Tuệ Lạc dịch soạn (Paris 03/2013).
Trong Tập nầy…-Sử tích Thập Đại Thánh Ni, gồm :
Mục Lục
Vài lời thưa. 3
1 : Đại Thánh Ni GOTAMI. 5
2 : Thánh Ni KHEMA. 24
3 : Thánh Ni Uppalavanna. 31
4 : Thánh Ni BHADDA KUNDALAKESA. 45
5 : Thánh Ni PATACARA. 51
6 : Thánh Ni SUNDARĪ NANDA. 60
7 : Thánh Ni Bhaddā KAPILÀNI. 64
8 : Thánh Ni KISA GOTAMI. 71
9 : Thánh Ni ISIDASI. 77
10 : Thánh Ni SONA. 86
Phụ Lục :
TUỆ GIẢI THOÁT LÀ GÌ ?. 93
Vô Minh và «Ngôi nhà NGŨ UẨN». 98
Tôi hữu duyên “dịch và soạn” được một ít sách Phật học. Trong số đó, về phương diện “Sử tích” các vị Nam Đại Tông Đồ, (Sa-Môn và Cư Sĩ) của Phật Tổ Thích-Ca Mâu-Ni Cồ-Đàm (Sākya Munī Gotama), thì đã có các cuốn :
-Cuộc đời Đức Xá-Lợi-Phất (Sārīputta),
-Lịch sử Đức Mục-Kiền-Liên (Mahā Moggallāna),
-Cuộc đời Thánh Tăng A-Nan-Đa (Ananda),
-Lịch sử Ngài A-Nậu-Lâu-Đà (Anuruddha),
-Gương lành Thánh Đại-Ca-Diếp (Mahā Kassapa),
-Sự tích Tu-Đà Cấp-Cô-Độc (Anāthapindika),
-Sự tích “Visākhā” (đại tín nữ thời Phật).
Tất cả những sách ấy đã góp mặt trong tủ sách Phật học từ lâu.
Nay may mắn tìm được tài liệu nói về mười vị Nữ Đại Đệ Tử của đức Phật. Trong số đó, Thánh Ni Mahā Pajāpati Gotami (Tàu âm là Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Đề Cồ-Đàm) nguyên là Đệ II hoàng hậu của vua Tịnh Phạn (Suddhodanarājā). Bà là dì ruột của Thái tử Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatta), hay Đức Phật.
Thánh Ni đã có công nuôi dưỡng Thái tử Sĩ-Đạt-Ta, ngay từ khi chào đời được 7 ngày. Mẹ Thái tử, hoàng hậu Maya, sau khi lâm bồn, đã từ trần. Công đức của Mahā Pajāpati Gotami dĩ nhiên đối với Đức Phật rất thâm sâu. Và đương nhiên, đối với các thế hệ, noi theo đạo giải thoát do Phật để lại sau nầy, cũng rất đáng đề cao.
Ngoài ra, sử tích của chín vị Nữ Đại Thinh Văn kia của đức Phật, cũng phạm hạnh không kém, rất đáng cho mọi người đương thời, hay các thế hệ tu Phật về sau biết đến. Đó là các Thánh Ni Khema, Uppalavanna, Bhadda Kundalakesa, Patacara, Sundarī Nanda, Bhadda Kāpilāvi, Kisa Gotāmī, Isidasi, và Sona. Cuộc đời của những vị nầy cũng quả thật là những bài học quí giá, xứng đáng cho chúng ta tra cứu, trong giáo lý vượt khổ đau, giải thoát.
Chúng tôi dịch và soạn ra tập sách nầy, cũng không ngoài lòng ngưỡng mộ, và chỉ với mục đích đó. -Nhất là để cho các thế hệ học Phật tương lai có tài liệu, khi nghiên cứu những nhân vật lích sử trong Phật giáo, liên quan đến Đấng Toàn Giác.
Xin chia đều “hạnh phúc” dịch soạn đến toàn thể.
Tuệ Lạc (NĐ).
Paris, tháng 4/2013.
Sử tích
(Ni Trưởng đầu tiên trong Phật giáo).
Đại Thánh Ni Gotami, tên viết đầy đủ là Mahā Pajāpati Gotāmi Therī (Sanskrit : Maha Prajapati Gautami Therī, Tàu âm là Ba-Xà-Ba-Đề Cồ-Đàm). Bà chính là dì ruột và cũng là dưỡng mẫu, lẫn kế mẫu của đức Phật.
Theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy (Pālī), Bà là người đầu tiên yêu cầu đức Phật cho phép nữ giới được xuất gia và tu học trong cộng đồng tăng lữ đạo Phật (Sangha). Bà cũng đã trở thành Nữ Trưởng Lão đầu tiên (Pathama Therī) đắc quả Bất Lai, thoát khỏi sinh tử luân hồi, hay A-La-Hán (Arahatta). Tên của bà thường được nhắc đến trong nhiều bài kinh và tài liệu liên quan đến đức Phật, cũng như tiền thân Phật.
Vả lại, hầu hết những nhân vật tiếp cận với Thái tử Sĩ-Đạt-Ta (=Siddhatta Gotama, Skrt. Siddharta Gautama, tên trước khi thành chánh quả của Phật), đã gần như ít được nhắc đến, trong thời gian khá dài, khoảng hai trăm năm sau khi Phật viên tịch, nên những «thư liệu» về Mahā Pajāpati Gotamī, nếu chúng ta thỉnh thoảng tìm thấy, rải rác trong các kinh sách Pālī, thì chúng có vẻ thiếu mạch lạc, và lắm khi «mâu thuẫn».
Chúng ta dĩ nhiên nên thận trọng. Đặc biệt là những thư liệu rút ra từ các sách trong bộ Túc Sanh Truyện (Jàtakà), bất kỳ theo Nam Tông hay Bắc Tông. Vì nội dung chúng ta thường thấy chênh lệch, nhiều điểm khác lẫn đầy huyền thoại.
Nhưng khi «phối hợp và chung kết» thì hầu hết có thể nói rằng, Mahā Pajāpati Gotamī chắc chắn là em gái (út) của Hoàng hậu Maya. Bà sinh ra ở Devadaha, và Phụ thân tên là Añjaya Sakka, thuộc vương tộc Koliya (Ap.ii538). Vương tộc nầy vừa là đồng minh vừa là kẻ thù truyền kiếp của dòng dõi Sakya (Thích-Ca). Cả hai vương tộc đều thuộc giai cấp «Chiến sĩ» (Khattiya, Skrt. Kshatriyas), vua chúa trong xã hội Ấn Độ thuở bấy giờ.
