MINH TRIẾT trong NGHIỆP QUẢ

Bài 6

(Kamma-vipākassa Bodhivijjā ñāyasattha)

<>NGHIỆP QUẢ(kamma-vipāka) là “SỰ BIỂU LỘ” (pātubhāva) của “nhiều vận hành phức tạp lẫn hỗn hợp” (saṅkhāraṅganī dhammā) do “những NGUYÊN HỆ QUÁ KHỨ” (atīta hetu paccaya dhammā), còn gọi là “toàn bộ nhân duyên cũ” (sabba-hetukā), với những “điều kiện hiện hành”, tức là hoàn cảnh trước mắt (paccuppannna paccaya paṭṭhāna), thuộc thời gian đã qua (atīta samayā), hay đang diễn ra (paccuppanna kāla).

*Nói tổng quát theo nhà Phật, thì nghiệp quả cõi người (manussa kamma-vipāka), là “hiện thân” (punaravatāra) của “5 tập khí” hay “NGŨ UẨN” (pañca khandhā), gồm có “2 phần” cấu kết với nhau, là vật chất tứ đại (catu mahādhātu), và tâm thức” (citta-viññāna) hay “dòng điện tinh thần” (maṇa bhavaṅga). -Phật học còn gọi “vật chất tứ đại” là SẮC PHÁP (rūpa dhammā), và “tâm thức” (citta viññāna) hay “dòng điện tinh thần” (maṇo dhammā) là DANH PHÁP (nāma dhamma). -Từ đó có câu “CON NGƯỜI là cấu kết của danh sắc” !

*Nếu rõ hơn, “NGHIỆP QUẢ” (kamma-vipāka) là “THỰC TRẠNG vận hànhtồn trử” (asatho khandha) của “tất cả những động tác” (sabba kamma), do mỗi chúng sanh (sattā) đã vô minh tạo ra (avijjā kammā), chứ không phải là định luật thưởng phạt, của một “đấng toàn năng” (sammiṅdriyabhava) nào sắp đặt, để cai trị tam giới chúng sanh cả. -Đó là “sản phẩm tất nhiên” (abhinipphādana nesaggika) của “3 độc tố” luân hồi (saṃsāra), tức tham sân si (lobha dosa moha) trong động vật, nhất là loài người !

<>Còn “MINH TRIẾT” (Bodhivijjā ñāyasattha) là cái “diệu pháp soi sáng” (savijjā vibhajana), được cô đọng từ phẩm cách tri hành hợp nhất của Bậc Phạm Hạnh (Brahmacariya). -Hay “MINH TRIẾT” là “phân tích rồi qui nạp” (vibhajaṇa-niṭṭhānena => samakālevaṭṭati), qua HÀNH ĐỘNG THIỆN (kusala-kamma) một cách thực nghiệm, bởi “tuệ tâm” (ñānabhava). -Nó vừa đặt nền tảng trên ƯU THẾ cụ thể lý hóa, về “tổng kết vật chất”, vừa đồng sự với TIỀM LỰC “giòng điện tinh thần” (rūpa-mana-saṅkhāra bala).  

-Và đạt đến “minh triết” ở đây, là khi phẩm cách của sự thanh lọc thân tâm (bằng công phu nội tại) đã đến “giai đoạn viên mãn”. *“Hoa trái của minh triết” chính là “sự phát quang do bát-nhã” (prajña joti), -hay gọi một cách khác là phẩm cách giác ngộ hoàn toàn”, siêu thoát tam giới (tiloka vimutti = > sammāsambuddha).

<>Đó là “cứu cánh tự nhiên” (nesaggika carimakatta), hằng diệt khổ luân hồi” (saṃsāra dukkhaṃ vināseti), độ mình lẫn độ người (paramattha pāramī) => triệt tiêu biệt nghiệp lẫn cộng nghiệp (puggalokapi gaṇībhūtapi dhutaṅgeti) !

-Bốn chữ “phẩm cách giác ngộ” (bodhi guṇa) nêu trên, cũng chứa trọn cái “NỘI DUNG toàn xả” (sabbupekkhā) tức là “thoát ly tất cả vướng mắc phiền não” (sabbāsava vimutti), nên nhà Phật còn gọi là “THOÁT KHỎI TẬP KHÍ TỬ SINH” (saṃsāra khandha paṭimokkha) !

<>Chúng ta cần đặc biệt nhấn mạnh chiều sâu của SỰ THẬT (ayaṃ ariya sacca) rằng, “nội dung đúng” (bhūta sammā) của PHẬT NGÔN (Buddhasāsana bhāsitaṃ) là nghiệp nào quả nấy (yaṃ kammaṃ taṃ vipākaṃ), chứ không phải tuyệt đối là “nhân nào quả nấy” (yaṃ hetukaṃ taṃ vipākaṃ). -Vì câu “nhân quả liên quan” nêu ra sau nầy, hiển nhiên chỉ mô tả cái bề mặt nhìn thấy được, là “hạt quả tương ứng” (yaṃ hetu taṃ phalaṃ). -Chẳng hạn như hình thức của thực vật và hầu hết động vật…luôn luôn “cụ thể” lẫn vô thường ! -Nhưng một cách khác sâu sắc hơn, nhóm từ “nghiệp nào quả nấy” còn ám chỉ cái nội dung rất tinh vi, mà con người phàm tình không thể nào nhìn thấy bằng đôi mắt thịt, hay “dụng cụ khoa học tối tân” !

-Dù cho chư Phật vẫn dùng “ngôn ngữ qui ước” (paññatti bhāsitaṃ), để nói về “muôn sự cụ thể”…được tượng trưng bởi tứ đại (“đất”, “nước”, “lửa”, và “khí”) mà giác quan của “sinh linh luân hồi” tương đối tiếp nhận được…để tùy phương tiện hướng dẫn chúng sanh !

<>Nhưng đáng tiếc là nhân thế chẳng hiểu thấu Phật ngôn sâu xa, đã nôm na diễn tả giản dị, là nhân nào quả nấy” (yaṃ hetu taṃ phalaṃ), nên từ đó, “ý nghĩa” lời Phật dạy có thể “KHÓ” luôn luôn nghiệm đúng, nếu không muốn nói là “lắm khi còn bị “sai biệt” một cách mâu thuẫn là đàng khác” ! -Rồi hiện tượng “nhân một đàng quả một nẻo” xảy ra nhan nhản trên thế gian, -có vẻ “trái hẳn” giáo lý của Bậc Giác Ngộ (Buddhasāsana)…là một điều “khó tránh”, đã làm cho người đời hoang mang về “luật nhân quả” (hetu-vipāka niyama) !

