Bài 7
(Brahmacariya tattañāṇa).
<>“Phạm hạnh” ở đây không ám chỉ “phép sống theo mẫu tâm thức “Bà-la-môn” giáo, -hay của Đại Phạm Thiên” (Mahā-brahma citta-viññāna), như “chủ trương” của “Văn Minh Cổ” Ấn-độ (Bhārattassa vuddha siṭṭhācāratā). Chữ Pāḷī “brahma” xưa nay luôn luôn chứa “2 hàm ý” rất khác nhau ! -Hàm ý thứ nhất thuộc về “ngữ nghĩa”, qui định phẩm cách thường kiến của “vua trời Phạm thiên” (mahā-brahma sassatavāda). -Hàm ý thứ hai thuộc về đức hạnh mở rộng, toàn tịnh (sabba-visuddhi-guṇa) của Bậc đã tận trừ phiền não (āsava vimutti = ariya puggala), có “đặc tính giải khổ” (pamocaka-lakkhaṇa) “cứu giúp vô lậu” (kiriya pamocaka, đối với tất cả chúng sanh (sabbe-sattā) !
-Nghĩa là do VÔ ÚY (không sợ = dứt tham sân si), mà “PHẠM HẠNH trong MINH TRIẾT” (Đạo Phật), không chứa “mặt trái” là “tật khiếp đảm”, hay “chạy trốn cái khổ trong kiếp sống thăng đọa giữa tam giới”. -Nói cách khác là “Bậc Phạm Hạnh” (=Thánh nhân) trong đạo Phật luôn luôn có đủ BI-TRÍ-DŨNG, không viện lẽ nầy hay lẽ nọ để chẳng hành động đúng CHÁNH PHÁP (sammā dhammena) ! -Rằng 2 thái độ đầy nhu nhược (=vô minh) là “hòa đồng với kẻ ác để gọi là “mềm dẻo” để thức tỉnh đối tượng”, và cố chấp…“tuyệt đối cách ly, tránh xa người xấu khỏi bị liên lụy”…-Hai tư tưởng nầy sẽ không bao giờ phát sinh nơi “ý thức” (maṇo-viññāna) của một Bậc GIÁC NGỘ trong Đạo Phật, kể từ “Tu-đà-hườn” trở lên (sotāpanno) !
*Theo Phật học, ba phẩm cách BI-TRÍ-DŨNG trong một Thánh nhân (Ariya Puggala), luôn luôn tương tác. -Nghĩa là từ bi chẳng bao giờ tách rời trí tuệ lẫn dũng cảm, và ngược lại ! -Đối với một bậc thân tâm đã thanh tịnh, sự cứu độ cao thượng và thực tế nhất, là THÂN GIÁO, hay áp dụng thiện pháp bằng hành động nơi chính mình…để làm gương giải thoát phiền não cho chúng sanh ! -Còn những “tu sĩ si mê”, buông lung hằng ngày…thường dẫm lên Phật giáo, lầm lạc đề cao “các lý lẽ thế tục” ngụy biện rằng, “phải vào hang cọp mới bắt được cọp con”, rồi gia nhập hưởng thụ vật chất trần tục, đồng thời mạo danh là “dấn thân nhập thế” để…”cứu độ nhân quần” là ngụy biện !!!
HIỆU LỰC của BÁT-NHÃ (paññā = prajña).
-Một người tin Phật (có “căn bát-nhã”), không bao giờ chấp nhận “sự lờ mờ”…để TÍNH chánh trực và thẳng thắn trong Phật học, vô lý bị lạm dụng một cách bóp méo…bởi sự giảng giải sai lạc về các hạnh kiểm, nhất là nội dung 2 chữ “từ bi”. Trái lại, họ luôn luôn minh bạch trước mỗi hành động cứu giúp những kẻ bất hạnh (gồm tật lười biếng). -Nhờ “bát-nhã” mà họ chắc chắn KHÔNG mua thuốc phiện tặng người nghiện nặng (đang lên cơn…nằm thoi thóp giữa đường), dù đó vẫn có thể xem là “nghĩa cử cứu cấp” của “Tín đồ một tôn giáo” ! -Nhưng đứng trước nghiệp quả đau khổ ấy, kẻ thiện tâm trong nhà Phật vẫn tích cực cứu giúp “nạn nhân” một cách khác, sáng suốt hơn…với đầy đủ Bi Trí Dũng. -“BI” là thương người. -“TRÍ” là sáng suốt. -“DŨNG” là mạnh dạn trước mọi hiện tượng nhạy cảm !
<>Khi hiểu đúng chân nghĩa (bhūta-saddattha) của thiện pháp (kusala dhammā), chúng ta sẽ đủ chánh kiến mà cho rằng, “không nên cứu người một cách đui mù”. -Vì “đó chẳng phải là hiện thân của tâm từ bi” (mettā-karunā-citta), -mà ấy chỉ là là sự “gián tiếp đồng lõa” với “quan niệm mơ hồ” (=biến dạng vô minh) của thế gian. –Quan niệm mù mờ nầy nếu phổ thông, sẽ trở thành hiện tượng “xoa dịu quả”, và “dung dưỡng nhân”, đi ngược phương pháp của Bậc Giác Ngộ !
-Đứng trước công lý, một người tin Phật luôn luôn với tâm tính công minh, không bao giờ dùng “ưu thế” (nếu có) của mình, để khéo léo (hay gián tiếp) biện hộ cho kẻ ác đã cố ý phạm tội, được “thoát hình phạt”, nhằm tìm kiếm tiếng khen là…“quân tử” cứu giúp kẻ ngã ngựa ! -Hàng “Phật-tử” làm vậy, vì phẩm cách ngay thẳng trong họ hằng xác nhận rằng, “ấy là cái khôn khéo sa đọa (=hại dân), chứ không phải là trí tuệ lành mạnh”, xây dựng xã hội !