Còn thân mẫu của Mahā Pajāpati Gotamī (theo kinh Appādana) tên là Sulakkhana (Skrt.Sulakshana), nhưng «kinh truyện» Mahāvatthu (Skrt. Mahavatsu) thì không gọi là Sulakkhana, mà gọi là Yasodharā (trùng tên với công chúa vợ Thái tử Sĩ-Đạt-Ta, mẹ Ra-Hầu-La (Rahula) (Mhv.ii.18).
Mahā Pajāpati Gotamī có hai người anh, tên là Dandapani và Suppabuddha (Dpv.xiii.7f).
Khi chào đời, các nhà hiền triết đã tiên đoán rằng, cả hai chị em bà (kể luôn hoàng hậu Maya), đều là những người có đức hạnh rất cao. Đó là «phúc phần» của hai bậc, đã góp bàn tay «chuyển bánh xe pháp» (Cakkavattiṃ) trong dân gian.
Riêng ý nghĩa cái tên «Pajāpati» (tạm dịch «nữ mô phạm») đã được cha mẹ cố ý chọn khi sinh ra Bà, bỡi vì «linh tánh» của họ đã báo trước cho họ biết rằng «Pajāpati Gotamī là kết tinh của nhiều giới đức» Về sau, tư cách của Gotāmī quả đã phản ảnh đúng cái tên, do cha mẹ chọn. Tính tình của Bà khác hẳn vua Tịnh Phạn (Suddhodana), chồng bà.
Đến tuổi trưởng thành, hai chị em (Māyā và Pajāpati) lần lượt kết hôn với vua Tịnh Phạn (Suddhodana), người đứng đầu vương tộc Thích-Ca (Sakya). Rồi lúc Hoàng hậu Māyā qua đời (7 ngày sau khi hạ sinh Thái tử), Mahā Pajāpati Gotāmī đã tình nguyện nhận trách nhiệm nuôi dưỡng Thái tử Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatta). Bà vui lòng giao con đẻ của mình là Nanda cho người vú chăm sóc.
Do đó, chúng ta có thể nghĩ rằng, «Sĩ-Đạt-Ta Cồ-Đàm» (Siddhatta Gotama) đã mang «danh hiệu» của dưỡng mẫu Gotamī. Chữ «Gotama» tàu âm là «Cồ Đàm». Thuở bấy giờ, khuynh hướng mẫu hệ rất thịnh hành. Tập tục gọi tên con theo «danh hiệu» của người mẹ, là một chuyện rất bình thường. Và ngoài Nanda (Nan-Đà) ra, Mahā Pajāpati Gotamī còn sinh một đứa con gái, tên là Sundarī Nanda. (MA.i.1001, cp).
SỰ RA ĐỜI CỦA NI CHÚNG.
Tưởng cũng nên nhắc lại theo kinh điển, rằng khi vua Tịnh Phạn (Suddhodana) từ trần, đệ II hoàng hậu Mahā Pajāpati Gotamī đã đắc quả Tu-Đà-Hườn (Sotāpanna), bậc thứ nhất trong thánh lưu giải thoát.
Theo Dh.A.i.97, thì Bà đắc đạo khi đức Phật, trong chuyến trở về thành Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavatthu), đến thăm tư dinh của thân phụ Bà, và thuyết một bài Pháp, có tên là Mahā Dhammapàla Jàtaka (Truyện người Đại Hộ Pháp). Thời pháp đó đã làm Bà phát nguyện sẽ hành trì cho viên tròn phạm hạnh, tiến tới giải thoát sinh tử.
Nhưng nhìn vào thực tế, Bà còn sống trong «tình trạng» một cư sĩ, và vì đại nguyện nói trên, Bà đã luôn luôn chờ dịp, để yêu cầu Phật cho phép Bà xuất gia, hòa nhập vào «cộng đồng thanh tịnh khất sĩ».
Lúc ấy đức Phật Cồ-Đàm (Buddha Gotama) vừa trở lại quê quán, với mục đích hóa giải sự xung đột, giữa 2 vương tộc Koliya và Sakya, đang tranh chấp quyền xử dụng dòng nước con sông Rohini, nằm giữa 2 lãnh thổ, vốn đã nhiều lần là nguyên nhân gây gổ giữa đôi bên.
Ở đó, sau khi Phật nói kinh Kalahavivàda, thì có 500 nam thanh niên quí tộc Sakya (Thích-Ca) xin xuất gia, nhập vào cộng đồng Tăng lữ (Saṅgha). Phu nhân của những người ấy nhân dịp, liền cùng với Mahā Pajāpati Gotamī đến cầu Phật, để họ được làm như vậy, nhưng đức Phật đã từ chối. Rồi Ngài lên đường đi Tỳ-Xá-Ly (Vesāli=Vaisàli).
Sẵn quyết tâm, Mahā Pajāpati Gotamī và những thiếu phụ quí tộc Sakya kia liền tự mình xuống tóc, ăn mặc vải thô màu vàng, rồi cùng nhau lên đường theo chân Phật. Tuy đã bị Phật từ chối nhiều lần, nhưng họ không nãn chí bỏ cuộc. Đoàn người đi mãi cho đến nơi Phật dừng chân, là Tỳ-Xá-Ly.
Đến nơi, Phật đi thẳng vào tịnh phòng Mahayana, trong sảnh đường Kutagara, thì Mahā Pajāpati Gotamī và 500 phụ nữ quí tộc cũng theo sau. Đoàn người nữ «cầu xuất gia» nầy nhất định không rời Phật nửa bước, làm cho tăng đoàn tùy tùng bên cạnh đức Phật càng khó xử.
Tiếp theo, nhờ Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda) ủng hộ họ, hỏi Phật về «hạnh nguyện của Dì mẫu Mahā Pajāpati Gotamī có thể viên tròn quả giải thoát, trong kiếp nầy hay không», thì được Phật đáp lại là «có thể». Với câu trả lời «tích cực» đó, A-Nan-Đa liền mạnh dạn yêu cầu Phật chấp thuận cho Mahā Pajāpati Gotamī, và các thiếu phụ quí tộc Sakya (Thích-Ca) được xuất gia, hành đạo trong giáo lý của Ngài.
Đức Phật khi ấy dùng vô lượng tâm quán chiếu về các kiếp quá khứ, Ngài thấy Mahā Pajāpati Gotami đã từng phát đại nguyện khi gặp Phật thì nâng cao phạm hạnh, trở thành tu sĩ, sống đời sống giải thoát, và tiếp theo hướng dẫn những đồng đạo chung quanh. Liền đó Phật chấp thuận lời yêu cầu cho nữ phái xuất gia, của Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda), lẫn của dì mẫu Mahā Pajāpati Gotamī.
