tưởng cực đoan”, thuộc về nhị biên pháp (dualites)…-rồi bám chặt THÂN TÂM như “dịp duy nhất để tồn tại và hưởng thụ” (=lợi dưỡng), bất chấp lương tri bẩm sinh, -hay ngược lại, vô minh hơn nữa là ruồng bỏ THỂ XÁC, cực đoan xem đó là “ô-trược, phù du, đáng kinh tởm”, để “đàn áp” kiếp sống một cách đui mù, đày đọa bản thân…không để cho nó được diễn ra bình thường (=hợp lý), -chủ trương “tuyệt đối khổ hạnh” !
-Chưa kể NÓ “phản đối trí tuệ”, do “hành hạ thân mạng” là một loại tà kiến nguy hiểm, bế tắc…dẫn đến ngu si, bi quan cực độ…“chỉ muốn chấm dứt càng sớm càng tốt mạng sống (vốn khó đạt phẩm cách sinh làm người)” –thay vì phải nhận thức rõ rằng, “khuynh hướng ấy luôn nghịch chiều tiến hóa, đi vào ngõ cụt”, -mà lẽ ra con người cần phải mỗi ngày một cố gắng thoát ly, nhằm tìm đến ánh sáng khai thông, để nhận diện và cải thiện thân tâm, xây dựng bình an thực tại, -hầu đạt đến văn minh…-CHẤM DỨT lạc hậu, “giải thoát ngu dân” !
*Và trong cõi dục, cái gọi là “tinh hoa tư tưởng về cuộc đời”, hay “triết học sống” (philosophy of life), của các hạng trí thức phàm phu “nổi danh” giữa xã hội đầy tham vọng , phải không ngừng tìm kiếm giải pháp “giảm thiểu cuồng loạn” (vật chất cũng như tinh thần) của con người…như một “hiến pháp tiến bộ”, không để cho nó chứa cả khai mở rồi bế tắc, hướng tới và thụt lùi. -Dù cho người đời có mệnh danh “tinh hoa tư tưởng” kia là “mớ học thuyết” gì đi nữa ! -“Triết học sống” ấy vẫn là cái “VỎ BỌC” của qui nạp nhị biên, vừa nhìn nhận vừa phủ nhận, gián tiếp đầu hàng tình trạng lẩn quẩn, hay “đối đãi 2 chiều” (ways of duality), dựa vào “luật sinh tồn” tạm thời (law of existence impermanent), để xác nhận một cách “vô minh” TÍNH SONG ĐỐI, “bất di bất dịch” (perpetual) !
*Nhưng MINH TRIẾT trong ĐẠO PHẬT (añña bhūta dhammā) thì khác…! -NÓ “chế định” rõ ràng rằng, “sống tiến hóalà tri hành hợp nhất” (xuyên qua mọi thiện pháp), hay “áp dụng văn hóa” một cách sáng suốt, khoa học. khai phóng ! -Chính “những lý lẽ được rút ra từ trải nghiệm thăng hoa…mới là nền tảng của “Minh Triết Nhà Phật”. -Và mỗi hành giả cần phải hoàn toàn vô tư trước “sự khám phá” trong tâm tư của mình, -như chỉ là “giác ngộ nhất thời”, vì nó cũng hằng biến, như mọi pháp hữu vi khác (sabbe aniccā añña-saṅkhārā).
-Như thế, NÓ mới không “cản trở” hành giả khám phá đúng thực tại (vô thường), theo tinh thần khách quan…tiến bộ…thoát ly…-có phẩm cách tiến dần đến phá chấp, THÔNG THOÁNG (nibbāna) đúng cứu cánh siêu độ (lokuttara pāramī), -tránh dẫm chân tại chỗ là chủ quan (=ù-lỳ), tương đương với lùi bước, vướng mắc, sa đọa, tiếp tục sự xoay vòng “hết thăng đến đọa”, lủng củng, quanh quẩn, luân hồi !
-Đó chính là “cái thấy” của TUỆ NHÃN (Dibba cakkhu = “mắt tâm”), do hiệu quả từ MINH TRIẾT (Bodhivijjā ñāyasattha visuddhi dassana), trên đạo lộ thanh tịnh của hạng người viên tròn thiện trí, có triển vọng chứng đắc PHÁP VÔ NGÃ, tiến tới Đại Giác Ngộ (Sammāsambuddha), -và Tính sáng suốt ấy gọi là Vô Lậu Bát-nhã (prajña) !
<>“Bộ ba GIỚI ĐỊNH TUỆ” (Tika : Sīla-Samādi-Paññā) là lối thoát duy nhất (ekayana maggo), có thể “đưa” tâm thức con người (manussa citta-viññāna) ra khỏi cảnh giới vô minh khổ não (avijjā āsava bhūmi), mà các “triết lý nhị biên” (vốn mâu thuẫn) hằng bí lối (=vướng mắc) ! Và “nó” chắc chắn cũng “giải thoát” thân tâm con người, làm cho đa số hữu duyên nhận ra chân pháp (bhūta-dhammā dassana).
-Tức là người sống theo “Phạm Trù Tu Phật” sẽ luôn luôn HỌC và HÀNH để biết chắc rằng :
*GIỚI (sīḷa) trong đạo giải khổ phải luôn luôn đi đôi với HẠNH (guṇa), bởi nó KHÔNG có mục đích “ép buộc vụ lợi”, như các “luật lệ” (thành văn hay bất thành văn phàm tình), -lắm khi chỉ xuyên qua thẩm quyền, ngôn ngữ, hay văn tự chế định độc tài của thế gian. -Trái lại, GIỚI trong Đạo Phật là “nền tảng” của sức mạnh hướng thượng (ariya bala), là “động cơ” của ly khai sa đọa (parihāni, parābhava vimutti), -và là phẩm cách của chấm dứt luân hồi (saṃsāra nivattana) !
<>Trong khi “triết học thế gian” xem “GIỚI” (sīḷa) như “tiêu chuẩn riêng của tinh thần”, sẽ thường làm cho người đời “nhiễm lý thuyết”, vướng mắc nghi lễ…dễ trở thành bệnh hoạn với “tư tưởng hoang đường”,kiến chấp tập quán phong tục, coi nhẹ hành động thiện cụ thể, và chủ trương “chứng đắc” bằng “tư duy” qua lời nói “cao siêu”…thì “Minh Triết trong Đạo Phật” sẽ là đối pháp thực tiễn, xem “GIỚI” là hành động “VÔ HẠI”… có thể “thuần thục hóa” cả THÂN lẫn TÂMcon người, trong hạnh sống thiện thục, thực tế, thanh tịnh !