<>Đây có thể là lý do khiến tâm thức nhân sinh mất định hướng một cách bế tắc, về “ÂN OÁN” (hay vay trả / trả vay)…trước tiến bộ “khoa học hiện đại”, hằng lấy sự hợp lý hình thức (forme logique) làm nền tảng tư duy ! -Và “hiện tượng sai biệt” tai hại nầy, lại ngẫu nhiên “thuận chiều” với lòng tham (vô minh, méo mó) giữa cõi sống say mê hưởng thụ, đầy duy vật ! -Nó đồng thời cũng cổ võ cho tình trạng mạnh được yếu thua, -nuôi dưỡng bản tính thích hiếp đáp kẻ thất thế, để thu hoạch càng nhiều lợi riêng càng tốt, -mà miệng lưỡi của “đương sự” thì luôn luôn gian manh nói “công bằng” hay “dân chủ” !

*Từ đó, sự soi sáng nhân sinh bằng trí tuệ thanh tịnh (visuddhi ñāna) của Phật giáo, tuy là điều tối cần thiết, nhưng vẫn bị lơ là…xem thường, giảm sút hiệu lực ! -Thật vô cùng đáng tiếc !

*Trở lại đề tài “MINH TRIẾT trong NGHIỆP QUẢ” (kamma vipākassa vijjā-vibhajaṇa), nếu chúng ta bình tĩnh, và VÔ TƯ, sẽ nhận thấy rằng cuộc sống là một chuỗi những ngày tháng không ngừng tạo nghiệp”, –kể từ khi ra đời cho đến lúc nhắm mắt ! -Do đó, “kiếp sống cũng là một chuỗi những ngày tháng liên tục nhận kết quả”, -bất kể người ta đã “sẵn sàng” hay “không sẵn sàng”, hoặc “bị bắt buộc” để đối diện ! -ẤY là một thực tế lý hóa…rất khoa học !

-Và một điều hiển nhiên, là nhân gian luôn luôn thắc mắc và tìm kiếm NGUYÊN NHÂN của “những hệ lụy xảy ra hằng ngày”, vốn đến từnhững nguồn gốc nào trong “HIỆN TẠI”, -chứ không ai chịu đặt vấn đề “hiện tượng ấy có liên quan gì đến NGUYÊN NGHIỆP những kiếp sống quá khứ,hoặc “các hành động bất thiện xa xưa” hay không (!?). -Và nhất là “nhân khởi các tập khí ấy do đâu”, kể cả chẳng nêu câu hỏi “phải chăng chính ta là nguồn gốc”, với “những động lực” gì !

-Thế là muôn đời người ta đã luôn luôn VÔ MINH…tự bức xúc với “cái thắc mắc nửa vời” !

<>Theo Vi Diệu Pháp (abhidhamma) nhà Phật, thì NGHIỆP (kamma) là hành động (có tương tác) của “bộ ba” thân-khẩu-ý (=cố tình),phát sinh do bị thúc đẩy bởi ít nhất là “1”trong “6 nhân” (chahetuka), -gồm 3 ÁC (=tham, sân, si), và 3 THIỆN (=vô tham, vô sân, vô si)…trong thân tâm con người, đồng thời cũng có sự phối hợp của “lưỡng duyên” (=2 hoàn cảnh thuận và nghịch). -Nhưng kẻ phàm phu cứ loay hoay truy tầm cái “lý do trừu tượng”, tha lực từ ngoại cảnh, -mà hoàn toàn không biết NÓ vốn phát nguồn từ bên trong chính mình , là ham muốn, vọng tưởng…rồi sân hận, giận hờn…không quan tâm đến “yếu tố cụ thể” (=“thực hiện”) là thân hànhkhẩu hành !

-Nói cách khác, “thân khẩu phối hợp với Ý (hay tác động của hệ thống thần kinh), -tức nói chung là bộ máy xương thịt hoạt động, “chứa năng lượng” đang sống…vốn là “2 bộ phận thường xuyên tạo nghiệp tốt lẫn xấu. -THÂN (kāya) và KHẨU (vacī) “chấp hành” mệnh lệnh của Ý (maṇo) chính là “2 DỤNG CỤ” thực hiện thiện hay ác, cụ thể hay trừu tượng…gây ra ân oán hằng ngày”!  

-Nghĩa là, “Ý NGHĨ tuy dẫn đầu, nhưng thânkhẩu luôn đóng vai trò TẠO NGHIỆP ! -Ví như một tên giết mướn vì tiền, đang bị giải ra pháp trường để đền tội…! Trên đường đi y vẫn liên tục có ý muốn rất mạnh ám sát quan binh để tẩu thoát…! -Ṇhưng 2 tay và 2 chân đã bị trói (=theo luật), không thể làm gì được, nên thực tại…y chỉ mang đại tội cũ, -chứ chưa phạm tội mới, hay chưa tái giết người, làm khổ lẫn đe dọa xã hội ! -Nếu chúng ta chỉ quan trọng “phần tư tưởng” qua triết học (=xem “thân và khẩu của y hiện tại không có tội”)…thì quả thật là một TƯ DUY THIẾU SÓT, “hiểu biết nửa vời”, đầy vướng mắc vào lý thuyết suông, kiến thức bế tắc !

-Từ đó, chúng ta chẳng bao giờ tìm ra giải pháp “cải thiện thực tế” (=hữu hiệu)…để kiếp người có tiến hóa, cho cả thể xác lẫn tinh thần !

-Vì “NGHIỆP QUẢ” (kamma vipāka) trong Đạo Phật ám chỉ cả 3 thứ liên quan hợp tác (=sampayutta) là THÂN-KHẨU-Ý. -Và “nghiệp hằng cho quả vô minh”, thường xuyên “ÂN xen kẽ với OÁN, -nghĩa là “THUẬN” lẫn “NGHỊCH” luôn luôn được “thành lập chung” (tốt xấu đi đôi), thể hiện qua thânmiệng, chứ không duy nhất là ở ý. -Tất nhiên, giữ gìn giới luật trong Nhà Phật, chính là để trước tiên cải thiện một cách cụ thể “2 nơi thô tục, là THÂN(=bạo động thể xác) và khẩu” (=phát ngôn lời ác) nầy vậy ! 

-Kẻ bị bệnh “sở tri chướng” tự xưng mình là “thượng căn, thượng trí” (?), chỉ nêu ra “việc tu tâm”, không chú trọng đến giới hạnh cụ thể, hay chẳng trân trọng việc giữ kỷ luật THÂN và MIỆNG là ngụy biện !