-Mặt khác thực tế hơn nữa, sự sáng suốt bẩm sinh vẫn làm cho bất cứ ai cũng đều biết rằng, trong chiều trải nghiệm cuộc sống…“sự dũng cảm chẳng thể thúc đẩy người không giỏi bơi lội nhảy xuống nước sâu, để cứu kẻ đắm chìm”. -Tất nhiên, trí tuệ sẽ giúp họ phải làm cách khác…để giúp nạn nhân…-chẳng hạn như quăng dây dài có phao, -hay đưa cành cây nhẹ xuống tận chỗ nạn nhân…đồng thời kêu gọi những người gần nhất xung quanh…đến tiếp cứu !
-Và tâm bình tĩnh (=biết rõ khả năng chính mình như thế nào) cũng nhắc nhở họ rằng, “nếu ta thiếu tự xét, lao mình xuống đó cứu người…để biểu lộ “lòng từ bi”, thì ấy là việc làm phiêu lưu của kẻ điên rồ, chỉ dẫn đến chết chùm mà thôi, chẳng mang lại lợi ích cho ai cả” !
<>Trong “ba trường hợp độ khổ phàm tình” (thượng, trung, hạ) thì “BI TRÍ DŨNG” nêu ra trong một đoạn văn trên…có vẻ liên quan RẤT ÍT, đến “các pháp nhất thời”, tức tháo gỡ cảnh bế tắc cho sinh linh chịu nạn ! -Hai trường hợp đầu là “độ khổ bậc thấp” (pāramī) và “độ khổ bậc trung” (upapāramī)…nếu không được TRÍ TUỆ THANH TỊNH (=bát-nhã) vững vàng soi sáng, thì không mang lại cải thiện nghiệp quả. -Còn “sự cứu giúp thứ ba” (tức giải khổ “bậc thượng”), nếu hành giả rơi vào cực đoan (=tương đương với ngu xuẩn), thì chắc chắn sẽ làm cho thực tại “tuyệt vọng hơn”…–vì cả nạn nhân lẫn kẻ ra tay giúp đỡ đều gặp cảnh bế tắc, không cứu độ gì cả ! -Nghĩa là :
“Thiếu TRÍ TUỆ và TRUNG ĐẠO thì dứt khoát chẳng phải là
Hành động minh triết của Bậc Phạm Hạnh !”.
<>Vậy phẩm cách GIẢI THOÁT (vimutti) trong “mạch sống” của Bậc Đại Giác Ngộ (tức Phật hay A-la-hán) là gì ?! -Đó tất nhiên là “viên tròn thập độ” (bao gồm “bát-nhã toàn xả”). -Đó cũng là tuyệt đối không làm VIỆC ÁC (akusala kamma) và luôn luôn bát-nhã vô ngã (prajña anatta), đồng thời hành giả (yogī) chẳng bao giờ mong đợi sự đền bù, hưởng phúc cho bản thân (=> triệt tiêu tư duy ích kỷ), -VÔ LẬU !
*“PHÁP GIẢI KHỔ” ấy (sa-dhammā) chính xác là thực hiện phạm hạnh (brahma-cariyā = vô cầu) chứ không phải lý thuyết (hữu lậu), nên NÓ sẽ là “kết tinh hướng thượng” (tinh khiết) của kinh nghiệm lành mạnh, trong mục tiêu thông khoáng, không cố chấp (=phá khung), để đạt đến cứu cánh là “ĐỘ MÌNH” (tự giác = atta-mggadesakā) và “ĐỘ NGƯỜI” (giác tha = satta-maggadesakā), nhằm giải khổ cho chúng sanh nào hữu duyên, đang vướng lưới tham sân si, luân hồi !
<>“MINH TRIẾT trong Đạo Phật” hằng khai thị rằng, mỗi hành động là một ngôn ngữ. -Đó là ngôn ngữ do THÂN GIÁO phát ra, công bố sự thanh tịnh, bình an, vô hại…của HẠNH GIẢI THOÁT, -khác với lời nói “chứa nhiều ý hàn lâm” từ cửa miệng (=tưởng tượng, lý thuyết), vốn bị thúc đẩy một cách phức tạp (đầy lừa gạt)…bởi dục vọng tinh vi…chồng chất bởi vô số kiếp trong tưởng uẩn (saññā-khandha), mà người đời (trần tục) “thích đề cao” gọi là “triết học” (philosophy=tattañāna) ! -MINH TRIẾT cũng là phẩm cách “tượng trưng đúng đắn” cho “Toàn Bộ Phật Giáo” (duy hành động), do Đức Thích-ca Mâu-ni để lại, bằng cách “không tuyên truyền” 1 câu nào !
-Chưa kể “khía cạnh lôi kéo” của “tài hùng biện” (vuốt ve tâm lý ngạo mạn) của “triết gia” còn làm cho người đời…-khi càng tôn vinh lý thuyết là “cao siêu”, là “thần tượng” (như một vài chủ nghĩa mỵ dân ngày nay), càng “làm nghiện” quần chúng thực thà (giống thuốc phiện). Và kết quả, hễ người ta càng bị nhồi sọ…thì họ càng vướng mắc, càng cố chấp, càng cực đoan, và càng “hận thù giai cấp”…rồi cuối cùng là càng hiếu chiến… đốt cháy tinh thần lẫn thể xác của nhân loại !
<>Và NHƯ LAI THIỀN (Tathāgata bhāvanā) chính là “THUỐC GIẢI ĐỘC” do Phật tổ Thích-ca Mâu-Ni (Sakya Muni Buddha) lưu tặng thế gian. “NÓ” hằng hướng dẫn những ai biết sửa mình, “tự lực thanh tịnh thân khẩu ý” bằng TỨ NIỆM XỨ (catu sati-paṭṭhāna) hay “an chỉ trong cảm giác toàn thân tâm” (sabbakāya-citta sati-sampajañña). -Nói cách khác là “NÓ bình định những làn sóng tham sân si” giữa cái biển KHỔ VUI không ngừng vùi đập kiếp sống vô thường nầy !