Nhưng không phải chỉ có thế, song song với việc cho phép nữ giới xuất gia, đức Phật còn nêu ra 8 điền kiện (cũng có thể gọi là 8 giới luật có phần “khó hiểu”) dành riêng cho nữ tu, hay tỳ-kheo-ni (bhikkhùnī) phải tuyệt đối tuân hành. Và người đầu tiên sốt sắng chấp nhận 8 điều kiện ấy, là Hoàng hậu Mahā Pajāpati Gotamī (Sp.i.242).
8 giới luật ấy là :
1/Tỳ-kheo-ni (Bhikkhūnī) phải luôn luôn kính trọng Tỳ-kheo-tăng, hay nam khất sĩ (bhikkhu), dù cho vị ấy xuất gia sau họ.
2/Tỳ-kheo-ni không được «an cư kiết hạ» ở một nơi riêng rẽ, không có tỳ-kheo-tăng đủ phạm hạnh hướng đạo.
Chú dẫn :
Phật phê chuẩn : Vào 3 tháng mùa mưa, tất cả khất sĩ tu Phật phải ở yên một chỗ, để thanh tịnh thân tâm. Khi có việc bất khả kháng phải đi đâu, thi không được vắng trú sở qua một đêm, mà không quay về chỗ cũ trước 24 giờ ngày hôm ấy. (Ngoại trừ phải báo hiếu cha mẹ hay thầy tổ).
3/Mỗi tháng 2 lần,tỳ-kheo-ni phải yêu cầu tỳ kheo-tăng cho biết «ngày sám hối» (tức là ngày kiểm tra hạnh kiểm, hoặc «Phát-Lồ» (tiếng Phật, hay Pālī gọi là Uposatha), để họ đến dự, và được nghe tỳ-kheo-tăng thuyết pháp, hướng dẫn cách tu trì, cũng như tụng giới bổn. Nhất là đối với những ai giữ giới chưa vững chắc (thường phạm phải), hay không trọn vẹn.
4/Khi dứt mùa mưa, lễ kết thúc «an cư kiết hạ» phải được thực hiện một cách cộng đồng, gồm toàn thể tỳ-kheo-ni, và do tỳ-kheo-tăng chủ động.
5/Một số lỗi quan trọng do tỳ-kheo-ni phạm, phải được trình bày và «giải quyết» trước đại hội đồng tăng và ni. Chỉ có những lỗi nhỏ (hay xích mích riêng tư) mới do «ni chúng» tùy tiện giải quyết.
6/Sa-di-ni (Samanerī, nữ khất sĩ tập sự) phải trải qua 2 năm tu học và nếu tiến bộ, mới có thể thọ giới tỳ-kheo-ni. Trong khi đó thì nam giới, khi quyết tâm xuất gia, có thể được truyền giới Sa-di (Sāmanero) và Tỳ-kheo (Bhikkhu) cùng một ngày, nếu giáo hội nhận thấy «đương sự» đủ yếu tố nhập chúng.
7/Tỳ-kheo-ni không được rầy la, hay nói «bắt lỗi» tỳ-kheo-tăng với bất cứ lý do gì.
8/Dù cho tỳ-kheo-tăng phạm lỗi, thì một tỳ kheo ni cũng không được «phê phán, bàn tán, hay dạy dỗ». Việc ấy chỉ thực hiện giữa hội chúng tỳ kheo tăng mà thôi.
Sau khi Mahā Pajāpati Gotamī hoan hỷ thọ nhận 8 điều luật nêu trên, thì 500 thiếu phụ Sakya kia cũng đồng loạt vâng lời.
Kế đó đức Phật đã truyền giới, làm phép xuất gia, và chỉ định 2 nữ khất sĩ làm Ni Trưởng, để giúp Ngài chăm sóc cộng đồng nữ tu. -Giống như trước đó Ngài đã từng chỉ định 2 nam khất-sĩ (là Xá-Lợi-Phất và Mục-Kiền-Liên) làm «quản chúng» vậy.
Và sau nầy, một số qui tắc được đặt thêm, do các vị «trưởng lão» trong cả hai giới nam và nữ, là do nhu cầu kỷ luật. Chẳng hạng như «Tăng Lệnh» không cho các tỳ-kheo-ni được phép giao dịch, hành đạo, và ở chung thiền lâm với tỳ-kheo-ni Uppalavanna, là vì lý do «huấn luyện riêng biệt».
Lời thêm của «dịch soạn giả» : Nữ tu sĩ ghi trên đây có tên “trùng với” Thánh-Ni Uppalavanna, một đại đệ tử Phật. Chúng tôi chưa có tài liệu chứng minh hai nhân vật ấy hoàn toàn riêng biệt, hay chỉ là một người (ở hai giai đoạn khác nhau). Nếu là một, dĩ nhiên hành động người chưa đắc quả, bao giờ cũng hẹp hòi phàm tục. Nhưng khi chứng đạt thì trở thành Thánh Nhân
(Nếu muốn tìm hiểu các giáo sự khác, mời xem chi tiết trong
luật phần Tỳ-Kheo-Ni = Vin.i.i.256ff*, và trong A.iv.274ff*).
Chú thích : * Theo các nguồn kinh ghi trên thì : Có một số nữ tu sĩ cố chấp, cho rằng, lễ xuất gia của hoàng hậu Mahā Pajāpati Gotami bắt buộc phải qui mô, mà trên thực tế quá đơn giản, không nhiều lễ nghi, như vậy «cụ túc giới» có thể không thành tựu, nên họ không chịu làm lễ Phát-Lồ (Uposatha, hay sám hối) với Bà. Đức Phật biết chuyện ấy, đã giải tỏa. Ngài xác nhận chính Ngài đã ban phép xuất gia đầy đủ cho Dì Mẫu một cách hợp chánh pháp. (-Theo DhA.i.v.149).
Ngoài ra, Phật cũng «tiên đoán» rằng «yếu tố nam nữ tu sĩ sống chung hành đạo, dễ sinh ra việc xấu. Nếu giới luật giữa hai hạng khất sĩ không nghiêm minh, thì tuổi thọ (hay hiệu lực) của giáo lý giải thoát có thể sẽ bị ngắn lại».
Theo một số «truyền lục» (Jātakā), thì công chúa Da-Du-Đà-La (Yasodharā, mẹ Ra-Hầu-La) cũng có mặt trong đoàn mệnh phụ quí tộc (500 người) xin xuất gia nầy.