*Hai nhóm từ “NHÂN đưa đến QUẢ” (hetu-vipāka maggadesaka) và “NGHIỆP trổ ra QUẢ (kamma-vipāka nibbattaka) trong Phật học (Buddhasāsanasa-sikkhāpada), là “2 vận hành” (saṅkhārā) tuy có tương quan (paccaya) nhưng vẫn khác nhau (vividha) một cách thực nghiệm. -Chúng ám chỉ “2 tiến trình” khá dị biệt…rằng :

 -Nghĩa lý của nhóm “nhân đưa đến quả” phô bày sự nghiệm đúng hiện tượng trong đời sống khoáng vậtthực vật, do vận hành lý hóa đơn thuần (=cụ thể), nhưng NÓ không thể nghiệm đúng “tiềm lực” trong động vật hay sinh thái tiến hóa (trừu tượng), do tính biến đổi điện tâm giữa môi trường xoay vòng phức tạp.

-Còn nội dung của “nghiệp trổ ra quả” thì tiết lộ ra SỰ THẬT. Nó ám chỉ cả hiện tượng và năng lượng, hằng nghiệm đúng…trong tất cả tam giới chúng sinh, có thân THÔ (olārika) lẫn TẾ (sukhuma)…với tinh thần “thấp đọa” hay “cao thăng”, phối hợp với thể xác (chịu hợp tan) trong mạch sống vừa thanh vừa trược, hay ÁC xen với THIỆN !

*Đó là một “huyền lực lý hóa vô nguyên” rất khoa học của vũ trụ, và chỉ có Phật (hay Bậc Cực Tịnh, Toàn Giác) mới anh minh biết được !

<>Thử nêu một “mô tả bình dân”, cái vận hành dễ thấy nhất (bằng đôi mắt thịt), -một hạt lúa có thể duy nhất trổ ra cây lúa (thuần dạng), vĩnh viễn và chỉ sống rồi chết tại nơi nào nó mọc lên. Nhưng con người, hay nói chung là đa số động vật lưỡng tính theo tỷ lệ, -tức là nếu “dương nhiều” gọi là “đực”, và nếu “âm nhiều’ gọi là “cái”. Khi chúng “kết hợp” (=giao phối) với một đối tượng khác phái, thì cả hai “động tử” hay “sinh linh” ấy có thể tạo ra con cái, -tạm gọi là “đơn vị thứ ba” !

<>Đó là một “tính mạng khác”. -Tuy lúc mới ra đời nó hoàn toàn non trẻ (tương đương với “bất lực”), nhưng đã biết phản ứng, như theo một “tiền lệ từng sống qua”, nhân gian gọi là “giác quan thứ sáu” <=> “thông minh bẩm sinh” (!)…tự tìm kiếm nguồn sống thích hợp, -như núm vú mẹ chẳng hạn, để “duy trì” sự tồn tại bản thân một cách “không cần ai hướng dẫn” !

*Đối với nhà Phật, đây là sự khác biệt kỳ diệu, trong mỗi mạng sống nhân sinh, do NĂNG LỰC của NGHIỆP QUẢ, -hay dòng điện của tâm thức tham sống bám vào vật chất (jīva-citta). -Và nói theo “qui ước chung”, thì “giòng điện” ấy là TINH THẦN (citta-viññāna) hay “linh hồn” (maṇa), mà không phàm phu nào có thể “ấn định được” KHẢ NĂNG TỒN TẠI của nó ra sao ! -Dù cho thân xác hữu hình thì luôn luôn tạm thời, phải trải qua 4 giai đoạn sinh lão bệnh tử; như một QUI LUẬT XOAY VÒNG (pavattana-niyama) hay CÁI KHUNG hạn chế…“mang tính vô thường, phù du…một cách bất cải”, nghĩa là VẬT CHẤT không bao giờ chấm dứt đổi thay ! 

<>Chưa kể hiệu lực (vipāka) của DUYÊN (paccaya) trong cả THỰC VẬT lẫn ĐỘNG VẬT xuyên qua mỗi vận hành (saṅkhārā)…luôn luôn biến đổi ! -“Duyên” ở đây ám chỉ HOÀN CẢNH, và là “điều kiện ưu thế” (adhipati-paccaya), có khả năng làm cho “kết quả của VẬN HÀNH phải khác đi”…để cho “thực trạng tiếp theo” còn “ăn khớp”, hay “chẳng ăn khớp” (sai biệt)…khiến cho loài người có thể gọi là “hợp lý” hay “bất hợp lý” nữa ! -Nghĩa là “hoa trái sau đó” sẽ không luôn luôn là “hiện thân” của hạt giống” trước đó !

-Ví như trong khoa học canh nông (science d’agriculture) ngày nay, người ta có thể lấy nhánh CAM CHUA, “cải giống” bằng cắt ghép…rồi dễ dàng tạo ra cây CAM NGỌT, để về sau có trái “chứa” hạt cam ngọt, sáng tạo “giống mới” -Và một cách tương tự, “chuyên gia” trồng trọt cũng có thể làm cho hình thể trái dưa leo đợt trước có THÂN NGẮN, mà dưa leo đợt sau lại THÂN DÀI…hay một số loại HOA QUẢ lẫn thực vật dưới các dạng ngộ nghĩnh, “đẹp mắt” khác !

*Đạo Phật cũng xác nhận, hễ có trí tuệ (ñāna) hay hiệu lực soi sáng của “tinh thần tập trung hùng hậu” (samādhi) trong “giòng điện tâm” (citta-viññāna uyyāma) thì phát sinh khả năng kỳ diệu (abhiññā). Khả năng nầy tương đương với tình trạng năng lượng…gọi là có KHOA HỌC TÂM LINH “can thiệp và cải thiện” vạn vật. -Đó là “kết quả của mọi vận hành được biểu lộ đúng với khuynh hướng của nguyên nhân” (=nhân nào quả nấy !) -Nói cách khác…là khi tâm thức (citta-viññāna) ÍT bị hay KHÔNG bịvô minh (avijjā) che mờ…thì sinh linh tiến hóa ! -Ngược lại là sa đọa !

-Và “vận hành nhân quả” ấy (sa kamma-vipāka saṅkhārā) có thể chất chứa, để về sau trở thành “tốt hơn” hoặc “xấu hơn” (=sai biệt !), nhất là trong động vật hữu tình (rasabahula satta). -Riêng thực vật thì “hoàn cảnh nhân sinh” có thể nó làm cho HOA TRÁI không còn là “hiện thân hợp lý” của HẠT GIỐNG nữa !  