<>Và để soi sáng, chúng ta có thể thẳng thắn kết luận, *“GIỚI trong triết học là cái vòng lý lẽ lẩn quẩn”, vốn hạn chế, có ảnh hưởng cố chấp, cầm tù tư tưởng, sa đọa, bất an. *Còn “GIỚI trong minh triết (Đạo Phật) là năng lực tri hành, hướng thượng, nhằm triệt tiêu cố chấp, xung đột, tạo ổn định”. -Nói cách khác, nếu GIỚI và HẠNH được hợp nhất, “cô đọng” thành một “công thức” thuộc về duyên khởi thoát ly, NÓ sẽ qui nạp rõ ràng qua câu nói chỉ nam của nhà thiền, “GIỚI năng sinh định”, rồi “ĐỊNH năng sinh tuệ”. -Và tiếp theo “TUỆ” (prajñā=bát-nhã) vừa là “năng lực” vừa là ánh sáng, để phá tan các vô minh cố chấp, -kể cả “chấp vào thiện pháp”, rồi sau cùng trở thành TOÀN XẢ (sabbupekkhā), TỰ ĐẠT giải thoát hoàn toàn (sakala-nibbana) !
<>Xin nhấn mạnh rằng “ĐỊNH” (Samādhi) trong Minh Triết Đạo Phật, là “Đặc Sản” (vises’abhinipphādana) của “Vườn Hoa Chánh Thiền” (sammā bhāvanā patthāna). Khi dựa trên kinh điển Pāḷī (=“Phật giáo Nam Truyền”) thì NÓ có thể được xem là “thước tấn tiến hóa” (kusala metu), mà các bậc viên tròn phạm hạnh (brahmacariyā) thường gọi là “nguồn tri thức tỏa sáng”, hay “nền tảng” của “VIPASSANᾹ” (=Vi Diệu Pháp kiến), tạm dịch là “MINH SÁT”.
*ĐỊNH (=samatha = ekaggatā). *Và “MINH SÁT” ở đây luôn luôn có “2 đặc tính cứu độ” (dupāramī-lakkhaṇa), là “hiệp thế” (lokya = còn luân hồi) và “xuất thế” (lokuttara = hết luân hồi). -“Định hiệp thế” vốn là “cái phao không bao giờ chìm” hay “đòn bẩy nội công”, để đẩy tâm linh hành giả tiến lên thanh tịnh cao hơn, siêu việt hơn…chuẩn bị cho diệt tận tham sân si…thoát ly phiên não (āsavakkhayaññāna) !
*Ba chữ “Định Hiệp Thế” (lokiya samādhi) cũng ám chỉ phẩm cách “nhất tâm bất loạn nhưng có thời hạn” (tối đa 7 ngày), -nhà thiền gọi là THỜI ĐỊNH (samaya samādhi). *Và mặt khác, “Định Xuất Thế” (lokuttara samādhi), chính là khả năng miên giải, ám chỉ “sự trụ tâm bất đoạn => tỉnh thức liên tục, vô giới hạn, phi thời gian” (akāla ekaggatā), tương đương với ý môn thanh tịnh thường xuyên, qua từng sát-na (khaṇa ariya sati-sampañña), nên còn có thể gọi là THƯỜNG ĐỊNH (Satataṃ Samādhi).
-Nói về hiệu lực tiến hóa (abhivuddhi vipāka) thì, “định hiệp thế”sẽ giúp thân tâm hành giả thoát khỏi sa đọa, không tái sinh xuống những cõi thấp thỏi,dưới kiếp người (như súc sinh, a-tu-la, ngạ quỉ, địa ngục). -Và “định hiệp thế” (lokiya samādhi) cũng giúp cho “tinh thần tịnh nhân” nhẹ nhàng, thăng hoa lên những cảnh trên”, gồm các cõi của thiên chúng hữu sắc (rūpa) và vô sắc (arūpa).
*Nhưng một cách khác, “định xuất thế (lokuttara samādhi)thì thoát ra tam giới, đại nhập vào “toàn xả vô lậu”, khi hết tuổi thọ thì dứt sinh tử luân hồi, hay “niết-bàn” (nibbāna) !
<>Nói chung, “ĐỊNH” (ekaggatā) hữu hạn (odhikata) hay vô hạn (ananta) nêu ra ở đây, bao gồm cả hai “kết quả liên tiến”, là từ viên mãn nhập thế (=dứt tội lỗi, hết oan trái, tận phiền não), đến -CỨU CÁNH, toàn xả thoát ly, –siêu sanh bất tử, “triệt tiêu tam giới luân hồi” (tiloka saṃsāra vimutti).
<>THIỀN HỌC (bhāvanā) mà chúng ta chia xẻ ở đây chẳng liên quan gì đến chuyện “viện lẽ phá chấp, chẳng vướng mắc vào giới định tuệ” để tránh thực hiện công phu thanh lọc ô trược…nhằm nuông chiều tật lười biếng, thụ động, chủ trương chẳng làm gì hết (dù cho trước mắt là thân tâm đang bơi lội trong môi trường cộng nghiệp tham sân si !)…và tệ hơn nữa là cầu cạnh vào “triết lý tánh không” (=vô ngã, “hư tưởng”, “phiêu lưu”, một cách TIÊU CỰC, tương đương với “TÀ KIẾN” (miccha-diṭṭhi), phát sinh do “sở tri chướng” !
*Sau cùng, “TUỆ” trong Minh Triết Đạo Phật là phẩm cách kết thúc của “con đường giác ngộ”, còn gọi là “Bồ-đề Bát-nhã” (bodhiyā-prajñā = bodhiyā-paññā), tức “thục quả tuyệt đỉnh” (tinh khiết), có “năng lực phát quang”, siêu thoát hùng hậu, xuyên qua thiền tâm của nhiều bậc Thánh, từ TU-ĐÀ-HƯỜN (sotāpanno) trở lên…để soi sáng, khai thông đa chiều bất thiện, ngăn mọi sa đọa, không chừa một khe hở nào cho vô minh “xen vào vận hành” (avijjā saṅkhārā), gây ra “tái tạo các vòng sinh tử” => CỨU CÁNH !
-Vì “hiệu lực đặc biệt” nầy, mà Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) trong Phật giáo Nam truyền (Theravāda) đã ghi rõ về GIẢI THOÁT CUỐI CÙNG rằng, “chỉ đến trình độ A-la-hán ĐẠO(Arahatta-magga),thì VÔ MINH mới thực sự khô rễ, tự yếu và bất lực hẳn…để chắc chắn sẽ bị triệt tiêu, trước khi Bậc Đại Thanh Tịnh chứng đạt A-la-hán QUẢ(Arahatta-phala)”. -Rồi “Như-lai Hữu dư niết-bàn” (Tathāgata-upāsdisesa-nibbāna), hay “dứt sanh tử xoay vòng” sau kiếp chót (nibbana) mới bắt đầu từ đó !