Tưởng cũng nên nhắc lại lý do tại sao, Phật trước tiên đã từ chối việc «phái nữ xuất gia». Có những người, nhất là một số phụ nữ trong xã hội «tân tiến» ngày nay, chưa nắm vững «lý đạo» sâu sắc, về «dư quả cộng nghiệp», cũng như về thực tại «đồng» lẫn «bất đồng», giữa hai giới tính, rồi phê phán, cho rằng “Phật có sự đối xử phân biệt nam nữ”. (?)
Lý đạo sâu sắc đó là sự thật về dư quả phải chịu, không thể khác được, trong hiện tương luân hồi tái sinh với nghiệp quả bất đồng và đồng, mà nhà Phật đã kham phá nêu ra, vượt khỏi mọi khả năng cứu độ, trong thế giới sinh động vật, nhất là loài người.
Những người nầy vội vã kết luận, đức Phật đã đối xử «bất công» giữa hai phái nam và nữ. Nhưng nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu sâu sắc, thì chúng ta sẽ thấy, chư Phật quá khứ đều đã có những nữ đệ tử xuất gia, chư Phật tương lai thì chưa đến, nên chưa biết.
Còn đức Phật hiện tại Thích-Ca Mâu-Ni, đang mở giáo pháp để lưu truyền, thì hoàn cảnh tiếp độ cần phải đợi «chín muồi», hay thích hợp, mới thực hiện được. Lòng từ bi phải đi đôi với trách nhiệm. Và trách nhiệm vốn ám chỉ sự bảo đảm an ninh, hơn là làm theo quan niệm một chiều của thế gian.
Đức Phật được mệnh danh là bậc toàn giác (biết hết), thì ngay từ bước đầu truyền đạo, Ngài không thể không nhìn vào thực tế, để thấy rõ rằng, «phong tục Bà-La-Môn» đương thời, đang đè nặng trên xã hội Ấn Độ. Sống trong gia đình với sự che chở của cha mẹ hay thân nhân, giòng họ, mà nữ lưu còn bị phong tục ấy, xem nhẹ hơn nam giới như thế nào, thì trong đời sống tu Phật đơn độc, hằng ngày phải hành khất, họ sẽ ra sao ? Thoạt đầu, Ngài không «chủ trương» việc phái nữ xuất gia,là vì lòng từ bi, chứ không khải vì phân biệt giới tính.
Nghĩa là nếu chúng ta tìm hiểu kỹ hoàn cảnh xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ, thì chúng ta sẽ tìm ra lý do tại sao Phật đầu tiên không cho phép nữ giới xuất gia, nhất là xuất gia làm nữ khất sĩ, không nhà cửa, không vật phòng thân, không của cải, phải hằng ngày xin ăn, từ nhà nầy sang nhà khác, để tu tập.
Thử đặt vấn đề : Oai lực nào có thể bảo đảm được sự an ninh của những bậc phạm hạnh «cành vàng lá ngọc» như thế ? -Kinh truyện chép vẫn còn đó : Có những nữ thánh nhân đạo phật thời ấy bị hãm hiếp, không nhất thiết là ở nơi vắng vẻ. Dù cho kinh cũng ghi rõ : Quả xấu đã đẩy những cá nhân dâm dật kia xuống lòng đất, vào «địa ngục»(?). -Nhưng mấy ai thực sự biết sợ quả báo nhãn tiền !
-Thực tại xã hội ngày nay và thực tại xã hội thời đức Phật khác nhau rất xa. Chưa kể ngày nay đã đến thế kỷ 21, mà thực tại đời sống nữ lưu ở một địa phương nầy, và ở một địa phương khác cũng rất nhiều chênh lệch !
Hơn nữa, dì mẫu Mahā Pajāpati Gotami và 500 thiếu phụ vương tộc, là những người đã quen với đời sống trưởng giả, và rất có thể dù đã đi tu, họ vẫn còn mang những nét xinh đẹp quí phái (dễ cám dỗ phàm tình, theo cái nhìn của thế gian), thì sự «quan tâm về an ninh» của đức Phật, đối với các đối tượng ấy, phải đặt lên hàng đầu, là rất hợp lý !
Do đó, chỉ dựa vào câu chuyện «Phật thoạt tiên không cho dì mẫu xuất gia» mà kết luận đức Phật đối xử bất công nam nữ, thì thật là một điều vội vã !
Chúng tôi đề nghị hãy quay về Phật học, đào sâu vào giáo lý, phân tích biệt quả, cộng nghiệp, và thực tại đồng lẫn bất đồng, để hiểu vấn đề.
Xin mạo muội trình vắn tắc như sau :
1-Sanh làm nam nữkhác nhau là biệt quả, trong cùng một xã hội là cộng nghiệp. (Kamma Vipàka).
2-Thân thể nam hay nữ trong một gia đình chung cha mẹ, vàcùng loài người là đồng. Nhưng đối phó với sự chịu đựng tự nhiên trong thân, lẫn an ninh ngoài thân, không giống nhau, là bất đồng.
Ví dụ, sau khi kết hôn, việc sinh nở chỉ có người nữ phải chịu, còn nam giới thì không (là biệt quả trong cộng nghiệp). Hay khi cạnh tranh trong đời sống, sự đối phó để tự vệ bản thân, thì hầu hết nữ giới kém thế hơn đàn ông. Hai trường hợp vừa nêu là thực tại đồng lẫn bất đồng.
Một Giác Giả biết rõ thực tại như thế, rồi đối xử với mọi người một cách thích hợp, trước các sự thật nghiệp quả và duyên phận, thì không thể gọi là Giác Giả ấy «phân biệt giới tính» hay «đối xử bất công».
Ngoài ra, chúng ta cũng nên nghĩ rằng, một bậc tôn sư, đầu tiên từ chối lời yêu cầu dấn thân nào đó (dù là yêu cầu dấn thân chính đáng) của một số người ngưỡng mộ, thì sự từ chối ấy phải chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc :
-Ý nghĩa thứ nhất, đầu tiên từ chối là để đo lường sự sáng suốt, chín chắn muốn thực hiện công hạnh, hay bồng bột.
-Ý nghĩa thứ hai, từ chối các lần sau, là để thấy rõ sự quyết tâm, dũng lực hay ý chí vững chắc của người cầu xin.
Và sau đó, Đức Phật đã cho phái nữ xuất gia.
_________
Phật yểm trợ DÌ MẪU trong vai trò Ni Trưởng
Khác hẳn với những gì «tiêu cực» nói trên, có vẻ như Đức Phật không «ưu ái» trong việc xuất gia của Dì Mẫu Mahā Pajāpati Gotamī, thì chúng ta lại tìm thấy trong kinh, có những đoạn đậm nét «tích cực», miêu tả đức Phật đã đặc biệt hổ trợ Dì Mẫu Mahā Pajāpati Gotamī sau khi xuất gia, trong vai trò hướng dẫn đồng đạo.