<>Hãy tìm hiểu thêm chi tiết về “vai trò ưu thế” (adhipati bala) của CẢNH DUYÊN (ālambana paccaya), hay điều kiện thực tại (paccuppannā paṭicca-samuppāda) một chút. -Ví như một “hạt lúa giống” (hetu=nhân) dù mụ mẫm đến đâu…nhưng nếu con người đem bỏ nó ở nơi khô cằn sỏi đá, hay NGHỊCH DUYÊN (akusala paccaya), -ban ngày thì mặt trời chiếu mạnh, sức nóng như thiêu như đốt, -ban đêm tuy có sương lạnh phủ đầy…và sẽ dể tan mất khi nắng lên…! NÓ nếu không chết mà “còn may mắc nẩy mầm”, thì chắc chắn sẽ trở thành “một cây lúa non cháy nám”. -Rồi vì “thuận duyên” tối thiểu, nó không thể chết, tiếp tục sống lây lất như thế…đến lúc “gượng ép trổ bông” thì kết quả chỉ là “những hạt lúa lép”, xấu xí… không tương xứng với “hạt giống tốt trước đó” !

*Xác nghiệm rằng, “hạt giống tuy tốt…mà thiếu thuận duyên thì quả vẫn xấu như thường”. -Châm ngôn “nhân nào quả nấy”…-thịnh hành trong nhân gian, trong trường hợp nầy KHÔNG nghiệm đúng”! *Ngược lại, “HẠT dù xấu” nhưng hoàn cảnh (đất, nước, không gian, nhiệt độ) vận hành tốt, hay THUẬN…thì NÓ vẫn mọc được “mầm” rồi “thành cây tốt” và cho trái TỐT…là một điều hợp lý, rất hiển nhiên !

-Nghĩa là khi có “TRÍ TUỆ” đóng góp vào thực tại…thì CẢNH DUYÊN thuận lợi được tạo ra…để cho VẬN HÀNH (saṅkhārā) của “nghiệp” (kamma-kicca) “thành tựu như bản sắc quá khứ” (=có đà định hướng) ! *Cho nên khoa học lẫn Phật học đều khẳn định, “nghiệp cũ là nguyên nhân tất nhiên hòa vào cảnh duyên” và “thực tại tuy chứng minh được di truyền chắc chắn của quá khứ, nhưng kết quả không bắt buộc là sự xác nhận” !  -Do đó, nhà Phật luôn luôn lấy “THANH TỊNH TRÍ TUỆ” làm giải pháp tiến hóa cho vận hành thân tâm, trong chúng sanh hữu tình (rasabahula sattā) !

<>Từ đó, Bậc Toàn Giác (Sammāsambuddha) mới thuyết minh rằng, “chỉ có NGHIỆP nào QUẢ nấy”, chứ “không bắt buộc phải có nhân nào quả nấy” như nhân gian truyền tụng. -Đây là SỰ THẬT MUÔN ĐỜI (niccā sacca), bao gồm cả thực vật lẫn khoáng vật ! -Riêng động vật, nhất là động vật có bộ óc phát triển, như trên gọi là “chúng hữu tình” (sống với cảm giác !), thì “Minh Triết về Nghiệp Quả” càng xác chứng CHÂN PHÁP nầy rõ ràng hơn !

-Mặt khác là “hạt có thể sinh hay không sinh trái, nhưng thực tại đang có trái thì phải luôn luôn đã có hạt trước đó”. -Ví như một người có thể hay không thể sinh con cái, nhưng người ấy tuyệt đối phải có cha mẹ ! -Và để cho cuộc sống “nhiều đời” được “tương tác bình an”, chữ “HIẾU” đã được đặt ra như MỘT THIỆN HẠNH (kusala dhamma) !

<>“CẢNH DUYÊN” (ālambana paccaya) ở đây, thường được các nhà “hiền triết phương đông” phát biểu gián tiếp là “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, hay diễn tả một cách luân lý đạo đức hơn nữa là -“thuận thiên giả tồn”, -“nghịch thiên giả vong”. (“Thiên” ở đây ám chỉ “lẽ tự nhiên của loài người”, chứ không phải “ông trời”!) -Nghĩa là “THUẬN NHÂN QUẦN thì đưa đến thành công”, hay “NGHỊCH NHÂN QUẦN thì tự diệt”. -Và cái “CẢNH DUYÊN” ấy, hầu hết do trí tuệ thanh tịnh (vô lậu) của con người sáng tạo để bổ túc (hay cải thiện), với phần còn lại từ thiện quả (sobhana vipāka) của nghiệp lành quá khứ (atīta kusala kamma), -chứ “không phải bởi một quyền năng ngoại lực nào ban cho cả !”. -TRÍ TUỆ vốn là “đóa hoa” do “trí óc đạt tuyệt đỉnh quân bình, hoàn toàn thanh tịnh” (=THIỀN) nở ra ! -Đó là nguồn gốc của nền giáo dục lành mạnh, thông thoáng, tự do, quân bình, sáng tạo !

<>Nhưng tham sân si (hay động lực mất thăng bằng của đề cao bản ngã)…hằng làm cho người ác (nhất là trong lãnh vực chính trị), thường xuyên dùng lý thuyết đánh bóng cá nhân, âm mưu “đề cao thần tượng” (=đạo đức giả), thiết lập chủ nghĩa độc quyền đoàn đảng (tham), ngụy biện và nhồi sọ quần chúng (sân-si), -bóp chết GIÁO DỤC LÀNH MẠNH…như một sách lược áp đặt tư tưởng thủ lợi…rằng “chỉ có thiểu số lãnh đạo ưu tú (mơ hồ !) mới thật sự hy sinh cho đất nước” (!?). -Đó là một dạng tỏa khói mù ngu dân…lạm dụng thiện pháp, mạo nhận “HIỀN NHÂN”, -che dấu tà trị, khoe khoang chủ nghĩa, chứ không phải là sự thật “TÔN HIỀN ĐỨC TRỊ”!

-Và đám “trí thức” mang bệnh “sở tri chướng” còn cố ý “thổi phồng biệt nghiệp”, một cách dàn dựng (pacceka kamma adhikavaṇṇaṇā), tô vẽ cho một số cá nhân gian manh, đầy bản chất buôn dân bán nước, đồng thời phủ nhận “cộng nghiệp thực tế” (dvandasamāsa kamma) của cả xã hội đa dạng văn minh. -Mục đích của họ là “VÔ TRI HÓA” quần chúng thực thà, khiến người dân không biết gì về nguyên tắc căn bản, rằng “chỉ có hạnh lành chung” (hoa trái của GIÁO DỤC TỐT, được biểu lộ thực tế) hay “CHÚNG THIỆN”, mới có thể thiết lập được một xã hội an vui lâu dài…tiến hóa !