*“An trú được với CẢM GIÁC TOÀN THÂN TÂM” ở đây, là biểu lộ của “giòng điện lành mạnh” (=bình an, tích cực), do một sinh mạng đang sống, tức hỗn hợp danh sắc (nāma-rūpa jīvita saṃyoga), gồm a/“hệ thống thần kinh” hay “SẮC TẾ” (maṇo=sukhuma rūpa), và b/xác thân hữu nghiệp, hay vật chất lý hóa, tức SẮC THÔ (kāya olārika rūpa). -Cả hai hằng vận hành tương tác trong suốt một kiếp luân hồi.
-Phật học xem “hành thiền TỨ NIỆM XỨ” (catu saṭipatthāna bhāvanā) là “SỐNG TIẾN HÓA”…“đặt nền tảng trên TAM HỌC, gồm 1/“GIỚI dứt tội lỗi”, 2/“ĐỊNH diệt phiền não”, và 3/“TUỆ giải si mê”. Đó là nền tảng của VĂN MINH hạnh phúc lâu dài ! *Đây là một “tiến trình Như-lai thiền”, có khả năng thanh lọc vô song (asamāṇa visuddhi vīthi), không lý thuyết, không hình thức, lẫn không cần tuyên truyền để thuyết phục người thiếu duyên lành ! -Xin cô đọng một cách ngắn gọn, dễ hiểu như sau :
A-NIỆM THÂN (kāya anupassanā) và NIỆM THỌ (vedanā anupassanā) khi được chứng đắc, là nhờ GIỚI THUẦN THỤC (sīḷa catura), và đồng nhờ ĐỊNH AN CHỈ trong bản thân (appanā bhāvanā, samādhi ekaggatā). *Giới và *Định chính là “NGUYÊN NHÂN” (hetu) của phát sinh “THIỀN QUẢ” (bhāvanā-vipāka).
B-NIỆM TÂM (citta anupassanā) và NIỆM PHÁP (dhamma nupassanā) khi thành tựu, là nhờ TUỆ CĂN (paññiṅdriya), và TAM MINH (ti-joti-ñāna), hay các khả năng phát quang soi sáng…rọi rõ vào thân tâm ô-trược (=> tứ đại THÔ lẫn TẾ), hay “ngũ uẩn phàm phu”, gồm “sắc, thọ, tưởng, hành và thức” (pañca khandhā puthujjano) đang chìm đắm trong si mê dục vọng ! (tachā, moha) !
(“Tam minh” ấy gồm 1/sự tỉnh thức (sabbakāya-ñāna), 2/tính phân biệt đúng” (visesakara ñāna) hay sự sáng suốt trong “đức hạnh nhập thế” (lokiya guṇa), có hiệu lực “hóa giải oan trái”, và 3/“tuệ căn bát-nhã (paññā-indriya) thường xuyên vận hành song song với tâm sở xả” (upekkhā-cetasika), còn gọi là “thiền quả siêu thoát” (lokuttara bhāvanā vipāka), hay “tâm thế tinh khiết buông bỏ” (=phá chấp) !
*Ấy là Thanh tịnh đạo (Visuddhi-magga), là con đường thoát ly ba cõi, chấm dứt KHỔ NÃO luân hồi. -Đi trên con đường nầy, hành giả (yogāvacara) không cần nhảy lớp, do vô tham (alobha), -không cần đốt giai đoạn, rút ngắn lịch trình tu hành, để tránh bất mãn vì chờ kết quả, do vô sân (adosa), và -không cần “bám giữ chánh tư duy” trong tất cả các chiều tri kiến, do vô si (amoha) !
<>Mặt khác, MỘT trong những “hành động bình thường nhất” mà một bậc phạm hạnh (brahamacariya) vẫn thuần thục, là QUÁN TƯỞNG (anussaraṇa jhāyamāṇa), hay MINH SÁT (Vipassanā) trong khi ăn hay uống hằng ngày. Sự tuyệt diệu của thiện hạnh nầy, hằng làm làm cho thực phẩm mà bá tánh hiến dâng đến người tu hành, trở thành “nguồn bồi bổ thanh khiết”, luôn luôn được thanh lọc bởi THIỀN (bhāvanā), giúp cho bộ máy tiêu hóa và hệ thống thần kinh (=cảm giác hòa đồng trong khi thọ thực) được vận hành tốt !
-Hãy nhắc lại tóm tắt “4 pháp dinh dưỡng” mà Phật đã dạy, gồm 1/Đoàn thực (kabaliṅkāra āhāra), 2/Xúc thực (phassa āhāra), 3/Tư niệm thực (maṇo sañcetanā āhāra), và 4/Thức thực (viññāṇa āhāra)…một cách “khoa học tương tác”, phối hợp với phẩm cách thông thoáng giữa vật chất và tinh thần như sau :
<>“ĐOÀN THỰC” là sự hấp thụ chất bổ trong đồ ăn thức uống. Bậc phạm hạnh khi tiếp nhận vật phẩm từ bá tánh (một ngày chỉ một lần), thì QUÁN TƯỞNG rằng, “-cần tôn kính người bố thí” (vô ngã), “-hãy xứng đáng với phẩm vật” (giới hạnh), và trong khi ăn uống “-phải tri ân kẻ cúng dường” (hồi hướng phước lành), để duy trì thân tâm ly dục, không say mê hưởng thụ (thanh tịnh). Rồi đồng thời “-chia xẻ bình an đến xung quanh”. –Mong cho tất cả được tiến hóa trong mỗi kiếp cộng nghiệp ! -“Quán tưởng thanh tịnh” như thế, thì “lực đề kháng” (hormone) trong thân thể (vật lý) của hành giả, sẽ củng được cố hùng hậu, có khả năng “hóa giải” các “độc tố” (nếu có) trong thức ăn, vật uống…một cách dễ dàng !
<>Điều nầy chứng tỏ rằng “MINH TRIẾT trong PHẠM HẠNH” (Brahmacariya tattañāna) còn hàm chứa “một khoa học tâm linh tuyệt vời” (cittaviññāna lokuttara vijjā)”. -“ẤY” chính là cái “TRÍ CĂN TOÀN GIÁC” (sabbābhi-paññ’indriya), có thể ví như BỂ VĂN MINH (samudda) bao gồm tất các phát minh khoa học, kể cả siêu lý hóa !