Như trên đã nói, có một số nữ tu sĩ cứng đầu, không vâng lời Trưởng lão Mahā Pajāpati Gotāmi, viện dẫn rằng lễ xuất gia của một nhân vật như Bà mà đơn giản, là không «đầy đủ». Đức Phật liền xác nhận rằng, Dì Mẫu ngài chấp nhận lập tức 8 điều luật (khá khắc khe) được Như Lai chế ra, tại Tỳ-Xá-Ly (Vesāli), một cách sốt sắng, không do dự. Điều ấy tượng trưng cho hành động «thọ giới đầy đủ» (Upasampadā).
Ngài còn nhắc thêm, «Ngoài ra, dù cho thoạt đầu Như Lai có từ chối việc xuất gia của Bà, nhưng sau đó lá Y mà Dì Mẫu đã làm để cúng dường Như Lai, Như Lai khuyên bà đem dâng đến tăng chúng, là để làm tăng trưởng và tròn đủ ân đức Tăng Bảo hướng về bà».
Trong kinh Milinda Pañhā (Vua Li-Lan-Đà Vấn), cũng có đoạn liên quan đến Mahā Pajāpati Gotamī. Đó là chuyện Bà «thất vọng», sau khi Bà đã bỏ rất nhiều công lao, với những vật liệu hiếm có, để chế tạo một lá y vàng quí báu, hầu dâng Phật. Nhưng Ngài đã khuyên Bà đem cống hiến đến cộng đồng tăng chúng (Saṅgha).
Khi Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda) thấy vẻ mặt Bà buồn, tìm hỏi duyên cớ và bạch Phật, thì được Phật nói rõ : «Đó là do lòng từ bi của Như Lai đối với dì-mẫu. Như Lai muốn Bà sau khi tiếp nhận ân đức của Như Lai, còn tiếp nhận được ân đức của Chư Thánh Nhân và phàm tăng nữa».
Thuật sự nầy phần chính nằm trong kinh Dakkhināvibhaṅga (Phẩm cúng dường), hay bài pháp có tựa là «Sự giảng về phẩm tính những vật thí quí báu, qua lòng thành với nhiều công lao chuẩn bị, và quả phước của người dâng cúng».
Về sau, khi đã được xuất gia, Mahā Pajāpati Gotamī hằng ngày có thói quen đến đảnh lễ đức Phật, và được Phật trực tiếp hướng dẫn pháp hành, chọn đề mục thiền định, để Dì-Mẫu hành đạo sớm có kết quả, nhất là giúp Bà thanh tịnh tiến vững lên mục tiêu giải thoát.
Chẳng bao lâu sau khi xuất gia, Mahā Pajāpati Gotamī đã chứng đắc Thánh Quả A-La-Hán (Arahatta), cùng một lúc với 500 nữ đồng đạo, khi tất cả được nghe lần thứ hai, Phật thuyết bài kinh Nandakovàda.
Biết Bà đã đắc được quả Thánh cao nhất, hoàn toàn giải thoát, đức Phật liền tuyên bố rằng : «Toàn thể chư Tỳ-Kheo-Ni hãy xem Mahā Pajāpati Gotamī là bậc tôn túc».
Một lần nọ, trước mặt đại chúng ở Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavana Vihāra), đức Phật đã xác nhận : “Mahā Pajāpati Gotamī là Thánh Ni hàng đầu, trong số những người có giới hạnh và sức mạnh tinh thần vững chắc nhất”. (Theo Aṅg.i.25).
-Chữ Pali gọi «giới hạnh và sức mạnh tinh thần vững chắc nhất» ấy là “Rattaññunaṃ”, tạm dịch là pháp hành thâm đạt. Phật cũng yêu cầu bà hãy «chứng minh» điều đó, đối với những người chỉ biết kính nể kẻ khác qua «ưu thế vật chất», hay bề ngoài. Đức Phật bảo :
«Ô, Dì mẫu Gotamī, thật là hiếm thấy một cựu hoàng hậu xuất gia, đắc quả giải thoát (Arahatta, A-La-Hán), lại đạt nhiều thần thông, có thể dễ dàng biểu lộ phép lạ, chỉ để đánh tan thành kiến khinh thường của những người thiển cận, bảo thủ, luôn luôn nghi ngờ sức mạnh tâm linh của nữ thánh nhân».
Mahā Pajāpati Gotamī liền vâng lời, biểu lộ vài phép lạ. Bà liền bay lên không trung 3 lần, chắp tay hầu Phật một lúc, rồi hạ xuống mặt đất, đảnh lễ đức Bổn sư. Lần thứ tư, Bà bỗng nhiên biến mất và hiện ra trong tư thế ngồi kiết già trên cao, trước khi hạ xuống, để nhập định một lúc lâu….
Tiền kiếp Đại Thánh Ni
MAHÀ PAJĀPATI GOTAMI.
Theo kinh điển Pāḷī, Phật Giáo Nguyên Thủy, thì mỗi «địa vị» đặc biệt trong xã hội, hay tôn giáo, vốn đã được «chuẩn bị» do những kiếp sống và hành động trong quá khứ, nhất là không những chỉ do viên tròn các thiện hạnh (Pāramī=Ba-La-Mật), mà còn do nguyện vọng đạt mục đích sau nầy nữa.
Kinh nhà Phật gọi đó là nguyện vọng thành Toàn Giác (Sammā Sambuddha) hay thành Thinh Văn Giác (Arahatta, Sāvaka buddha). Từ đó, sự thành tựu đạo quả trong kiếp chót vốn đã «hữu duyên» với chư Bồ Tát, và vị Phật tương lai của kiếp chót. -Riêng Mahā Pajāpati Gotamī, thì tiền thân Bà đã thực hiện hạnh lành và gieo duyên với chư Phật, để cuối cùng được giải thoát, trong một thời gian khá dài, đến 100.000 đại kiếp. («Đại kiếp» là kiếp trái đất).
Truy nguyên như vậy, thì chúng ta thấy vào thời đức Phật Padumuttara, tiền thân Mahā Pajāpati Gotamī đã sinh làm một cô gái xinh đẹp trong dòng họ Hamsavati. Sau khi «tiền thân» ấy được nghe lời tán dương phúc đức một nữ phạm hạnh, của 500 vị Phật Độc Giác, đã phát nguyện sẽ noi gương lành kia. Và đức Phật Padumuttara liền thọ ký, nói rằng, trong tương lai cô gái nầy (tiền thân Mahā Pajāpati Gotamī) sẽ là người đứng đầu những đồng nghiệp thiện duyên, hay công đồng nữ tu. (Theo Thig.A.140ff ; AA.i.185f ; Ap.ii.529 43).