*Khi xem lại chiều sâu Phật học, chúng ta thấy “biệt nghiệp vốn nằm trong cộng nghiệp”, -vì “CỘNG NGHIỆPlà nền tảng của cảnh duyên” (ālambaṇa paccaya), để mỗi cá nhân hành động lành mạnh, xuyên qua sự va chạm hằng ngày…mới đủ sức làm cho đời sống chung được bình an (trong đó có “mình”), tức là các nghiệp lành của từng cá nhân, cũng là những viên gạch, xây dựng ngôi nhà chung, hòa bình cho xã hội, -nói rộng ra là hạnh phúc giữa TAM GIỚI luân hồi cộng nghiệp !

<>Ngược lại, khi con người sống trong một chính thể “tất cả tuân theo thành kiến duy nhất”, hay “văn hóa tuyệt đối bị độc đảng chỉ huy”, không có nền giáo dục đa nguyên, thông thoáng, “học thuyết đóng khung, bóp chết luân lý đạo đức”, đẩy tư tưởng và hành động quần chúng vào VÔ MINH…thì mỗi cá nhân tự nhiên biến thành ngu si, ích kỷ, tàn nhẫn. -Do đó, một môi trường đồng thuận, hòa hợp, “tương tác” (thật sự lợi ích cho đa số) không bao giờ được thiết lập, thì “tuyên truyền cách mạng, đổi mới, giảm khổ, hay diệt khổ” chỉ là lý thuyết suông, hay chiêu bài lừa bịp…đi ngược chiều tiến hóa !!! 

*Nghĩa là, sự áp dụng “MINH TRIẾT trong NGHIỆP QUẢ” vẫn là cái “phương pháp lành mạnh nhất” để tạo CẢNH DUYÊN, và thiết lập “môi trường tiến hóa chung”, khi con người vẫn còn sự sáng suốt bẩm sinh, hay “LƯƠNG TÂM hướng về thiện pháp”. -Rồi “lương tâm” ở đây là gì…nếu không phải là ý thức nhìn nhận MỐI LIÊN QUAN giữa “thân phận mìnhcủa những đồng loại, hay chúng sinh đa dạng xung quanh” (?). -Tức là những gì nếu ta chẳng sẵn sàng chịu đựng, thì tuyệt đối không nên gây ra cho kẻ khác !

-Nói minh bạch, “LƯƠNG TÂM” là sự thông cảmminh mẫn tin rằng, “nỗi khổ của đồng loại cũng gián tiếp là cái khổ của chính mình”. -Từ đó “LƯƠNG TRI” là nền tảng với “tâm hổ thẹn (ray rức) trước mọi hành động xấu (bất kể thực hiện công khai hay trong bóng tối), và “ý thức sợ quả khổ tương quan” luôn luôn có mặt ! -Đây cũng là “2 tiềm lực lành mạnh” tạo cảnh duyên hướng thiện cho sự sống chung !

*Phật học gọi “tâm hổ thẹn” là “TÀM” (hiri), và gọi ý thức sợ quả khổ về sau là “ÚY” (ottappa) ! -Từ đó, chúng ta có thể kết luận một cách minh triết rằng, LƯƠNG TRI (conscience) là “đặc tính xây dựng nếp sống bình an, cao đẹp cho tất cả” (có đầy đủ TÀM và ÚY), -tương đương với THIỆN TÁNH hướng đến TOÀN GIÁC trong nhà Phật !

<>Như vậy, nếu bảo “lý luận suông về nhân quả” là TRIẾT HỌC…thì “kinh nghiệm sống văn minh,rút ra từ nghiệp quả” là MINH TRIẾT. Sự khác biệt giữa 2 lãnh vực, có thể nêu rõ rệt rằng, “triết học làm phát sinh niềm tin vàogiáo điều” (endoctrination), còn “minh triết soi sáng niềm tin vàothực nghiệm” (expérimentation) !

-Nghĩa là một bên luôn luôn dựa vào tư duy (saṅkappo), có thể được nuôi dưỡng bởi tham sân si (lobha, dosa, moha)…hằng thuộc về TƯỞNG UẨN (saññā-khandha)…vốn cố chấp, đa diện, và viễn vông, bất khả thi. -Bên kia hằng được minh chứng…căn cứ trên áp dụng để loại trừ những gì vô ích, mê tín hay ảo mộng…lý thuyết suông !

-Nhưng xuyên qua thứ ngôn ngữ gọi là “cách mạng chính trị” của thế gian (tham sân si), thì 2 chữ “giáo điều” đã bị “ảo kiến hóa”, và được hiểu một cách “nâng cấp” là “thấm nhuần ý thức hệ” (đầy bịp bợm !), thay vì phải xem là “cuồng tín”, “nhồi sọ”, hay “ngu dân”, chỉ để cho giai cấp cầm quyền dễ cai quản, bóc lột quần chúng…-nhằm tôn vinh cái gọi là “đỉnh cao sách lược” của “lãnh tụ” cuồng tín !

<>Trong TỨ NIỆM XỨ (Catu satipaṭṭhāna), hay NHƯ LAI THIỀN PHÁP (Tathāgata bhāvanā), “kỹ thuật thanh lọc thân tâm” do Phật Thích-ca Mâu-ni để lại, có nêu “4 phạm trù tương hành” (gồm 1/niệm THÂN (kāyanupassati), 2/niệm THỌ (vedanānupassati), 3/niệm TÂM (cittānupassati), và 4/niệm PHÁP (dhammānupassati). -Nếu trình bày dưới một dạng khác, thì “bộ tứ” nầy (ayaṃ catukā) đương nhiên bao gồm “2 mặt thiện hạnh” (dvi-brahmacariya mukha), là niệm sắc (rūpa bhāvanā) và niệm danh (nāma bhāvanā).

*NIỆM SẮC ám chỉ tâm tỉnh thứcan trú trong THÂN THỂ và CẢM GIÁC (hay “tứ đại vật chất”), tạm dịch là “ĐỊNH THÔ nơi sắc uẩn” (rūpa khandha), và “ĐỊNH TẾ nơi thọ uẩn” (vedanā-khandha).

*NIỆM DANH (nāma) ám chỉ tâm tỉnh thứcan trú nơi tinh thần (maṇo) bao gồm “nội cảnh” (ajjhatta ālambana) và “ngoại cảnh” (bahiddha ālambana) nơi “ý môn” (maṇo dvāra), có NGHIỆP “tư động biết pháp”. Ấy là “phần việc” của “3 uẩn còn lại”, là “tưởng uẩn” (saññākhandhā), “hành uẩn” (saṅkhārā khandha) và “thức uẩn” (viññāna khandha).

<>Bình thường thì CẢ HAI “danh pháp” (nāma dhamma) và “sắc pháp” (rūpadhammā) cùng tương tác, để vận chuyển…duy trì sự sống, đúng theo tính tự nhiên của vũ trụ…trong năng lượng nghiệp quả.