<>Nhưng phàm nhân thì bởi chìm mãi trong vô minh (avijjā), si mê (moha), và cố chấp (upadāna), mà hằng bị cầm tù bởi tất cả những hiện tượng học thuyết (nhị biên lừa gạt) trong bộ máy luân hồi, do nghiệp chung và quả riêng tạo ra…mà không thể “biết rõ” SỰ THẬT (ariya sacca dhammā), nên thường tối tăm…lầm lạc kết luận “Phật giải thoát tam giới là tuyệt diệt” !
<>Ngoài ra, cần minh bạch thêm : “BÁT NHÔ trong “Minh triết Đạo Phật”, là một “tuyệt năng” soi sáng vạn pháp MỘT CÁCH KHÔNG MÀU SẮC, rằng, “NGƯỜIđã tẩy sạch tham sân si (=chẳng còn quả ác bất cứ loại nào), và TOÀN XẢ QUẢ THIỆN mới thật sự gọi là Bậc Giác Ngộ” (Ariya Puggala = Sammāsambuddha), giải thoát !
*Ngược hẳn với những ai…chủ trương “tư tưởng vô chấp”, hay “lý thuyết tánh không”, -mà thân tâm ô trược của họ vẫn còn hiện hữu trong cảnh phàm tục, -cõi vật chất không ngừng tàn úa tan rã (=sinh lão bệnh tử), và tự nhận lầm “mình là hạng thượng căn, thượng trí” (miễn nhiễm tật xấu), không cần tu hành gì hết, -cứ sống “an nhiên” kiểu “vô vi”, xem vạn vật “như đang là”….thì đó chính là những kẻ “tinh vi nuôi dưỡng độc tố”, nuông chiều bản ngã. –giúp cho tình trạng bất thiện ấy phát triển hằng ngày…mà họ không biết, để chắc chắn sẽ bị cái “ta sở tri chướng” làm khổ !
-Vậy phẩm cách đúng (bhūtabodhi) của “GIÁC NGỘ” là gì ?! -Xin mô tả một cách bình dân, đi thẳng vào đề tài…rằng “Bậc Giác Ngộ” là :
<>THÁNH NHÂN một mặt đã thông suốt “TAM PHÁP ẤN” (gồm vô thường, khổ não, và vô ngã), -đồng thời tâm thức Ngài cũng xác nhận “ấy là một định luật muôn đời” (HẰNG THẬT !), trong ba cõi (trời, người, và đọa cảnh, “luôn luôn làm duyên, tạo ra sinh tử luân hồi”, -chứ “TAM PHÁP ẤN” không phải là “một khái niệm tương đối”, dựa trên “phân tích”, xuyên qua 6 giác quan tri thức phàm tình !
*Mặt khác, THÁNH NHÂN cũng thuần thục trong TAM HỌC (giới định tuệ), không còn tam độc (tham sân si), không còn “sở tri chướng”, không còn vô minh (-thứ ác pháp tự nâng cấp lầm lạc “thượng căn” và “thượng trí” nơi mình…là do may mắn, hoặc do “tạo hóa ban cho”. Bởi thế, trước khi đạt toàn xả để thoát ra tam giới, các Ngài đã tích cực trải qua vô số kiếp sống đầy công phu tu tập, để hóa giải toàn bộ nghiệp quả, xuyên qua ba cửa THÂN KHẨU và Ý, lấy CHÂN LÝ “nổ lực mới cậy trông” một cách vô chấp, nhằm thoát ly sinh tử, chứ không tùy thuộc vào tư duy, lý thuyết, hay “ngoại năng”…do lười biếng !
<>Ở đây, 2 chữ “GIÁC NGỘ” tạm nên được “cụ thể hóa”, là không có hàm ý triết học, mà chỉ giản dị là “chứng đắc được các pháp siêu việt mà một sinh linh chưa đạt tới hay khó biết”. -Đó là những vận hành (saṃsāra) trong thân tâm mỗi động tử (jīvita), hằng làm cho toàn thể chúng sanh luân hồi (sabbe satta)…!
-Nói cách khác, “Khi Giác Ngộ” tức là “Thánh nhân đã nắm vững các biến dịch của mọi hiện tượng” (lẩn quẩn), để dứt khoát thoát ly…hay TOÀN XẢ (sabbupekkha), hết vướng mắc, vô lậu tự tại trước tất cả tình trạng nhị bên, CÓ và KHÔNG, hợp và tan…gồm “mầm móng” của KHỔ lẫn VUI (hay cả hai). -Đó cũng là thanh tịnh Bát-nhã !
*Quay lại THỰC TẠI nhiễu nhương, và nhìn vào cảnh tượng chung (cộng nghiệp), chúng ta thấy “động cơ dẫn đầu” của cái gọi là “triết thuyết thương mại” trênthế giới ngày nay, đang diễn ra…phiêu lưu vào nền văn minh tin học”…đặc biệt qua “kỹ thuật liên lạc số”, mệnh danh là “lý hóa quảng cáo”. -Chỉ riêng một ngành “youtube” thôi…bộ óc của con người đã hiển nhiên đóng “vai trò tạo hóa” của mọi “sản phẩm thính thị” (kể cả giới thiệu “tâm linh”), bỗng “một sớm một chiều” mang lại rất nhiều lợi nhuận vừa THẬT vừa GIẢ !
<>Ngày xưa “thánh nhân” (ariya puggala) hay “phàm phu” (puthujjaṇa) đều do “tri thức bẩm sinh” (còn gọi là “giác quan thứ 6” hay “linh tính”) của con người để “phán đoán”, “nhận diện”, và “qui nạp” thành một phẩm cách nào đó, -Phật học gọi chung là “đánh giá” của “thông minh” hay “mẫn tuệ”, ám chỉ “tâm quả sáng từ kiếp trước” (vipāka citta). -Nhưng ngày nay, cái gì được “đề cao”, nếu không muốn nói là “phong thánh” thì luôn luôn do “sự khéo léo” của lòng THAM, nhằm gian xảo săn tìm lợi nhuận, -nhất là xuyên qua “kỹ thuật đánh bóng” của youtube” !