-Nếu “tiện nghi tân tiến” ngày nay, của “khoa học vật chất” đang làm cho nhân loại “quay cuồng”, xuyên qua những hưởng thụ nhục dục thường dẫn đến tình trạng thái quá…thì “BÁT NHÔ (Prajña) trong “khoa học tâm linh” nhà Phật, sẽ giúp loài người nói riêng, chúng sanh nói chung, tìm ra nội lực đích thực để tiến hóa bởi chính mình, chứ không phải nhờ ai khác !
<>Bậc GIÁC NGỘ (bodhi) thì luôn luôn sống hướng về phẩm cách thoát ly, hay vô tham, vô sân, và vô si (=NIẾT-BÀN), chứ không tìm kiếm một phẩm vị nào cho bản ngã cả. -Thực ra, “ĐẠO PHẬT” chẳng có danh tộc gọi là “thích tử”, “thích tôn” hay “tín đồ” gì hết, và hằng chỉ xem ấy như phương tiện giao tế qua ngôn ngữ mà thôi !
*Phẩm cách giải thoát vốn chỉ có “một hiện thân” (duy nhất) là “HẠNH TOÀN XẢ” (Sabb’upekkhā). -Đó là “kết tinh” do “cộng đồng tứ chúng” (=saṅgha), sống đúng PHÁP VÔ HẠI, chứ không khoe khoang “mình là “con phật” (=“thích tử”), để phô trương đạo đức kiểu “Phật giáo phát triển” của hàng tự phong là “đại căn” hay “đại trí” (?!), mà thiếu hẳn giới đức, phá hoại nền tảng chánh pháp của nhân loại !
-Huống chi đối với một bậc đã hoàn toàn thanh tịnh (sammā-visuddhiyā), TUYỆT XẢ (sabba upekkhā), thoát ly khỏi tam giới dục vọng, thì “cái lý lẽ” của các “danh xưng” (như “sa-môn” hay “thích tử”) chẳng có ý nghĩa gì ! -Ngay cả nhóm chữ “tín đồ Phật giáo” cũng chỉ là một cách nói thông thường, hòa đồng ngôn ngữ…như các tôn giáo khác, để giản dị ám chỉ “Những Người Tin Lời Phật”…cho dễ hiểu mà thôi ! -Nhưng trong chiều sâu, nhóm chữ “tín đồ Phật giáo” không ám chỉ dứt khoát “một phẩm giá xã hội” nào cả. -“Nó” cũng không xác chứng rằng “họ luôn luôn sống đúng giáo pháp của Bậc Giác Ngộ” !
<>Có bao nhiêu kẻ gian manh đã vào chùa “xoay xở”, để mang “tướng mạo xuất gia”, rồi lạm dụng danh nghĩa “tu sĩ”, nhằm lừa gạt quần chúng…vốn thực thà, tôn kính đạo đức. -Chưa kể các thế lực chính trị hiểm ác, chủ trương duy vật, vô thần, đã không ngừng cài cắm rất nhiều “vận động viên” vào tất cả các “tôn giáo”, nhất là nhà chùa, để vừa trục lợi vật chất, xuyên qua tệ trạng cúng hiến, do mê tín dị đoan (=kết quả của nuôi dưỡng ngu dân kiểu Tàu), để vừa phá hoại văn hóa từ bên trong niềm tin quần chúng, vừa làm bạc nhược tinh thần con người. -Họ đã và đang tạo ra một “bộ máy lủng đoạn đạo đức” với kế hoạch “hủ hóa tu sĩ” (gọi là “quốc doanh”), dùng nhiều mưu chước tinh vi hơn cả xã hội đen…thì sự bình an, cộng hòa của loài người sẽ đi về đâu !?
<>Tuy nhiên, cái “họa vô thần” trên cõi đời vốn chỉ có thể ưu thế trước “hiện tượng tín ngưỡng” cố hữu của loài người, đặc biệt là suốt thời gian đầu óc con người còn lạc hậu, do đắm chìm trong “tiến bộ một chiều” đáp ứng hưởng thụ ngũ dục (sắc, thinh, hương, vị, xúc). -Nhưng nó sẽ bị vạch trần khi “khoa học tâm vật” (gồm tiến bộ thể xác và tinh thần) đồng thời xuất hiện. -Nếu “tối tân lý hóa” ấy mang lại nhiều “hoa trái” cho “sự hưởng thụ”, thì đồng thời NÓ cũng là “ánh sáng” giúp tâm trí con người nhận ra “BÁT-NHÔ, như “pháp giải duy nhất” tháo gỡ các “xung đột” vật chất và tinh thần ! -Nói cách khác, đó là cái “dụng” của minh triết phạm hạnh, nhằm phá tan “triết lý ngu dân” (=mâu thuẫn, bế tắc), do cực đoan vô thần lẫn hữu thần, mà gốc vừa đoạn kiến tàn bạo…vừa mê tín hoang đường !
<>Thành thật mà nói, nhờ “tiến bộ tin học” (progres informatiques) và “trí tuệ nhân tạo” (artificiale intelligence-invention) ngày nay, -tuy chưa hoàn hảo, nhưng đã giúp soi sáng cho số đông “người bình dân” (nói chung) có thể tiếp cận được, với nhiều hướng dẫn khoa học, dẹp bỏ một số tư tưởng vô minh, thủ cựu, lạc hậu…hằng không bao giờ có thể khai thông bế tắc giữa cuộc đời một cách hợp lý !
-Cũng xin thưa rõ rằng, nhóm chữ “TRÍ TUỆ NHÂN TẠO” (artificial intelligence = AI) mà chúng tôi nêu ra trên đây, vốn cũng chỉ là “các từ ngữ qui ước” (=phương tiện thôi), để tạm thời ám chỉ “cái mạch thông minh vượt bậc” (vốn của SÁNG SUỐT TÂM LINH từ con người), mà các “nhà khoa học” đã “góp nhặt” và “tổng hợp lý hóa”, rồi tạo ra theo NHỮNG QUI NẠP có“hệ thống điện tử thuần tính (định hướng chính xác), do hội tụ và giao thoa đa chiều, bởi các phương pháp hữu hiệu, nhằm đối phó với một môi trường chứa nhiều VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT (hóc búa) cần phải “VƯỢT QUA” !