Một giai thoại khác khá phổ thông, còn thuật rằng, trong một tiền kiếp nọ, tiền thân Mahā Pajāpati Gotami đã cùng với những người ngưỡng mộ Phật Độc Giác (Paccekabuddha), đồng tâm làm phước. Nhân lúc có 5 vị Phật từ Nandamùlaka đến Isipatana tìm nơi tịnh tu trong 3 tháng mùa mưa (hay an cư kiết hạ, Vassa). Tiền thân Mahā Pajāpati Gotamī đã bất chấp khó khăn, gây ra bởi một viên «thủ bổn» sở tại (bhandāgārika), «Bà» đã quyết tâm xây dựng nhiều tịnh cốc, và cúng dường tứ vật dụng (gồm thực phẩm, chỗ ở, y phục, và thuốc men) đến chư Phật Độc Giác suốt 3 tháng. Rồi khi mãn «an cư kiết hạ», tiền thân Mahā Pajāpati Gotami còn kêu gọi những người thiện tâm, tổ chức lễ Kathiṇa, dâng đến mỗi vị Phật đầy đủ tam y.
Căn cứ theo các giáo sử ấy, thì tiền thân Mahā Pajāpati Gotami, sau khi cúng dường 5 vị Phật Độc Giác trong suốt mùa an cư kiết hạ, lúc hết tuổi thọ, đã tái sinh hưởng phước rất nhiều lần, trên thiên cảnh lẫn cõi trần. Và kiếp kế đó tiền thân bà sinh làm người có tài điều khiển xưởng dệt, đồng thời cũng là kẻ đứng đầu một nhóm bạn hướng thiện, là những nữ hầu của các gia đình trưởng giả, tổng số lên đến 500 người.
Ngoài ra, Túc Sinh Truyện Cullanandiya cũng nói, vị bồ tát trong kiếp kế tiếp đã hiện thân làm một con khỉ, và tiền thân Mahā Pajāpati Gotamī là khỉ mẹ. Còn tích ghi trong Culladhammapàla jātaka (câu chuyện Tiểu Hộ Pháp) thì nói, công tử con trai của tiền thân Mahā Pajāpati Gotamī đã bất hạnh, bị cha ra lệnh giết chết.
Một tiền thân khác, Bà chính là nàng Canda trong Culla Dhammapāla. Theo J.iii.182)
Và người cha ác độc nói trên, vào kiếp chót không ai khác hơn là Đề-Bà-Đạt-Đa (Devadatta), anh em sanh cùng giòng họ, trước theo Phật làm đệ tử, và sau trở thành kẻ thù, như các kíếp trước của Sĩ-Đạt-Ta (Siddhatta), hay như trong kiếp hoàn toàn giải thoát «của» Phật Thích-Ca. Dù trước khi chết vì đất rút, Đề-Bà-Đạt-Đa đã hối hận, nhưng quá muộn.
Mặt khác, vào thời đức Phật Ca-Diếp (Kassapa), tiền thân Mahā Pajāpati Gotamī chính là Bhikkhunidasika, tức công chúa thứ tư của vua Kiki, trị vì tại thành Ba-La-Nại (Bārānasì), Bénares ngày nay. Công chúa ấy đã đoạn lìa tình dục, giữ mình trong trắng, và hằng xây dựng tịnh thất cho những bậc Sa-Môn phạm hạnh.
Tạng Luật (Vinaya Pitaka) trong Phật giáo gồm 5 bộ sách, thì nội dung của cả 5 bộ nầy đều chứa đựng những gìới luật của Tỳ-Kheo-Tăng (Bhikkhu), và nhất là chứa các «luật phần» (Vibhaṅga) của Tỳ-Kheo-Ni (Bhikkhūnī). Các «luật phần» ấy rất xứng đáng cho chúng ta nghiên cứu, noi gương. Đặc biệt là những phẩm cách «dân chủ», gương mẫu, đặt để hệ thống tổ chức nhằm ngừa trước, những vi phạm có thể xảy ra, trong đời sống hằng ngày.
Lord Zetland, Cựu Phó Vương Ấn Độ, trước đây đã từng viết «Điều làm ngạc nhiên nhiều nhà nghiên cứu kinh điển đạo Phật, là hơn 2500 năm trước, trong thời Phật giáo, đã có những hình thức cụ thể sinh hoạt dân chủ, tượng trưng cho quốc hội ngày nay».
Một hôm, để tỏ lòng tri ân đức Phật và cố hoàng hậu Māyā cưu mang một nhân vật cứu độ chúng sanh và cho đời, Thánh Ni Mahā Pajāpati Gotamī, đã cảm hứng thốt thành kệ :
«Đức Đại Giác, vị anh hùng chân thật.
Ta tôn Ngài như cây đuốc tuyệt luân.
Giải thoát nhân sinh khỏi bể hồng trần.
Mọi đau khổ, mọi khát khao chấm dứt.
Bát Chánh Đạo, ấy con đường vượt bực.
«Diệt đế» đắc rồi, tâm sáng thuần chân.
Xưa mẹ, con, cha, anh, nội tổ…xoay vần.
Nay tự tại, anh minh qua cuộc sống.
Đã muôn kiếp lang thang trong ảo mộng.
Đầy nhân duyên mới gặp được Thế Tôn.
Tam giới hoàn không ngã sở chẳng còn.
Tam độc* dứt, hết luân hồi tan hợp.
Pháp vô thường đổi thay như ánh chớp
Kiếp cuối cùng, dứt điều kiện tái sinh.
Ngũ uẩn hoàn không, ta niệm thân mình.
Giữ giới luật và quyết tâm hành đạo.
Chẳng kiến chấp, “ta” noi gương Phật Bảo.
“Ta” tán dương Người, đức Phật Cồ-Đàm..
Thân tâm “ta” giờ, thanh tịnh ngàn năm.
Khi nhắm mắt, Niết Bàn nào phải cõi !”
(Tuệ Lạc thoát dịch thành văn vần,
theo Therīgāthā số 157-162). (*Tam độc là tham, sân, si).
Đại Thánh Ni Mahā Pajāpati Gotami có thể xem là người “khởi xướng Ni Bộ” trong đạo Phật, không phải từ kiếp hiện tại, mà kể từ thuở xa xưa, vào thời đức Phật Padumuttara, khi tiền kiếp “bà” thuận duyên chứng kiến vị Phật nầy, tán dương đức hạnh của một nữ đạo sĩ. Tiền thân Mahā Pajāpati Gotami đã nhân đó cúng dường đức Phật ấy, và phát nguyện sẽ tinh tấn hành đạo tương tự, khi gặp vị Toàn Giác tương lai. Phật Padumuttara biết nguyện vọng của tín thí, nên thọ ký và tiên đoán “Bà sẽ trở thành nữ đại đệ tử số một, “khởi xướng” và lãnh đạo ni chúng của Phật Tổ Thích-Ca Mâu-Ni sau nầy”.