<>“Các nhân vật” thật sự hướng THIỆN và hướng THƯỢNG, dù “ẩn dật” nơi đâu, cũng không thoát khỏi “bàn tay phù thủy”, của nhiều loại “YOUTUBER”! -Họ kiếm lợi bằng cách “dựng lên thần tượng” rồi “thổi” phù phép (“AI”=trí tuệ nhân tạo lượm lặt) vào ĐÓ, để tung lên “mạng” nhằm phục vụ hệ thống “thông tin tuyên truyền quảng cáo” (internet propaganda). -Và các “vai chính” (luôn luôn ngẫu nhiên !) trong “vận động trường thời sự” ấy, rất khó tránh xa…để khỏi bị làn gió ồn ào thị phi ấy quét trúng !
-Chưa kể, “tập khí chung của lòng tham”, biểu lộ do tâm tánh và thân phận làm người của mỗi phàm phu, vốn luôn luôn SỢ bị xã hội đè bẹp, rồi được thúc đẩy bởi “chút thông minh bẩm sinh”…“tự sáng chế” “một cách lý thuyết các phẩm hạnh thoát tục”, đồng thời đưa ra lý thuyết biện luận rằng…“ẩn cư là ích kỷ, chỉ chọn bình an riêng cho mình”, là “không nhập thế”, là “không xả thân vì đời” ! -Tất cả nhằm đánh lạc hướng, hay “vô hiệu hóa” sự thủ tư cao thượng của những bậc chân tu (có thân giáo minh bạch), chưa bị họ khai thác thu hoạch !
-Về phía “hành giả ẩn dật”, phải chăng các ngài đã quên mất cái “CHÂN LÝ MUÔN ĐỜI” trong Vi Diệu Pháp nhà Phật (abhidhamma), rằng giữa vũ trụ mênh mông (hay tam giới chúng sanh), KHÔNG CÓ nơi nào là chỗ “biệt lập thật sự”, để tuyệt đối CHẲNG tiếp xúc (=liên hệ) với ai, và gọi chính xác đó là nơi “ẩn cư sống thiện”, hay “tạm tùy hoàn cảnh tiếp độ” nhân quần…bằng tấm gương hành trì chánh pháp của mình, trước CỘNG ĐỒNG gần hay xa !(?)
*Vả lại, trên thực tế, các Ngài vẫn luôn luôn “bất lực” trước tham vọng có “kỹ thuật số tinh vi” (=khai thác đạo đức tha nhân để thu lợi) của thế gian tân tiến ngày nay ! -Ngay cả cái nấm mồ vô tri, -nơi “an nghĩ cuối cùng” của THÁNH NHÂN (Ᾱriya puggala), dành cho kiếp sống chót…trước khi tan biến vào không gian và thời gian vô tận, cũng phải “Bị chôn cất một cách hoành tráng” do ý muốn của “hậu thế”, bởi lý do “Tiền nhân đã một thời là bậc có ân đức, danh tiếng trên đời” ! (?). -Kể luôn cả hỏa táng, thì ”di vật” là “hài cốt” (=xá lợi) để an trí trong một “đài tưởng niệm”, nhằm “tôn vinh” .v.v.. cũng chỉ vì “cầu phước” (=trục lợi), nhiều hơn là NOI GƯƠNG SỐNG THIỆN !
<>Chưa kể lòng THAM của xã hội phàm nhân, cũng không để cho “một thánh nhân sau khi nhắm mắt được yên”…-dù “khối tứ đại hữu cơ” kia, muôn đời không chối từ làm “phân bón”, góp phần vào sự “mầu mỡ hóa” cho nền đất nuôi dưỡng muôn loài sinh vật ! -Nghĩa là…mọi nơi đều có thể là “địa điểm rất thuận tiện góp phần vô lậu vào cuộc đời” của bậc chân tu, chứ đâu cần phải cầu kỳ, phức tạp, -có thể gây ra nhiều xung đột sùng bái, nhiều khi xảy ra chiến tranh !?
-Nhưng cái giá “phải trả” cho “dư luận thủ lợi” do tham sân si phàm tình đòi hỏi…vẫn luôn luôn rất “đắc” !
-Tuy nhiên đối với Phật giáo, để xây dựng cho tiến hóa thế gian, “tôn vinh danh nhân 1 cách CHÁNH KIẾN” vẫn đáng duy trì…hơn là “tôn vinh danh nhân 1 cách TÀ KIẾN”, đui mù, sơn phết, tuyên truyền lừa đảo, -nhất là trong lãnh vực chủ nghĩa chính trị…nhằm ngu dân !
<>Và trong bất cứ trường hợp nào, tất cả vẫn là “DUYÊN” (paccaya), thuận hay nghịch…với không gian và thời gian (chẳng phân biệt rừng già, núi cao, đáy biển, hang sâu, động thẳm…) tất cả đều là “pháp gián đoạn” dành sẵn cho một kiếp sống CỘNG NGHIỆP giữa biển tham sân si ! -Và “DUYÊN” trong nhà Phật, vốn luôn luôn là “yếu tố nòng cốt rất hiển nhiên” và khoa học…để cho tất cả hành vi hay NGHIỆP (sabba kammā) chúng sanh có thể hội đủ điều kiện mà phát sinh !
-Và đối với “người thấm nhuần ĐẠO GIÁC NGỘ”, không có chuyện “phải va chạm cuộc đời bằng mọi giá (kể cả bất thiện), mới gọi là sống tích cực, từ bi cứu độ, -hay ngược lại là tiêu cực, ích kỷ ?!” -Ấy chính là “Minh Triết Trung Đạo” (Majjhima-patipadā Bodhivijjā-ñāyaasattha) tuyệt vời, giữa mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện (=cộng nghiệp), mọi môi trường…xung đột lẫn bình an. -NÓ đều nghiệm đúng…xuyên qua tất cả KHÔNG lẫn THỜI gian, xưa cũng như nay !
*Hãy nhắc lại rằng, “bộ ba” TAM PHÁP ẤN, gồm 1/vô thường, “biến dịch” (thay đổi không ngừng), 2/“khổ não”, cả thân lẫn tâm hằng chịu đựng mọi hoàn cảnh thuận/nghịch, và 3/“vô ngã”, hoàn không, cái “tôi hiện hữu” (phi bản vị) sẽ tan rã, phù du…chính là con đường, mà TAM HỌC (giới định tuệ), sẽ dẫn tới “khám phá vô song” là GIÁC NGỘ !
-Tất cả luôn luôn được chứng thật trong “Minh Triết Đạo Phật”. -Và đó rõ ràng chẳng phải là “cô đọng lý lẽ tùy duyên”, để nói lên “TÍNH BẤP BÊNH” của kiếp sống nhân sinh, nhằm tạo “cảm giác bi quan” 1 cách “lý luận chuyện tất nhiên”, mà là CHÂN GIẢI phẩm cách thanh tịnh KHAI THỊ, chứ không phải thuộc về “hàm lâm luận thuyết” !