-Nói chính xác, “trí tuệ nhân tạo” là SỰ SOI SÁNG của tất cả những bộc óc khoa học xuất chúng trong chiều dài tiến hóa nhân loại, chứ không phải là “hiệu quả thông minh” của một cá nhân lỗi lạc ! -Đúng ra chúng ta nên gọi là “trí tuệ khoa học”, do những “TÂM QUẢ AN TỊNH” thiết lập…theo nhu cầu mỗi ngày một phức tạp !
*Ấy vẫn là một dạng “hóa giải trở ngại, có thể xem gần giống với “NĂNG LỰC BÁT-NHÔ trong THIỀN HỌC nhà Phật, -nhờ đó hành giả có thể gián tiếp xác nhận rằng, “giòng điện tinh thần khi đã thanh lọc và hội tụ một cách tinh khiết”, thì tự động phát quang và VẠCH ĐƯỜNG “xuyên thông” các bế tắc, giữa tất cả môi trường, gồm không những “Tứ Đại TẾ” (=sukhuma rūpa), -mà ngay cả “Tứ Đại THÔ” (olārika rūpa). -Nghĩa là BÁT NHà (prajña) có thể “hóa giải được” các “xung đột”, trong vật chất thô kệch có bản tính mục nát, lẫn vật chất tinh vi…bao gồm THÂN và TÂM sinh vật” (nhất là con người), hằng bị tham sân si làm cho biến động, ô-nhiễm !
-Như vậy, “TRÍ TUỆ NHÂN TẠO” tuy là “hoa trái” của “tập hợp tin học”, vốn hoàn toàn trung tính (“vô tham”, “vô sân”, và “vô si”), đã được thu hoạch một cách có hệ thống, rồi ghi vào “thuận chiều vận hành năng lượng” trong “hộp sọ thông minh” (=người máy). NÓ không phải là “sản phẩm thuần túy lý hóa” (ngẫu nhiên), như những kẻ duy vật tưởng tượng ! -Mà “trí tuệ nhân tạo” có thể xem “tương đương” với TINH HOA, phát xuất từ “tri thức an tĩnh” trong CHIỀU TIẾN HÓA của nhiều thế hệ con người văn minh, không ngừng cải thiện thực tại !
-Như chúng ta đã từng thảo luận, tất cả phát minh khoa học (=sản phẩm của trí tuệ), dù cho thuộc hoàn cảnh nào…đều TRUNG TÍNH (tức không thiện không ác), nhưng xuyên qua tham sân si, người ta đã xử dụng nó với mục đích nào…thì nó sẽ bị “qui kết” là tốt hay xấu, thiện hay ác, chiến tranh hay hòa bình, tạo vui hay gây khổ ! -Bởi người ta đã lầm lẫn ở điểm nầy, mà đã từng bồng bột “đánh giá” các phát minh, như “cơ khí”, “nguyên tử”…v…v…là có “hại” cho cuộc sống ! -Và “trí tuệ nhân tạo” cũng sẽ chịu chung số phận ! -Ngoài ra, “trí tuệ nhân tạo” luôn luôn “nặng về” SỰ HỢP LÝ (logique), nhưng với “Bát-nhã”, tính “hợp lý” chỉ là “một phương diện” trong “môi trường vật chất” (hay “sắc thô”), nhưng những “biến thể” của “sắc tế” lẫn “phi tế”, thì LÝ HÓA của khoa học nhân sinh rất bị hạn chế !
<>Đặc biệt là “sự tập hợp trí tuệ” (hay “thông minh nhân tạo”) nầy, lại có “ưu điểm vô địch”, là có thể giải quyết cấp tốc các “vấn đề khó khăn bậc nhất”, mà bộ óc phàm phu (=còn tham sân si), dù “sáng suốt” và “học rộng” đến đâu, vẫn không thể làm nổi ! -Lý do là “người thông bác” vẫn còn vô minh (do tham sân si), nhưng “trí tuệ nhân tạo” thì không bị trở ngại bởi “3 thứ độc” ấy.
-Khi đem so sánh thì “TRÍ TUỆ” (nhân tạo) không phải “loại thường tình”, mà là “sự biểu lộ” của “tổng hợp sáng suốt”, hay “TINH QUANG” của nhiều kinh nghiệm khoa học. *NÓ ngẫu nhiên tương đương với năng lượng bát-nhã (paññā-uyyāma) trong THIỀN PHÁP (bhāvanā), với tiến trình giới định tuệ đã đúc kết vững chắc…đủ khả năng thoát ly…ngay cả “tam giới phức tạp”, huống chi chỉ là những “rắc rối” của “tam độc tham sân si” giữa cuộc đời phù du, hữu hạn ?! -Thánh nhân trong Đạo Phật nhờ vậy mà Toàn Xả (Sabbupekkha ariya puggala), giải quyết mọi vướng mắc luân hồi !
-Xin được một lần nữa xác nhận rằng, “KHOA HỌC THUẦN TÚY” muôn đời vẫn vô tư và khách quan…chỉ có lòng tham con người khi xử dụng khoa học…mới là ích kỷ, gieo khổ cho nhau”! -Đạo Phật do đó chỉ “đối lập” với tam độc (THAM SÂN SI), chứ không đối lập với khoa học, -dù cho ấy là “khoa học lý hóa” (thiên về vật chất) ! -Và thật đáng tiếc là “tiến bô tin học” cũng như “trí tuệ nhân tạo” cũng đang bị kẻ ác độc lạm dụng một cách tinh vi, khai thác tối đa ưu điểm để trục lợi, ngay cả trong lãnh vực văn hóa, tôn giáo !
<>Quay lại “KHOA HỌC TÂM LINH” (Maṇo Vijjā), nhất là hướng về SỨC KHỎE (ārogya), đạo Phật đã cống hiến cho nhân loại một “phương pháp dinh dưỡng” (posanakaraṇa dhammā) có thể áp dụng rất hiệu quả, -nói theo “kiến thức y tế” (osadhīya ñāna) ! -Đó là “BỐN VẬN HÀNH BỒI BỔ”, gồm 1/“đoàn thực” (kabaḷinkāra āhāra), 2/“xúc thực” (phassa āhāra), 3/“tư niệm thức” (manosañcetanā āhāra), và 4/“thức thực” (viññāna āhāra).