Nhắc lại, vừa xong lễ xuất gia, thì quốc vương Licchavi của xứ Tỳ-Xá-Li (Vesali=Vaisali) đã phát tâm xây dựng một nữ tu viện, mệnh danh là Mahā Pajāpáti Gotami, hiến dâng đến Bà và 500 “đồng đạo” tu tập.
Hạnh kiểm của Mahā Pajāpati Gotamī từ đó mỗi ngày một vượt bực, không những có thể làm gương sáng cho toàn thể nữ tu tỳ-kheo-ni, mà Bà còn là mẫu mực của nữ giới hoàng gia, và giai cấp quí tộc.
Hằng ngày ngoài việc tu trì, một mặt Bà luôn luôn khuyến khích, và an ủi, hóa giải những khắc khổ trong đời sống nữ tu, cho những “cựu mệnh phụ” xuất gia theo Bà. Mặt khác, Bà rất quan tâm đến việc giảng đạo, và khéo léo tổ thức tu viện, làm sao cho đời sống cộng đồng được bình thường, an vui, tiến hóa, hòa hợp.
Ngoài ra, chính đức Phật cũng đã nhiều lần «phá lệ», đích thân thường xuyên đến thăm Ni Viện, nơi Dì Mẫu tịnh tu, bất cứ lúc nào Ngài được tin bà đau yếu……Đó có lẽ cũng là một hình thức báo hiếu của Ngài, đối với người đã nuôi nấng Ngài từ tấm bé.
Cuối đời
Thời gian lặng lẽ trôi qua, lúc Đại Thánh Ni Mahā Pajāpati Gotamī 120 tuổi, một hôm Bà cảm thấy xác thân như chiếc xe đã cũ, sẽ ngưng hoạt động, tan rã, tiêu hoại. Thánh Ni thanh tịnh đến nơi Phật ngự. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, Bà ngồi xuống bạch rằng :
“Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử xin Người tha thứ cho, nếu từ trước đến nay, đệ tử có làm điều chi sai chánh pháp, không vừa ý Thế Tôn. Nay đệ tử xin sám hối lần cuối để từ giã, và xin phép Thế Tôn cho đệ tử nhập diệt”.
Thốt xong, Thánh Ni đứng dậy chắp tay nghiêm trang đứng đối diện, xá Phật 3 lần, rồi Bà ứng khẩu ngâm kệ ngôn tán dương đức Phật lần cuối cùng. Bài kệ nầy đối với chúng ta có vẻ rất thiết tha cảm động, nhưng đối với Đại Thánh Ni, đó là sự chân thành vô nhiễm. Chúng tôi xin “thoát dịch” ra Việt ngữ như sau:
Ôi, Đức Thế Tôn,
“ta” đã nuôi lớn thân Người,
bằng sữa trắng,
và tình thương nghiệp lưc.
Nhưng Người đã nuôi lớn tâm linh “ta”,
bằng vô vàng ân đức.
Nhờ chánh pháp của Người,
“ta” đã dứt khổ đau
giải thoát hợp tan, sinh tử, buồn rầu
Giữa bể luân hồi, “ta” tự tại,
và không dễ có một Người con
cao siêu phong thái !
Nên trước khi nhắm mắt…
“ta” không phàm tình nhỏ lệ
“ta” chỉ muốn được thấy gót chân con
và kính ngưỡng dung nhan.
của những bước vàng son,
dưới lớp áo màu trí tuệ rạng ngời,
tinh anh giải thoát,
Người vô Nhiễm. như đóa sen hồng
nở từ bùn đen…dứt khoát.
-Xin Thế Tôn đừng từ khước.
Hãy phô bày đôi chân,
Cho mẹ được cúng dường !
(Theo Therīgàthā = Nữ Tôn Túc Kệ Ngôn).
Đức Phật nghe thế liền đưa đôi bàn chân ra, màu da hồng thắm như hai đóa sen tươi. Thánh Ni Mahā Pajāpati Gotamī vội quỳ xuống lễ bái ba lần và mỉm cười….
Đức Phật từ bi xác nhận “Cuộc sống kiếp nầy Bà đã đầy đủ ân đức, cũng như cuối đời tu hành, Thánh Mẫu đạo hạnh đã viên dung”.
Nghe Phật nói xong, Thánh Ni Mahā Pajāpati Gotamī mặt hướng về Bổn Sư, cung kính chắp tay đi lùi bước, cho đến khi không thấy Phật nữa, rồi bà thanh thoát trở về tịnh thất. Khi đến nơi, bà yên lặng đứng nhìn khung cảnh xung quanh một vòng khá lâu, như có vẻ chờ đợi ai, trước khi bà thanh tịnh bước vào phòng….
Khi những đại đệ tử Phật hay tin Thánh Ni sắp nhập diệt. Họ liền lần lượt đến thăm Bà. Trong số đó, về phía nam giới có các Ngài Sārīputta (Xá-Lợi-Phất), Mahā Moggallàna (Đại Mục-Kiền-Liên), A-Nan-Đa (Ananda), Ràhula (Ra-Hầu-La), Nan-Đà (Nanda)…Và phía nữ tu sĩ, có các tỳ-kheo-ni Khema, Uppalavanna, Sotāpanna..v…v…, cùng hầu hết những tỳ-kheo-ni trong tu viện.
-Theo một số nhà viết sách Phật giáo, thì đa số trong những vị đến thăm, vì chưa đạt thánh quả giải thoát, họ đã thương tiếc, khóc than thảm thiết…Và Thánh Ni Mahā Pajāpati Gotamī đã khuyên giải họ rất nhiều.
Thánh ni khuyên giải và tác bạch (từ giã cùng tạ lỗi nếu có) với những vị tôn túc đến thăm xong, bà cũng đưa họ ra đến ngoài phòng, rồi quay về nhập thất. Thánh Ni trang nghiêm vén khéo y phục, nằm ngay ngắn lên giường, rồi nhập định…. Và Bà an nhiên thị tịch chẳng bao lâu sau đó.
Trong lễ trà tỳ, chính đức Phật đã đi sau quan tài, dẫn đầu đoàn Tăng-Ni và tín đồ tiễn nhục thân Thánh Ni đến nơi hỏa táng. Còn vua Licchavi là vị «chủ lễ». Vương gia đã dâng chiếc quan tài bằng vàng, để tẩn liệm nhục thân Thánh Ni. Nhà vua đích thân cung kính châm lửa lên giàn hỏa, làm bằng gỗ quí, với vật đốt là củi trầm….