–TAM PHÁP ẤN chính xác là một “cống hiến bát-nhã” (=do ĐỊNH TUỆ soi sáng) nhắm đến “giải thoát tâm thức”, khỏi những vướng mắc huân tập,gọi là “tập khí luân hồi”, -vốn chứa khuynh hướng thả trôi…xuôi theo tình trạng “đang là”…đầy mê mờ…-đồng thời ôm cứng tư duy hoang đường, gọi là “phá chấp” (=“tánh không”) được tưởng tượng (một dạng “tà kiến trí thức”), chủ trương “cứ sống theo lẽ tự nhiên” (bản năng cầm thú), duy trì “thân tâm thực tại” (=ngầm chứa ô-nhiễm)…là đủ !?
*Chưa kể “chiều sâu” của TAM PHÁP ẤN còn giúp cho “Bậc Giác Ngộ” nhận thức rõ sự khác biệt giữa “Ý HÀNH” (sañcetarā) và “NGHĨA LỰC” (saddattha) trong đa số ngôn ngữ qui ước, gọi là “triết học”, nhất là khi chúng liên quan đến tự điển “hán việt” và “Pāḷī”. Chẳng hạn như sự đóng khung danh từ “dhamma-khandhā”, phải “nên dịch ra Việt ngữ” là “pháp uẩn”, chứ không là “pháp môn”, bởi cố chấp và viện dẫn chữ nghĩa 2 hình thức viết “khandha” và“dvāra”…v…v…!
-Vì khi nói về “chiều sâu” (gambhīra dhammā), tức là đề cập đến “tính vi diệu”, vượt khỏi “lý lẽ bề mặt” (=chế định), thì “PHÁP UẨN” cũng là “PHÁP MÔN”. -“Uẩn” (khandha) ám chỉ “sự tích tụ tập khí ở nơi nào chứa tánh tật”. -“Môn” (dvāra) ám chỉ “chỗ thông quađể NGHIỆP vận hành”. -Và NÓ luôn luôn dẫn tới “mạch sinh mệnh”, tạm gọi là “hệ căn quyền”, thành lập bởi tứ đại => “đất”- “nước”- “lửa”- “khí”…
*Ví như…“rễ và lá cây phải vương ra, để hút chất sống trong môi trường nghiệp”. -Thực trạng cây cối nầy xem ra chẳng khác “vận hành thân tâm” (động vật)…hằng hướng vào năm thức tánh (pañca-dvāra viññāna), thường xuyên va chạm với trần cảnh…nơi ý môn (maṇo dvāra), để hoạt động”, duy trì một kiếp luân hồi ! *Và mỗi khi ÁNH SÁNG BÁT-NHÃ chiếu rọi ở đâu, thì nơi ấy cũng là “chỗ được khai thị”, đánh tan bóng tối xiềng xích ! -Hay “Bát-nhã” đồng nghĩa với “cửa thông trong suốt” (visuddhi salāyatana) vậy !
<>Chúng ta *“tôn trọng tiêu chuẩn qui ước” trong tự điển nhân loại (phàm phu), là 1 việc chính đáng. Nhưng các bậc giác ngộ vẫn *“xác nhận sự thật” trong phẩm tính thoát ly ràng buộc tập khí, lại là “1 hành động chính đáng khác”, -chứ không hẳn ấy là “tật chủ quan” dưới áp lực của tham sân si, hay vô minh…-như phàm nhân lầm tưởng ! -Và trước khi “chuyển ý” đề tài nầy, chúng tôi xin “nhấn mạnh 1 điều là :
*“Xưa nay người ta cứ dựa vào hình thức thay đổi, nói theo lý thuyết qui về “TAM PHÁP ẤN” (=“vô thường”, “khổ não”, và “vô ngã”) mà cho rằng những cái gì có hạn chế và điều kiện(hay chịu tuổi thọ) là không thật, hay mộng ảo” (=“GIẢ” !?) thì hoàn toàn chưa chắc !
<>Bởi khi được “ánh sáng bát-nhã” (prajña joti), hay HOA TRÁI của Giới Định Tuệ soi vào, thì chính tất cả những cái ấy mới là SỰ THẬT MUÔN ĐỜI “vượt lên trên mọi thực tế qui ước”! -Vì khi vô tư thấu đáo…thì NHẬN RA “chân nguyên nào” (sa-bhūta), xuyên qua nguyên tắc biến dịch, mà có thể biến thành muôn hình trạng…một cách kỳ diệu…-thành MA hay thành PHẬT cũng “NÓ” (!)…thì chân nguyên ấy phải rất “THỰC” (=hữu), chứ không thể “GIẢ” (=vô) được ! -Nói theo khoa học lý hóa hằng nghiệm đúng !
*Còn việc căn cứ vào bề ngoài rồi qui nạp, kết luận…thì ấy vốn là “bị mà mắt” bởi “triết học thế gian” !
<>Hãy thanh tịnh nhắc lại 2 nhóm từ chuyên biệt…trong “Vi Diệu Pháp Phật Học” (Buddhasāsanassa abhidhamma sikkhāpada), là “TỨ ĐẠI SIÊU VIỆT” (Catu Mahā-bhūta) và “TỨ ĐẠI NGUYÊN TỐ” Catu Mahā-dhātu), -đồng thời cũng cần “song song chú ý ” đến 2 chữ Phạn “bhūta” và “dhātu”, -rằng “Tứ đại siêu việt” (BHŪTA) thì chỉ có “TÁNH” (pakati, sabhāva) mà không có “TƯỚNG” (lakkhaṇa). -Còn “tứ đại nguyên tố” (DHᾹTU) thì có cả “tánh” lẫn “tướng” !
<>“TÁNH” ở đây gồm cả “ba phương diện” (tikā), là *“Tánh chung”, -TÁNH hướng về vận hành “HỮU BIÊN” lẫn “VÔ BIÊN” (saṅkhārā dhammā). *“Tánh riêng”, -TÁNH biến ra vạn pháp. Và *“Tánh bất diệt” là TÁNH hằng hữu VÔ LẬU, luôn luôn “bất khả thuyết”, hay “bất khả tư nghì”, -nhất là đối với các hạng phàm phu, thân tâm chứa nhiều tham sân si…không thể nào biết được !