-Nói chung, “bốn cách bồi bổ” ấy vốn không tách rời THIỀN HỌC (bhāvanā sikkhāpada). Chúng hằng giúp cho các bậc phạm hạnh sống khỏe mạnh, xuyên qua pháp tri túc hằng ngày, gồm 1/tiếp thu dinh dưỡng vừa đủ (=ĐOÀN THỰC), 2/cảm giác thanh tịnh (=XÚC THỰC) trong lẫn sau khi ăn uống, khiến cho các “tuyến hấp thụ lý hóa” trong thân thể gọi là “dịch tiêu hóa” (jīraṇa = digestive hormone), vận hành một cách “quân bình” và “tự nhiên”, không bấn loạn…loại trừ hết các độc tố trong thực phẩm, 3/thiền pháp cũng làm cho những tư tưởng tham lam hưởng thụ mùi vị bị khử trừ (=TƯ NIỆM THỰC), 4/tri kiến luôn luôn được soi sáng trong khi tiếp thu các chân lý về sự dinh dưỡng, gọi là “THỨC THỰC” ! -Nghĩa là, đoàn thực và xúc thực (kabaḷinkāra āhāra + phassa āhāra) “xây dựng” thân thể khỏe mạnh, còn tư niệm thực và thức thực (manosañcetanā āhāra + viññāna āhāra). thì làm cho tinh thần thăng hoa, –vượt lên trên mọi cố chấp, hay “hóa giải” toàn bộ tập khí bất thiện trong thân tâm con người phàm tục !
<>Theo Phật học, “CỐ CHẤP” chính là “tật cô đọng thói quen” của hầu hết động vật, nhất là con người. Rồi “sự cô đọng thói quen” ấy nếu lành mạnh, tích cực, vô hại (ahiṃsa) thì nhà phật gọi là “duy tác” (kiriya) ! -Ngược lại là tạo tinh thần khép kín một cách đui mù, ôm cứng tánh lẫn tật (upādāna), hay “hỗn độn tham sân si”, chồng chất nghiệp quả tương quan (kamma vipāka paccaya). -Và đó là “tiền hành” của “lậu hoặc” (āsava) hay “phiền não” (kilesa)…để về sau kết tụ thành “năm uẩn” (pañca khandha), -TẠO HÓA (nimmātu, issara), của mỗi chúng sanh (sattā), hay cá tính nhân loại (manussassa lakkhaṇa) !
-“Con người” (manussa) là “một sinh linh bất định”, có thể tiến hóa lên cao, mà cũng có thể sa đọa xuống thấp ! -Và “MINH TRIẾT trong PHẠM HẠNH” nêu ra ở đây, là cái “nguồn sáng hướng thiện” của loài người khi tạm sống bằng “ngũ uẩn” giữa cõi dục (kāma-loka). -Nghĩa là, NGŨ UẨN gồm sắc uẩn (rūpa-khandha), thọ uẩn (vedanā-khandha), tưởng uẩn (saññā-khandha), hành uẩn (saṅkhārā-khandha), và thức uẩn (viññāna-khandha) tuy dễ bị ô nhiễm, thường chìm đắm trong hưởng thụ ngũ dục…-nhưng nhờ THỨC UẨN (1 trong 5 thứ ấy) vốn chứa “tuệ căn” (paññiṅdrya) là “khả năng kỳ diệu”…đối với 4 uẩn kia ! -Nên từ đó, người có thiện trí bẩm sinh cũng tự nhiên “nhân diện” được tính phù du nơi vạn vật.
-Huống chi “Minh triết trong Đạo Phật” còn soi sáng cho mỗi HÀNH GIẢ tự nguyện thoát ly môi trường ô-nhiễm (do tham sân si gây ra), thì PHÁP VÔ THƯỜNG (aniccā-dhammā) trong phẩm cách giác ngộ, càng minh bạch xác nhận “ngũ uẩn chỉ là hiện tượng một thời”, do duyên hợp mà thành). -Hay “THÂN TÂM” (nāma-rūpa) mỗi cá nhân chỉ là một “vận hành ô-trược và hằng biến” (=sinh lão bệnh tử…HOÀN KHÔNG !), chẳng bao giờ cố định”, dù trong thời gian ngắn nhất là “1 chập sát-na” (3/1000 giây). -Do đó vô thường cũng là vô ngã (anattā) !
(Chú thích :-“1 tiểu Sát-na” (khaṇa) “dài” khoảng 1/1000 giây. -“1 đại sát-na” hay còn gọi là “chập sát-na” là “chu kỳ căn bản mà danh sắc tồn tại”, thì gồm “3 tiểu sát-na” (sinh=> trụ =>diệt). -Nên “1 chập sát-na” tương đương với “thời gian” chừng 3/1000 giây !).
*Trong bài kinh “VÔ NGÃ TƯỚNG” (Anatta lakkhaṇa sutta), Đức Phật đã hỏi 1 tỳ-kheo trước đại chúng rằng, “Phải chăng -từng uẩn, –một nhóm uẩn, hay –toàn năm uẩn…là…NGÃ (?!)”. -Câu trả lời của vị tỳ kheo vẫn luôn luôn phủ định, rất minh bạch rằng, “mỗi uẩn, một nhóm uẩn hay toàn cả năm uẩn đều chẳng phải là một tập hợp trường tồn, vì sau cùng chúng sẽ hoàn KHÔNG, nên chẳng phải là “ngã”, hay là “ta” (atta, atmaṃ) !”. Và tính biến đổi không ngừng rồi ran rã ấy, gọi là tiến trình sinh trụ hoại diệt !