-ĐẶC TÍNH của bốn niệm nầy (=TỨ NIỆM XỨ) là không tạo dịp cho “thức tánh thiên về manh động”, để ngăn cản thói quen phóng theo các cảnh, hay lang thang bất định, phung phí năng lượng, làm yếu dần tiềm lực thanh tịnh. -Nhất là TỨ NIỆM XỨ không để cho 2 loại “cảm giác thuận lẫn nghịch (đang ngấm ngầm trong thân đang sống) trở thành nguyên nhân của vọng tưởng tiêu cực, hầu chấm dứt cung cấp “vật liệu” cho BA TẬT tham sân si xử dụng. -Vì đó là những “tà khí” hằng lôi kéo tâm thức nghiêng về “sự tìm kiếm thõa mãn ngũ dục” từ mọi phía, có thể kích thích tập khi bất thiện bên trong…-đưa đến sa đọa !

*Ấy là “4 công đoạn” củaTỨ NIỆM XỨ tiến đến “BÁT-NHÔ !

<>Còn Bát-Nhã (prajña) ở đây ám chỉ sâu sắc “hoa trái tự nhiên” của nội lực thanh tịnh thành tựu, do tri hành hợp nhất”, -nói theo Minh Triết ! -Đó là cái “tuyệt phẩm” quay về với chính mình, nhận ra “thân tâm” (rūpa-nāma) hay “ngũ uẩn” (pañca-khandha) hiện hữu…vốn là CON SỐ KHÔNG, trước “chân pháp” VÔ THƯỜNG (aniccā-bhūtadhammā). -Nó xác minh “bát-nhã không phải là một phép lạ”, và chẳng do quyền năng nào ban cho cả, mà là “linh quang tinh khiết” phát ra bởi thân tâm THUẦN THỤC THANH TỊNH (kāya-citta sammā visuddhi) -hay ấy là phẩm cách ổn định năng lượng sạch, tạm mô tả “qua 2 phân đoạn” (khả thi) sau đây :

1/ Niệm thân và 2/Niệm thọ : Nhận diện cảm giác toàn thân, để xác nhận rằng “hơi thở chỉ vận hành trong ngũ uẩn” (-không đâu khác !).

3/Niệm tâm và 4/Niệm pháp :Khám phá “trạng thái ý thức” trước “2 cảnh duyên” thuận, nghịch, và trung tính…trong THÂN lẫn THỌ ấy.

<>Nghĩa là xuyên qua SỰ VIÊN MÃN “bốn vận hành như lai thiền” (ayaṃ tathāgatassa-vipāka saṅkhārā), tâm thức mới đạt “LÝ HÓA THANH TỊNH”, giúp hành giả khám phá ra cái “yếu tố vô song” (anuttaraṃ dhātu) có thể “khai thông”, và vẹt tan màng vô minh đã hằng làm “chướng ngại” cho “tuệ căn bẩm sinh” (paññiṅdriya), từ vô số kiếp luân hồi. -Và “NHƯ LAI THIỀN” ở đây chính là con đường hóa giải phiền não (thân tâm), nhằm thoát khổ !

*Hãy nhắc lại một “vận hành tâm lý” rất phổ thông, mà người phàm nào…cũng mong mỏi là “được ơn trên cứu giúp” để tránh khỏi tai họa, trong cuộc sống hằng ngày. -Nhưng ít ai biết rằng, “đạo lý sống thật sự bình an” do Đức Phật Thích-ca (Sakya-Muni Buddha) hướng dẫn chính là “động cơ may mắn cứu nạn”. Đó là “hiệu lực kỳ diệu” của tâm thanh tịnh quay về được với chính mình (hay an trú trong thiền-na TỨ NIỆM XỨ (Catu Satipaṭṭhāna-jhāna), gồm thân-thọ-tâm-pháp !

<>Nói rộng hơn…theo Phật học, “nguồn gốc của may mắn”, một người chỉ có thể tìm thấy nơi GIỚI ĐỊNH TUỆ, trực tiếp nhất là khi đã thuần thục trong TỨ NIỆM XỨ. -Nhưng vì vô minh mà phàm nhân không thể biết, nên thường “nêu ra” một cách mơ hồ…khá “triết học”, rằng “giác quan thứ sáu là nơi phát sinh sự may mắn”, và đồng thời họ vẫn không định rõ “giác quan” ấy nằm ở đâu…trong thần kinh não bộ, hay trong “tâm thức”…để khi gặp hoạn nạn thì “trông cậy” vào “nó” (!?)  

*Liên quan đến “nguồn gốc may mắn” (sobhaggassa mūluppatti) do THIỀN PHÁP (bhāvanā-dhammā uppanna), và nói về “linh tính thoát nạn” (nimittapāṭhaka), soạn giả xin kể một giai thoại trong kinh Phật, được ghi lại giản dị như sau :

<>Trời về cuối chiều…hai thương nhân đang lặng lẽ đốc thúc một đoàn lừa, tải nhiều hàng hóa trên lưng…đi xuyên qua một cánh đồng vắng vẻ, xa làng xóm. -Đôi chủ nhân chở hàng…dĩ nhiên rất lo ngại…lòng luôn sợ có thể bị gian tặc cướp bóc ! -Họ chợt thấy xa xa…một ngôi chòi lá không vách…ở đó có bóng dáng một người ngồi yên…!

*Một trong hai thương nhân liền nhanh chân đến nơi, và dè dặt lại gần đối tượng…rồi nhận ra không phải là kẻ dữ, liền cung kính hỏi :

-Ngài là một đạo sĩ đang tu hành ?!

-TU thì chưa đạt đến đâu, nhưng HÀNHthì vẫn cố gắng !

-Ngài ở nơi hoang dã thế nầy mà được bình an ư ?!

-Bao năm qua không có gì xảy ra cho bần đạo cả !

-Chắc Ngài biết rõ địa hình vùng nầy, xin Ngài từ bi chỉ chúng tôi hướng nào tốt đi được vô sự !

*Đạo sĩ lim dim đôi mắt, chậm rải đáp :

<>«Địa hình là thân tâm nầy, hãy đưa tâm vào bên trong chính mình, để vượt qua sự sợ hãi. Khi bình định được cảm giác, nhất là toàn thân rồi…thì tự biết hướng nào an toàn. Đó là ánh sáng nội lực, vô cùng huyền diệu !-Rằng trước tiên người phải thấy rõ bản thân hiện tại như thế nào, để tâm tư không bị chi phối bởi ngoại cảnh. -Từ đó, người sẽ biết “nên làm sao”, để chẳng cần ai giúp cả ! -Và TÂM càng bình tĩnh càng có nhiều may mắn (sobhagga vipāka)» !