*Nhưng “tánh riêng” (sabhāva sādhāraṇa) là “TÁNH” chỉ của “tứ đại nguyên tố” (catu mahādhātu). -Vì “Tứ đại siêu việt” (catu mahābhūta) không bao giờ có “tánh riêng”. -*“Tánh riêng” nầy thuộc về ĐỘNG hay “vận hành” (sa-saṅkhārā). Nó ám chỉ phẩm cách của 4 cặp hiện tượng (diṭṭhivisaya) vật chất, là cứng/mềm (cương/nhu), kết/phân (hợp/tan), phù/trầm (nóng /lạnh), và động/tĩnh (khởi/tận).
<>Nói rõ hơn, “tướng riêng” (puggalika lakkhaṇa) của “tứ đại nguyên tố” thuộc về “hình thức đa dạng” (rūpa bahulakkhaṇāni), từ THÔ (olārika) đến TẾ (sukhuma), hiện ra muôn vạn hình thức, gồm cực tiểu đến cực đại, -hay ngược lại…biến hóa “từ cực đại đến cực tiểu…rồi phức tạp mất dạng ! -Còn “Tứ đại siêu việt” (catu mahābhūta) thì hoàn toàn không có pháp trạng ấy, hay chính xác là “VÔ TƯỚNG” !
<>Và đặc biệt những gì nằm trong phạm vi của cả “TÁNH” lẫn “TƯỚNG”, thuộc “tứ đại nguyên tố” (hay sắc pháp = rūpa-dhammā), thì hằng bị “chi phối” bởi “TAM PHÁP ẤN”, -vô thường,-khổ não,-vô ngã (luân lưu trong ba cõi thăng đọa, luân hồi). -Nhưng những gì nằm trong phạm vi của “TÁNH” (=bất khả thuyết, bất khả tư nghì), thuộc “tứ đại siêu việt” (mahābhūta) thì BẤT BIẾN (nibbikāra), và không cảnh giới nào có thể “tượng trưng” cho NÓ được !
<>Thử nhắc lại cái “đề tài hóc búa nhất”, mà muôn đời các bộ óc của “triết học thế gian”, đã không bao giờ có thể chia chẻ, phân tích, tìm ra nổi manh mối, để qui nạp một cách thuyết phục, -nhất là khi thế gian nói riêng về “linh hồn” (maṇo) hay “tinh thần” (nāma-dhamma) con người. -Hoặc nói chung là trình bày về “tâm thức chúng sanh” (satta citta-viññāna), liên quan đến lớn (Mahanta) hay nhỏ (khuddaka), thanh cao (ariya) hay hèn hạ (hīnaya) trong ba cõi…!
-Rồi khi đề cập tổng quát đến cái gọi là “ĐỘNG CƠ SINH HOẠT” của tất cả sinh linh, thì hầu như mọi bộ óc bác học (thần học lẫn khoa học), đều “tạm” cho đó là “năng lực thiêng liêng” của VŨ TRỤ (loka-abhuyyāma) hay “điện lượng vô biên” (atimahanta-mano) của “huyền minh tạo hóa” (sabba-vijjā), mà hầu hết các nhà “Nghiên cứu Tinh thần” xưa nay cũng gọi một cách mơ hồ là “đại ngã” (mahātmaṃ=macro-unicity), -một “siêu năng” chi phối toàn diện mọi “tiểu ngã” (cullatmaṃ=micro-unicity), nhưng không ai biết “CẢ HAI” là gì !?
*Đã đành, nếu dựa vào TAM PHÁP ẤN, gồm 1/vô thường (biến đổi không ngừng = aniccā), 2/khổ não (luôn luôn xung đột nội tại, chịu đựng tương khắc = dukkhā), và 3/vô ngã (phi bản vị, sẽ hoàn không = anattā), thì làm gì có “cái ta” (atta), hay “linh hồn duy nhất” (aneka-bhava), chứ đừng nói là “vững chắc và trường cửu”, gọi là “đại” hay “tiểu” (mahāpi cullapi) ! -Và dứt khoát là “NÓ chỉ tạm thời qua mỗi kiếp (kappa) dài hay ngắn trong TAM GIỚI” thăng đọa mà thôi !
<>Nhưng mặt khác, Phật học lại xác nhận “có một phẩm cách siêu thoát” (hằng hữu), -hay NIẾT-BÀN, “viên tịch mà vẫn còn” ! -Đây phải chăng là sự “mâu thuẫn lớn !” (?)
-Vậy “cái gì” là “Phẩm Cách Siêu Thoát”?!
*Chú giải “Chánh Giác Tông” (Buddhavaṃsa atthakathā) nói “ĐÓ là tâm thế tinh khiết” (=dứt tham sân si=>TOÀN XẢ=Sabbupekkhā), mà Một Bậc Tuyệt Tịnh có thể “trở thành” giữa nhân loại, khi đã tròn đủ ba-la-mật ở KIẾP CHÓT. -Sau đó Ngài tự tại buông bỏ báo thân tứ đại, để cát bụi trở về với các bụi…triệt tiêu hợp tan sinh tử, chẳng còn không gian lẫn thời gian hạn chế, và tuyệt đối “VÔ LẬU GIẢI THOÁT” (“hoàn toàn tự do”) khỏi “tất cả biên kiến” trong tam giới sinh linh. -“Ấy” là NIẾT-BÀN, bất khả thuyết, bất khả tư nghì !
-Ngược lại, khi tinh thần con người còn bị tham sân si cầm tù, thì có thể cho rằng, –Niết-bàn là một “diễn tả rỗng tuếch” (=phi nhân quả, không thể nghĩ ra vận hành) !
<>“Điểm nầy nếu không được “MINH TRIẾT TRONG ĐẠO PHẬT” soi sáng, thì NIẾT-BÀN (nibbāna) sẽ trở thành “đoạn diệt”, -chẳng bao giờ “chứng minh” PHẨM CÁCH khai thị được “thế nào là cứu cánh chấm dứt sinh tử luân hồi”, để Chư Bồ-tát (Bodhisatvā) có thể viên tròn công phu một cách VÔ LẬU, đạt ĐẠI NGUYỆN Ba-la-mật (Adiṭṭhāna pāramī) ! -Và trong tư duy của người nhiều tham sân si, Niết-bàn (Nibbana) có thể “vô dụng”, ví như “ánh sáng của ngọn đuốc đối với kẻ mù bẩm sinh”!(?)
*Rồi đứng trước cái “hiện tượng”, rằng chư “Bồ-tát” không bao giờ nêu ra những thắc mắc như thế, -mà trên thực tế…chỉ có phàm phu (đầy si mê dục vọng) mới liên tục đặt câu hỏi về “Cảnh Phật” (hay “Niết-bàn) thôi ! -Họ không ngừng tranh luận nhau, qua những đề tài không bao giờ được chung kết ! -Rằng“Chư Thánh và Phật là những AI ” ?! -Hoặc “Sau khi Các Ngài viên tịch thì hoàn toàn biến mất”, hay “chính xác sẽ ở đâu, ra sao…và như thế nào ?!