<>Nhưng “NHỮNG GÌ” là “Chân Pháp” (Bhūta-Dhammā), nằm ngoài TỬ SINH ĐỒ (saṃsāra vimutti), hay không bị chi phối bởi sinh trụ hoại diệt…thì lại là “Tri Thức khác” (añña-cittaviññāna), hoàn toàn chẳng thuộc chủ đề “vô ngã” nầy ! -Xin nói rõ… -kẻo có sự lẫn lộn giữa “chánh kiến” (sammā diṭṭhi) và “tà kiến” (micchā diṭṭhi), -đặt biệt là “tà kiến” của 2 quan niệm vô minh sa đọa, là 1/chấp vào “thường còn” hay “linh ngã vĩnh cửu” (=sassatavāda) và 2/chấp vào “đoạn diệt”, hoặc vô đạo đức, chẳng tội phước, không nghiệp quả (=phủ nhận trách nhiệm), chết là hết (ucchedavāda=nihilism !), -thuyết “tử giả biệt luận”…có thể “nhuộm đen” tâm thức con người !
<>Mặt khác, dựa theo “cặp câu đầu” trong “Pháp Cú Kinh Song đối” (Dhammapadasutta, yamakavagga đoạn số 2), chúng ta có thể nói, “PHẠM HẠNH TỰ NÓ CŨNG LÀ MINH TRIẾT. -Vì “Nét đẹp biểu lô ra bên ngoài” (hay Phạm Hạnh), và “Ánh sáng phát quang từ bên trong” (hay Minh Triết) vốn như là “HÌNH” với “BÓNG”. -Phạm hạnh ví như “hình”. -Minh triết ví như “bóng” !
*Phẩm cách của HÌNH và BÓNG tuy hai mà một…-hễ bóng thẳng chứng tỏ hình thẳng…-bóng cong xác nhận hình cong ! -Khi Đã Giác Ngộ (tức là sống biết đúng sự thật), thì CỤ THỂ và TRỪU TƯỢNG vẫn là MỘT. -“Giá trị” của phạm hạnh trừu tượng luôn luôn được chứng minh qua “hiệu lực” của giới đức cụ thể !
-Xin trích câu chót của đoạn số 2, PHÁP CÚ KINH :
(“-Quả lành của nghiệp theo sau như bóng theo hình !”
“…tato naṃ sukhamanveti, chāyā’vā anapāyinī…”…)
*Sách Thanh Tịnh Đạo (Visuddha magga potthaka), cũng nói, -khi đối xử bên ngoài bằng thân và bằng miệng mà chẳng lành mạnh, trực tiếp lẫn gián tiếp gây tổn hại đến xung quanh (hiṃsa)…thì “tư duy trong tâm (=> triết học) dù sao siêu đến đâu”…-vẫn chỉ là ác tính do tư tưởng thuần túy, hay lý thuyết mà thôi ! Vì suy nghĩ suông CHẲNG bao giờ có giá trị thực (làm nền tảng), để qui nạp thành “phạm hạnh”, -nếu không muốn nói là “đạo đức giả” đầy lừa gạt !
–Nhưng đáng tiếc là ngày nay, người ta đang đề cao sự tuyên truyền tư tưởng (chủ nghĩa) và quảng cáo (thuận chiều với hưởng thụ dục lạc, tham ái) như 2 nghệ thuật “quảng cáo tiến bộ”, rất được đa số “ngưỡng mộ” ! -Họ nào biết rằng, lý thuyết suông (phản đạo đức nhân quả) là “hiện thân” của TÍNH VÔ TRÁCH NHIỆM, ác độc và nguy hiểm !
<>Nhờ “Bản Sắc Hướng Về Thanh Tịnh” (bhāvanā) mà gần đây KHOA HỌC nghiên cứu thân thể, đã tìm ra “tế bào hình thoi” (rất quí) chỉ hiện hữu trong não bộ những “động vật đã tiến hóa”, gồm loài người (thường trầm tĩnh) và đặc biệt là loài voi). -Tế bào nầy “rất có thể” là “nguồn gốc” của “vận hành minh triết” (vijjā saṅkhārā) trong “bẩm sinh con người”! Nhưng hiện tại đa số phàm nhân vẫn chạy theo lý thuyết suông và quảng cáo (=“êm tai”, “đẹp mắt”), là bởi họ đang sập bẩy sống dưới chế độ ngu dân, dùng ác sách để cai trị…của một số đảng phái duy vật cuồng tín ! -Nói theo Phật học là họ đang sống trong hoàn cảnh đầy tham sân si, vô minh…-không thể thấy Pháp Phật (=Giác Ngộ) !
*Và chữ “PHẬT” (Buddha) trong “văn hóa cải thiện” cũng có nghĩa là “Bậc Khai Trí Tiến Đức” (=Thiện Giác), luôn luôn đào tạo và duy trì “tinh thần trách nhiệm” (minh triết) ! -Vì tình trạng VÔ TRÁCH NHIỆM (natthi maṇa-dhuravāhī => phi nhân phi quả) muôn đời vẫn là “tiền hành” của sự sống mất định hướng (bất kể đạo đức)…ngược chiều tiến hóa…trở thành hỗn loạn, sa đọa…-Và từ đó “con đường luân hồi để cải thiện”, -chứ không phải “luân hồi để càng về sau càng đọa”(!) sẽ tự nhiên bị bịt kín, triệt tiêu…-“luân thường đạo lý” đưa đến văn minh…trở thành RỖNG TUẾCH !
<>Một số không ít “triết gia” là “hiện thân của ba phải”, đã vô minh và tự đắc tuyên bố “một cách hàn lâm” (=do tham sân si hướng dẫn tinh vi) rằng, “chân lý không bao giờ cố định”, bởi “nó” tùy thuộc vào “hoàn cảnh” (hay mỗi xã hội cho là “đúng” khác nhau !) trong cuộc sống hằng thay đổi”. -Và “chân lý” chỉ là lý thuyết trong tư tưởng (vốn muôn màu) của tất cả loài người trên mặt đất ! (?)