*Giáo Lý Nhà Phật mà Đạo sĩ vừa nói, có thể gọi là «Ánh sáng Năng Lượng Tâm Linh»), rằng «sự an trú nơi THÂN THỌ và không bị tật lo sợ chi phối» là “chìa khóa thần diệu”, có thể mở được«cánh cửa linh tính bẩm sinh», tiếp cận với “giác quan thứ sáu”, hướng dẫn hành động bình an trong mỗi cá nhân…nhất là khi đối diện với các hoàn cảnh khó khăn ! -Những lời khuyên nầy chứa đủ “NỘI DUNG” của Thiền Pháp Tứ Niệm Xứ (Catu satipatthāna bhāvanā) !

<>Hai thương nhân chợt phát tâm tin lời vị đạo sĩ, đồng thời tự biết “không còn cách nào khác”, liền cột đàn lừa vào các gốc cây, và cho ăn uống… để chúng nghỉ ngơi. Rồi cả 2 cùng thực hành những gì vị đạo sĩ «đề nghị». -Đàn gia súc suốt quãng đường dài tải hàng mệt mỏi, sau khi ăn uống no nê, tất cả liền nằm xuống ngủ yên, không gây tiếng động ! -Còn hai chủ nhân của chúng thì chủ tâm rằng «Trước tiên hãy bình định sự lo sợ trong bản thân, đây là cách tìm ra lối thoát !».

<>Tiếp theo, cả 2 thương nhân nhất tâm làm theo lời khuyên của đạo sĩ, «nhìn vào các cảm giác của mình», thấy nó cứ tăng rồi giảm, đến rồi đi, không có dấu hiệu gì vĩnh viễn, bất trị…». -Và thời gian lặng lẽ trôi qua… ! -Kết quả, suốt đêm hôm ấy, đã không có biến cố gì xảy đến. Và sáng hôm sau, cả đoàn người lẫn lừa lại lên đường với «tư tưởng tự tin»…rồi cuối cùng đến được địa điểm.  

*Chuyện «ngụ ngôn thiền»…trên đây chứng minh rằng, -«may mắn không đến từ thần quyền ban bố” hay “bởi ngẫu nhiên” (=thường gọi là quả lành từ thiện nghiệp kiếp trước», -mà là do THÂN TÂM BÌNH TĨNH trong thực tại, tiếp cận và phát triển được “tính sáng suốt bẩm sinh” (nơi mỗi cá nhân) hay “giác quan thứ sáu”, tức kích thích đúng “sức mạnh tự lực”. -Qui nạp rằng, “tâm thanh tịnh ít, thì may mắn ít, “tâm thanh tịnh nhiều, sẽ may mắn nhiều”. –Còn trường hợp, “xui xẻo lẫn may mắn” cứ bất định xảy ra…xen kẽ nhau, thì đó là “tình trạng bấp bênh”, của tâm vừa bình tĩnh vừa bấn loạn !  

<>Theo Phật học, sóng gió ở đời vốn chỉ là những cuồng phong của “3 thứ tập khí” tham sân si chưa được «bình định» mà thôi ! -Hãy phân biệt «BÌNH ĐỊNH» khác với «ĐÀN ÁP» ! *«Bình định là quả lành của thanh tịnh cảm giác» nơi thân tâm. *«Đàn áp là bạo động (hiṃsa) đối với thân tâm khi bị nung nấu bởi tham sân si». -BÌNH ĐỊNH có thiền pháp (bhāvanā) là «dụng cụ hữu hiệu» “giữ cho thân tâm an ổn, chánh niệm” ! -ĐÀN ÁP có «sóng gió vùi dập» của tham sân si nổi dậy, đốt cháy và thổi bay «sự sáng suốt» hay «tự lực hóa giải bẩm sinh» !

<>Muốn “luôn luôn bình tĩnhthanh tịnh chánh niệm”, một người phải thường xuyên NIỆM THÂN, NIỆM THỌ, NIỆM TÂM, và NIỆM PHÁP (theo Như Lai Thiền), tức là hoàn toàn “tỉnh thức trong chính mình”. -Nói cách khác là tịnh giả phải áp dụng pháp hànhan trú tinh thần nơi toàn thể xác” (ám chỉ thân và tâm), -mà ngôn ngữ «KHOA HỌC LÝ HÓA» có thể gọi là thuần thục NĂNG LƯỢNG SẠCH qua “cảm giác trong tinh thần lẫn thân thể” (kāya-citta sati-sampajañña) !

<>“Sự may mắn” (sobhagga vipāka) mà người đời hằng mong ước, thực ra chỉ là HOA TRÁI của thân tâm đạt nhiều bình tĩnh, hay tinh thần thường xuyên thanh tịnh, chứ không phải là “một ân huệ” từ đâu đến cả ! -Càng chẳng phải do “hối lộ thần linh”, mà được một cách hoang đường ! -Còn TIỀN HÀNH (hay yếu tố đi trước) của BÌNH TĨNH và THANH TỊNH vẫn là phẩm cách sống vô hại (ahiṃsa), -tức giữ đúng GIỚI HẠNH. -Hằng ngày 1/không sát sinh, 2/không trộm cắp, 3/không tà dâm, 4/không nói dối, và 5/không dùng chất say ! (-Điều thứ 5 bao gồm không mê say cờ bạc…dưới mọi hình thức, lẫn chẳng thường xuyên nô lệ dục lạc !).

<>Xin nhấn mạnh, bước đầu của “sự tìm kiếm may mắn” là phải tránh vi phạm 5 TỘI ÁC, tức không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất say (pañca akusala-kammāni vimutti). Vì ẤY là nền tảng của nhân đức hay còn gọi là “GIỚI THIỀN” (sīla-bhāvanā). -Kế tiếp là thực hành TỨ NIỆM XỨ, bằng trước tiên thuần thục phần thứ I, gồm niệm thânniệm thọ, gọi là “ĐỊNH THIỀN” (samādhi bhāvanā). -Sau cùng là “thuần thục phần thứ II, gồm niệm tâm cùng niệm pháp”, kết hợp với phẩm cách TOÀN XẢ (sabba-upekkhā) còn gọi là “TUỆ THIỀN” (paññā bhāvanā).

<>Thành quả ở cuối “giai đoạn II” (=niệm tâmniệm pháp) nầy, làm cho “linh thức” (bhūta citta viññāna) của hành giả (yogī) tự thăng hoa, không còn là phàm tục (puthujjana maṇo) nữa. -Nó sẽ trở thành “năng lượng tỏa sáng”, hiện thân của “tuệ căn bát-nhã (paññiṅdriya). -Hay “phát quang quán chiếu” (vipassana joti) một cách vô lượng vô biên (mahāvihāra). -“ÁNH SÁNG” (raṃsī) ấy hoàn toàn không màu, -tinh khiết…-“thường linh động” trong thân tâm thanh tịnh !  