*Theo Phật học, Đức Phật là một Bậc “Toàn Tri Diệu Giác” (Sammā Sambhuddha), “Vô Lượng Từ Bi ” (Appamaññā Mahāvihāra).
-Do “Toàn Tri Diệu Giác” mà Ngài đã không xác nhận “niết-bàn như thế nào” cho “tín đồ nhập môn” hay trí thức phàm phu. -Vì xuyên qua “Bát-nhã” (prajña) mà Phật biết rõ, rằng “tâm thức loài người khi còn chứa đầy tham vọng, sẽ tưởng tượng ra niết-bàn, –như thế nầy lẫn như thế khác, rồi lầm lạc bằng ảo giác”.
-Và do “Vô Lượng Từ Bi” mà Phật thường thuyết minh “giáo lý toàn xả” để “ám chỉ” NIẾT-BÀN, hay “Phẩm Cách Siêu Thoát là BẤT THỦ” (=không vướng vào mọi cái gì hợp tan hết !) VÔ LẬU !
*Nhưng tâm thức (citta-viññāna) của chúng sanh (sattā) nói chung, và loài người (manussā) nói riêng, đang nhiễm nặng “tam độc” (tham-sân-si), vẫn chẳng những không hiểu thấu, mà còn “bất mãn” (bởi sân lẫn si), -và đòi hỏi “niết-bàn phải được “hưởng tthụ hóa” để thưởng công cho “những ai sống thiện vì vụ lợi”, chẳng hạn như CÕI CỰC LẠC phải nằm trong hay ngoài thiên giới” ! -Kiểu “Phật giáo lai căn thần thoại” của Tàu !
*Nghĩa là “TÂM THẾ thoát ra tham sân si, toàn xả, tự do, hạnh phúc” chỉ có chư Đại Bồ-tát (Mahā Bodhisatvā), Thánh nhân (Ariya Puggala), và Phật (Buddha) mới TỰ NHIÊN biết thôi…thì làm sao chúng sanh đang bơi lội trong bể khổ (ô-trược) có thể nắm bắt được ?! -Nói theo tinh thần Phật giáo Nguyên chất !
<>Tuy nhiên, nếu những đạo sĩ chân tu ĐÃ NOI GƯƠNG HẠNH THẬT, do Bậc Hoàn Toàn Giác-Ngộ để lại…rằng khi đã đạt được thanh tịnh thân tâm (qua giới định tuệ), và nhờ ý thức thanh tịnh (visuddhi cetanā) trong chánh kiến và chánh tư duy…mà họ vẫn còn tinh tấn hướng thượng…thì cũng không thể vì vậy…mà họ để cho tinh thần bị bế tắc bởi “những thắc mắc” (đa chiều) trên thế gian.
<>Chúng ta vẫn nhớ “cả 2 bản kinhnhắm vào THỰC HÀNH là Thập độ và Lục độ (hay Minh Triết) vẫn còn đó” : *“THẬP ĐỘ” còn gọi là “10 đức hạnh thoát khổ” (dasa pāramī), thuộc “Phật giáo Nam Truyền” (Theravāda) . Và *“LỤC ĐỘ” còn gọi là “6 đức hạnh giải khổ” (chala pāramī), thuộc “Phật giáo Bắc Truyền”.
-Chữ “PᾹRAMĪ” (=Pālī) Tàu âm là “ba-la-mật”, xưa nay vẫn được dùng một cách mặc nhiên phổ thông, cho cả 2 phái “Phật giáo Bắc Truyền” (Mahāyana) và “Phật giáo Nam Truyền” (Theravāda) !
<>“THẬP ĐỘ” hay “LỤC ĐỘ” chính là “những pháp hành dựa trên PHÁP PHẬT soi sáng, dẫn ra khỏi cảnh khổ” (dukkha bhūmi vimutti). -Và một khi chưa thoát khỏi khổ cảnh, thì chúng sanh dù thông minh đến đâu, cũng không thể tưởng tượng ra được hạnh phúc ấy…“chính xác như thế nào”! -Ví như các bộ lạc hoang dã, đã sinh ra lạc hậu và sống mãi giữa rừng sâu, không bao giờ tiếp xúc với các nền văn minh khác…thì không thể nghĩ biết nếp sống tiến hóa (vật chất) ở thành thị !
*Điều cần thiết hiện tại…là nếu may mắn được hướng dẫn lành mạnh (vô lậu) bởi một Bậc Chân Tu, thì mỗi “động tử” hãy bình tĩnh, tích cực, và vui vẻ tiến bước trong định hướng được soi sáng và trải nghiệm.
<>Quay lại “vấn đề” “NGÔ (atta), “LINH HỒN” (maṇa) hay TINH THẦN (bhava). -Đây là một danh từ chế định (=qui ước). -Nó ám chỉ “phần năng lượng” (miên viễn duy nhất) do NGHIỆP (kamma) vận hành tạo ra. Người ta chỉ tạm đặt tên cho nó là “NGÔ thôi, nhưng không bắt buộc là cái tiếng “ngã” ấy phải “cố định” ! -Giả sử ngay từ đầu người ta gọi nó là “cây bút” thì ngày nay chúng ta luôn nói “kiếp người gồm thể xác và cây bút”, thay vì “thể xác và tinh thần” !
-“NÓ” hay “ngã”=>“linh hồn”=>“cái tôi”, gọi chung là “tinh thần”, vốn không là gì hết, mà cũng là “tất cả”! -Vì “NÓ” hằng đóng vai “ĐỘNG CƠ” cho “CUỘC SỐNG”. -Rồi “cuộc sống” cũng không là gì hết, nhưng lại là môi trường duy trì “năng lượng kỳ diệu” KHÔNG THỂ bị triệt tiêu, sau khi một kiếp sống chấm dứt !
*Và hiệu lực của “năng lượng kỳ diệu” ấy, chính là “NGUYÊN NGHIỆP” (sa kamma), hằng xây dựng ra các “vận hành”, hai chiều hay vô số chiều (dimensions = parimāṇa), giao thoa với mọi “hiện tượng tương duyên” (giữa cá thể và cộng đồng) trong vũ trụ mênh mông ! -Nghĩa là “NGÔ phải lệ thuộc vào 1 trong 2 BIẾN HÓA, là “sa đọa” (suy đồi) hay “thăng hoa”, tiến hóa, giải thoát…-chứ KHÔNG THỂ tự nhiên đoạn diệt một cách phản lý hóa !