*Nhưng Đạo Phật thì chỉ rõ rằng, “hành động cải thiện nào hằng soi sáng (-không trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến bịt kín, -không trải nghiệm mâu thuẫn) thì ấy là thể hiện của CHÂN LÝ MUÔN ĐỜI” (niccā sacca), -nên Đạo Phật luôn luôn khuyến khích con người “sống phạm hạnh, văn minh thân tâm, để giác ngộ PHÁP CỨU CÁNH” (nibbana dhammo). -Nói vắn tắc, đó là sự THỰC HÀNH để TIẾN HÓA thân khẩu ý…không lý thuyết ! -Rồi KẾT QUẢ (phala) của HẠNH sống thanh tịnh ấy (savisuddhi brahmacariya), sẽ trở thành “hiện thân” (punaravatāra) của NGHIỆP QUẢ LÀNH (kusala kamma-vipāka).
<>Bát-nhã gọi ấy là một “SỰ THẬT” (không thay đổi = niccā), sau mỗi giai đoạn hành động theo Bát Chánh Đạo !
Chú thích đặc biệt cho 1 số từ ngữ dùng trên đây :
“-NGHIỆP” (kamma) hay hành động do thân khẩu ý…phát xuất trong hiện tại, ám chỉ NGUYÊN NHÂN (hetu), tức là “cơ khởi động”, luôn luôn phối hợp với DUYÊN (paccaya) hay môi trường sống chung…để tiếp tục vận hành duy trì sinh mạng (jīvita) cho đến khi hết tuổi thọ, theo tiến trình sinh lão bệnh tử !
“-QUẢ” (vipāka) hay sự tự nhiên kết thành, “giữa nếp sống ĐANG LÀ” lẫn sẽ “HIỆN RA kiếp sau”. Nó ám chỉ “sự hội đủ yếu tố” và “hoàn cảnh phải có”, nói cách khác là “DUYÊN MỚI” (nava paccaya), sau mỗi giai đoạn hành động hay khi mỗi kiếp tái sinh bắt đầu. -“DUYÊN MỚI” chứa ý nghĩa dứt khoát rằng “kết quả của giai đoạn đi sau sẽ tốt hơn hay xấu hơn kết quả của giai đoạn đi trước”, ấy là vận hành chắc chắn ! -Những ai còn sống trong vận hành tương đối (“đang là” lẫn “không đang là”), mà “cảm thấy dửng dưng”, nghĩ rằng “mình vô nhiễm”, để lầm cho là “phá chấp”, rồi chẳng hướng đến sự tiến hóa…thì đó là “triết học” (phàm phu) của họ !
-Và trên TIẾN TRÌNH HƯỚNG THIỆN ấy, sự tiến hóa nhờ TÍNH GIẢI CHẤP (anupādāna), -ngay cả giải chấp trong cái đang là ! -Nói rõ hơn nữa, là đức hạnh không mắc dính vào cả các kết quả lành. Đó là đức TOÀN XẢ (sabbupekkhā) mà nhờ đó, anh linh (vijja bodhi-maṇo) của các bậc “phạm hạnh minh triết” sẽ “đạt BÁT-NHÔ (paññā paramattha pāramī), và tất nhiên THOÁT KHỔ (dukkha vimutti), đại nhập NIẾT-BÀN (Nibbāna) !
<>Vì “biết sống với HIỆN TẠI” (tạm gọi là “nắm bắt hiện tượng đang là…”) vẫn trên thực tế còn đang nằm trong vòng luân hồi nầy. -Đó chỉ là nhận diện cái khung “không gian lẫn thời gian” trực giác nhất, để mỗi Đại Bồ-tát gần viên tròn ba-la-mật ở kiếp chót (do đã chịu đựng xung đột =KHỔ vì tham sân si), CÓ THỂ THỨC TỈNH và dùng Thiền Niệm ấy như “bàn đạp hữu hiệu”, nhằm kết thúc HẠNH THANH LỌC thân tâm, tiến hóa đến TOÀN XẢ, hay siêu thoát ! -Ở đây, “ưu điểm” của tư tưởng “nắm bắt được” thực trạng đang diễn ra, chỉ giúp thân tâm hành giả không vướng mắc “quá khứ”, đã từng buồn vui xen kẽ, phiền não đa chiều, -chứ sự nhận diện “hiện tượng đang là” ấy hoàn toàn không có phẩm cách độ thoát nào cả !
<>Nhưng mặt khác, hãy coi chừng, Sự NẮM BẮT ĐƯỢC “hiện tượng đang là” ấy, vốn không phải là phương tiện hữu hiệu để diệt khổ. -Đó chỉ là một dạng “tử tưởng vô vi” (kiểu “Lão Đam”), -chủ trương cứ “sống theo lẽ tự nhiên” (=như bản năng cây cỏ, động vật), chẳng làm gì hết, -nghĩa là chấp nhận vô trách nhiệm (tiêu cực), ngay cả với chính mình…trong sự biến hóa không tránh được, theo 2 chiều đối nghịch, là THĂNG hoặc ĐỌA cho mỗi sinh linh, trong cái thực tế TIẾN hay THOÁI giữa những vận hành vũ trụ…luôn luôn cần đến TÍNH CẢI THIỆN, -mà ngược lại…nếu để “trôi qua” thì không khéo một “động tử” có thể trơ thành “cố chấp tánh không”, bị lừa gạt tinh tế !
-Theo Phật Học, “khi chưa thành Phật, hay chưa đạt toàn xả (chỉ có ở kiếp chót) giữa các vòng quay sinh tử luân hồi, mà một chúng sanh CHẤP CỨNG VÀO VÔ VI, tâm thức đứng yên một chỗ (=u-minh duy trì tình trạng cũ, không dùng gậy « thiền trượng » (giới-định-tuệ) dò đường đi tới… thì chẳng khác nào một kẻ vừa mù vừa nhu nhược, đầy lười biếng và an tâm chờ đợi ngoại năng khai thị….là HIỂN NHIÊN tự thụt lùi (tương đương với sa đọa), trong khi những động tử khác vẫn tùy tiện đi tới, nhắm đến những chu kỳ rộng rãi hơn, thông thoáng hơn…để sau cùng TOÀN THOÁT…chấm dứt mọi hạn chế” !
*Và ẤY là thoát ly, là siêu xuất, là tự do, hay NIẾT-BÀN (nibbana) !
———–