*Và năng lực “BÁT-NHÔ (Prajña) chính là nền tảng của “Minh triết” (Bodhivijjā) luôn luôn hướng dẫn tạo nghiệp tiến hóa một cách khoa học, đối với THÂN (kāyena) cũng như đối với TÂM (cittena). -Chúng ta có thể khai phương thiền pháp để qui nạp rằng, “BIẾT-BÀN (nibbana) hay cứu cánh giải thoát…-HIỂN NHIÊN không phải là dẫn đến đoạn diệt, mà ẤY là “phẩm cách dứt khổ một cách tuyệt đối thanh tịnh” của tính hằng CÓ, thông suốt vạn pháp và vô ngăn ngại, để tròn đủ CỨU ĐỘ” (paramattha pāramī), hướng đến tất cả chúng sanh hữu duyên” trong đó có “mình”, đã được Phật học mệnh danh là TOÀN XẢ, thoát ly tam giới, TẬN GIẢI phiền não, chấm dứt luân hồi !

<> Sự “THOÁT LY TAM GIỚI” (tiloka vimutti) nêu ra ở đây, không phải là một diễn tả triết học, với nền tảng tư tưởng vụ lợi (saññā patiṭṭhāna) hay lãnh vực tinh thần (maṇo yatana), xem như «đã được mở rộng», trở thành cõi cực lạc (abhisukha loka), -mà ẤY là một CHÂN PHÁP (sabhūta-dhammā), hằng hóa giải toàn bộ hạn chế…của thời gian lẫn không gian (ākāsa-samaya) !

-Nghĩa là Bậc Toàn Giác (Sammā sambuddha) đã tìm ra điểm bắt đầu (ārambha kāla), và điểm chấm dứt (niṭṭhāna paccaya) của luân hồi dưới dạng TAM GIỚI, -và các Ngài đã từ bi công bố, qua ngôn ngữ Bát-Nhã rằng, «CHẲNG BAO GIỜ CÓ thời gian lẫn không gian đã tạo ra các cõi thăng đọa, mà đó chỉ là «VỌNG ĐỘNG ĐANG TRÀN NGẬP (ogha)của tham sân si LIÊN TỤC KÍCH THÍCH tạo các uẩn (khandha), hay thân tâm (kāya-citta = rūpa-dhamma). -Chính cái «khung vận hành tràn ngập» ấy là «khởi điểm» và cũng là «nguồn gốc» của KHÔNG GIAN lẫn THỜI GIAN ! -Và chỉ có ai Đà THANH TỊNH tẩy sạch toàn bộ TAM ĐỘC tham sân si trong chính mình…mới «TỰ ĐỘNGthấy và hiểu được»ĐIỂM ĐÓ…bắt nguồn từ đâu ! 

<>Liên quan đến phẩm cách «TỰ ĐỘNG thấy và hiểu được thời gian lẫn không gian» vừa nêu, chúng tôi xin nhắc lại đoạn sau đây, từ cuốn «THEO DẤU CHÂN PHẬT», (ấn tống năm 2017, cùng soạn giả TL) :

*Ngay sau khi thành Phật, Đức Thích-ca Mâu-ni đã ứng khẩu :

«Khine jāti vusitaṃ brahmacariyaṃ kataṃ

karanīyaṃ na paraṃ itthattāya».

Thoát dịch :

«Tái sinh đã chấm dứt. Đời sống phạm hạnh đã viên mãn.

Giác Ngộ Niết-bàn là đã làm xong những PHÁP ĐỘ (1) giải thoát».

————

Tiếp theo, Ngài còn nói kệ :

«Như hoa sen đẹp đẽ và thanh tịnh,

không ô-nhiễm bởi bùn nhơ hay nước đục,

dù còn tuổi thọ kiếp chót giữa bể trần,

nhưng Tâm Phật vẫn tinh khiết».

-Và :

«-Nầy người thợ làm nhà, (2), đã muôn kiếp…ta tìm ngươi !

Giờ ta bắt gặp ngươi rồi…

-ngươi không còn làm nhà (ngũ uẩn) cho ta nữa !».

————-

Chú thích về đoạn trích,

trong cuốn «THEO DẤU CHÂN PHẬT» :

(1)«PHÁP ĐỘ» ám chỉ tròn đủ Ba-la-mật (Pāramī), đến bờ thoát khổ.

(2) «Làm nhà» ám chỉ NGHIỆP «xây dựng các uẩn» (thăng hay đọa) tức «tạo thân mạng» có phước lẫn tội…để tiếp tục sinh tử luân hồi.

***

CÔ ĐỌNG ĐỀ TÀI :

<>“MINH TRIẾT trong NGHIỆP QỦA” là «ánh sáng tri hành», hay phương pháp vô lậu hóa hành vi (=TOÀN XẢ), để đạt đến «TRIỆT TIÊU TÁI SINH» (=dứt luân hồi). -Do đó, khi chư Phật chưa hết tuổi thọ vào kiếp chót, thì sự sống của các Ngài là hữu dư niết-bàn (upādiesa nibbāna). -Tuy hằng ngày, thân tâm thanh tịnh của các Ngài vẫn sinh hoạt, nhưng ấy là «những hành vi duy tác» (kiriya), chẳng thiện chẳng ác, -và nhất là KHÔNG TẠO CỘNG NGHIỆP => vô oan trái => chấm dứt nhân quả xoay vòng !

-Rồi sau khi Các Bậc Toàn Giác (Sammā Sambuddha) xả báo thân lìa trần, thì Phật học gọi là “Vô Dư Niết-bàn”(anupādisesa nibbāna), Các Ngài «chẳng đoạn diệt» và cũng “chẳng thường hằng” (trong cái nghĩa «để vĩnh viễn hưởng thụ cực lạc»), rồi bị vô minh làm cho thắc mắc là «cõi ấy ở đâu». -Nhưng đương nhiên Các Ngài đã THOÁT KHỎI TAM GIỚI thăng đọa, lên xuống, hợp tan, luân hồi…để chẳng còn tham sân thúc đẩy…phải truy ra «nguồn gốc».

-Và lẽ tất nhiên «Các Ngài cũng không thuộc về vô sở hữu xứ» (Ᾱkiñcaññā-yatana) hay «Phi tưởng phi phi tưởng xứ» (Nevasaññā-nāsaññā-yatana)…-như câu nói rất khoa học vật chất (=lý hóa), lẫn khoa học tâm linh (maṇo-vijjā), là…“tất cả hà sa vũ trụ đều không có nguồn gốc độc nhất, hoặc tiền thân” vậy !

-Ai là phàm nhân, nhiễm dày vô minh…thì không thể biết được !

Laisser un commentaire