<>Nói cách khác, *khi bị ô nhiễm thì “NGÔ trở thành cái “khối năng lượng mục nát”…để cho tham sân si xử dụng, “mượn hồn” ! -“NÓ” giống như “cái vỏ rỗng tuếch” của “tánh không”. *Nhưng khi tròn đủ ba-la-mật (=công phu hướng thượng), “tinh khiết”…biến thành “BÁT-NHÔ (Prajña) thì “NGÔ (atta) lại là “siêu linh thức” (lokuttara citta), TOÀN XẢ (sabbupekkhā), thoát khỏi tam giới xoay vòng !
*Và đó là “lý lẽ” của “Niết-bàn” (Nibbāna). -Ngược lại, khi còn trong tam giới, NÓ là một “NĂNG LƯỢNG” có thể trở thành “PHẬT” hay “MA”. Và cũng chính là nhờ “trải nghiệm” qua “Khoa Học Tâm Thức -mà “NGÔ vừa “THẬT” (ariya) khi tinh khiết” (=viên tròn công phu Giới Dịnh Tuệ), đồng thời cũng vừa “GIẢ” (attacca), khi “nó bị” ô trược, nhiễm độc !
-“Chân ngã” (bhūta-atta) thì LY KHỔ (dukkha vippayutta) và trường cửu (sassata), VÔ LẬU. -“Giả ngã” (satho) thì “phù du” (ekābika) và “bất định” (aniyata)…vận hành xoay vòng một cách mâu thuẫn, tương diệt, “XÁC NHẬN” lẫn “PHỦ ĐỊNH” !
<>Ngày nay, đứng trước vấn đề “ngã sở”, “linh hồn”, hoặc “cái tôi” (atta, atman), Triết học nhân gian phải bế tắc, chỉ đối phó hàng hai, qui nạp bâng quơ là “CÓ” lẫn “KHÔNG” (atta-atthipi, atta-natthipi). -Còn “ngôn ngữ” (hay văn tự) thì ví như “cái chuông gió thổi” (=phong linh), luôn luôn phát ra “những âm thanh đầy ảnh hưởng êm tai, lẫn lộn”, hằng làm cho thính giác nhân loại hoang mang, “lâng lâng nhiễm độc”.
*Kẻ tin “vô ngã” thì mang bệnh duy vật, vô thần, không sợ nghiệp quả luân hồi báo ứng, dẫm lên đạo đức, xóa hết trách nhiệm.
*Người tin “hữu ngã” thì đóng khung, cố chấp “duy tâm” (lắm khi mù quáng), nhiều lúc cực đoan…đến độ trở thành mê tín (ngu dân), sẵn sàng làm nạn nhân cho một số “chính trị tôn giáo” lừa đảo !
<>Tệ nhất, có những phần tử háo danh lầm lạc…tự nhận mình là tín đồ Đạo Phật, vẫn không ngừng gian xảo dựa vào “tam pháp ấn” (vô thường, khổ não, vô ngã), để lý thuyết…phiêu lưu kết luận “cuộc đời là ảo mộng”. -Họ “tuyên bố như vậy” để “tự kỷ ám thị”, hãnh diện với xung quanh…rằng “mình có thể đã giác ngộ”, trong mục đích hy vọng may ra được quần chúng “nể phục” (!)
-Nhưng theo Phật học, họ đã lẫn lộn Giáo lý Phật-đà với vọng động phàm phu ! -Thật ra, cái gọi là “ẢO MỘNG” ấy vốn phát sinh từ TAM ĐỘC tham sân si, chứ không phải do cuộc đời, vốn chỉ đơn giản là sân khấu của thành trụ hoại không !
<>Nếu nói rằng, “cuộc đời được thành hình từ cát bụi”, hay bởi “tứ đại hợp tan”, gồm THÔ (=thể xác) lẫn TẾ (tinh thần, năng lượng)…thì “đó là một môi trường lý hóa CÓ THẬT”, chứ không phải “ẢO” ! -Vì “CÓ THẬT” nên nó mới có thể biến hóa như vậy. -Còn “KHÔNG THẬT” thì lấy gì dựng lên “HỮU” lẫn “VÔ” ? -Và căn cứ trên khoa học lý hóa, ai có thể phủ nhận cái thực tại trải nghiệm…vật chất ràng ràng trước mắt, giữa vũ trụ mênh mông…đang được tiếp xúc…một cách cụ thể qua 5 hay 6 giác quan con người ?!
-Chỉ có một số cá nhân đang nhiễm TAM ĐỘC (tham sân si) nặng nề, tâm tư bị đen tối và chứa đầy dục vọng, mới thường xuyên ước muốn những cái xa rời thực tại, rồi mơ màng “đồng hóa” kiếp sống với “giấc mộng”, để dễ trở thành kẻ bệnh hoạn mà thôi ! -Và những người hữu duyên với Phật học thì tư duy lại khác hẳn. -Họ biết rằng, bóp méo nội dung Phật ngôn là tự chui sâu vào VÔ MINH, ảo giác !
-Còn “Minh Triết Trong Đạo Phật” thì thẳng thắn khuyên rằng, “hãy buông bỏ những GIẢ NGÃ do tham sân si dựng lên và định giá đầy mâu thuẫn, vì những “thứ” ấy luôn ẢO, sẽ làm cho tri thức bế tắc !”
*Nói tóm lại, khi gia công chân chánh, TỰ LỰC tu hành, hết vướng mắc (=TOÀN XẢ), thì cái năng lượng tinh khiết, -tức “chân ngã không tên” ẤY trong siêu thoát là THẬT TẠI (sacca) lẫn muôn đời (sassata). -Và NÓ luôn luôn “vô cùng tuyệt diệu” (vimhayāvaha). -Ngược lại là chạy theo tha lực hoang đường, hay dựa vào “tánh không” (=lười biếng), lẫn “phi mục đích” (=chẳng nổ lực mà cậy trông vô lý)…thì “cõi cực lạc” hay “niết-bàn” tưởng tượng kia, chính là “tà kiến phù du” lẫn “cứu cánh lừa gạt”, sa đọa !
<>Ngoài ra, TAM PHÁP ẤN có thể gọi là “hệ luận” (upasiddhanta = corollary) của đề tài “MINH TRIẾT trong Tam Học giải Tam Độc”, cũng đã được Tạng “VI DIỆU PHÁP” (Abhidhamma-pitaka), gián tiếp xếp vào “Bộ Pháp DUYÊN HỆ” (Paṭṭhānapakaraṇa dhammā), -một kinh thư quí báu…thuộc loại “Vô Ngại Giải” (Paṭisambhidāmagga) !
————————