Khi ngọn lửa tắt, nhục thân Thánh Ni đã biến thành những Xá Lợi trong sáng, óng ánh như ngọc trai (Sārī, Perles).
Tiếp theo, Tôn giả A-Nan-Đa (Ananda) được lãnh trách nhiệm phân phối Xá-Lợi quí báu của Đức Bà. Ông liền dâng một phần lên đức Phật. Một phần khác, Tôn Giả trao cho vua Licchavi. Và mọi người đều nghe theo lời Phật dạy, mà tạo bảo tháp phụng thờ. Trên mỗi bảo tháp đều có hàng chữ «Đại Thánh-Ni Mahā Pajāpati Gotamī, Vị Đệ Nhất Nữ Thinh Văn Đệ Tử Phật».
-Nghĩa là do Bà, mà Ni Giới Đạo Phật được ra đời !
Theo những nhà nghiên cứu giáo sử, thì lễ Trà Tỳ của Thánh Ni Mahā Pajāpati Gotami đã rất trọng thể, chỉ thua lễ Trà Tỳ của đức Phật.
(Vị nữ Sa-Môn từng là hoàng hậu kiêu căng).
Thánh Ni Khema xuất thân từ một gia đình hoàng tộc, sống ở thành phố Sagala, thuộc vương quốc Ma-Kiệt-Đà (Magadha).
Từ khi ra đời cho đến lúc khôn lớn, Khema có một làn da đẹp đẽ như vàng, có một thân thể cân đối như thần thượng, và có mặt mũi thanh tú, tao nhã như hoa…. Do đó cha mẹ nàng đã đặt tên là “Khema”, nghĩa là nàng tiểu thư “xinh đẹp”.
Khi khôn lớn, công nương Khema kết hôn với vua Bình-Sa (Bimbisārarāja) xứ Ma-Kiệt-Đà (Magadha). Vì là người đứng đầu hoàng cung về phái nữ, lại có sắc đẹp lộng lẫy, hiếm thấy, nên Khema rất tự cao tự đại.
Một lần nọ, hoàng hậu nghe thuật rằng đức Phật không xem nét đẹp bên ngoài là cái gì quí giá cả. Phật nói, nét đẹp không giúp ích cho trí tuệ, hay sự giác ngộ giải thoát.
Tứ đó bà không chịu đến gặp Phật và nghe pháp. Nhưng vua Bình-Sa là một tín đồ thuần thành của đức Phật. Vì muốn cho hoàng hậu được nghe giáo lý cao siêu, nhà vua đã lập kế lôi kéo bà đi xem phong cảnh tu viện Trúc Lâm (Veluvana), nơi đức Phật đang ngụ, bằng một phương pháp rất là đặc biệt.
Vua một mặt ra lệnh cho những người làm vườn giỏi, đem những giống trúc quí nhất, cùng những loài hoa đẹp nhất, có mùi hương thơm nhất, trồng một cách đầy mỹ thuật ở tu viện Trúc Lâm. Vua một mặt mật truyền cho các nhạc công hoàng gia, dùng nhạc điệu thanh thoát, diễn tả vẻ đẹp thiên nhiên của vườn Trúc, nơi có ngôi tịnh xá, ông đã dâng cho Phật, một cách du dương trầm bỗng…..
Hoàng hậu Khema vốn là người yêu thích âm nhạc. Khi nghe tài nghệ nhạc công bà cảm thấy say sưa, dường như bà đang nhìn thấy những khóm hoa, những bụi trúc xung quanh chỗ Phật ở, hiện ra trước mắt. Và lòng ham thích phong cảnh đã thúc đẩy bà quyết định đến thăm Trúc Lâm tịnh xá.
Khi ấy, đức Phật đang thuyết pháp, giữa đông đảo thính chúng. Ngài thấy Khema từ xa đi lại, liền dùng thần thông làm hiện ra một “nữ đệ tử” đứng bên cạnh hầu Ngài. Nét đẹp của “nữ đệ tử” nầy trên thế gian không thể có người sánh kịp.
Khema vừa ngây ngất với hoa thơm cỏ lạ, vừa đắm chìm trong cảnh đẹp tự nhiên của vườn trúc, với nhạc điệu êm dịu bên tai. Đôi chân bà tự động bước đi. Ngẫu nhiên bà hướng đến, mỗi lúc một gần, nơi đức Phật đang thuyết pháp.
Bất chợt hoàng hậu chú ý sự có mặt của của một nữ nhân tuyệt sắc, đang đứng quạt hầu đức Phật, mà sắc đẹp của bà, nếu đem so sánh với “nàng hầu” kia, thì không thể nào bì kịp.
Từ sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cảnh vật, Khema bị lôi kéo, chuyển qua chiêm ngưởng vẻ đẹp của một con người. Hoàng hậu đứng nhìn trân trối “nàng hầu”, như chiêm ngưỡng một pho tượng tuyệt tác…..
Nhưng đức Phật vì muốn tiếp độ bà, tiếp theo Ngài dùng thần thông, hóa “nàng tiên” đứng hầu Ngài dần dần già đi, trước đôi mắt của hoàng hậu Khema. Làn da “người đẹp” ấy tự nhiên nhăn nheo, mái tóc tự nhiên đổi màu bạc trắng, thân thể đầy đặn cân đối phút chốc ốm nhom. “Nàng hầu” của Ngài trở thành một bà lão lưng khòm xuống, như không chịu nổi sức nặng chẳng là bao của thân thể…..
Và sau cùng, Khema thấy con người trước đó chẳng bao lâu đã “rất đẹp”, bây giờ quị xuống, run lên một lúc, rồi nằm im, tắt thở. Cái xác trở nên vô giá trị, đang biến dần, thành một đống xương!
Khema lập tức hiểu ra rằng, mọi hình thức hiện hữu, nhờ một số điều kiện phối hợp, đều vô thường. Không ai sau khi sanh, có thể tránh khỏi lão, bệnh, và tử. Bà tự nghĩ, chính mình rồi đây cũng vậy. Làm sao Khema có thể giữ mãi thân xác khỏe mạnh, và sắc đẹp vốn chỉ một thời, trong khi vạn vật đều phải vô thường như thế ?
Đức Phật nhận thấy thiện duyên của hoàng hậu Khema đã đến. Sự mắc dính hình tướng phù du của bà đã được tháo gỡ. Tâm bà đang dần dần có chánh kiến, thấy rõ âm thanh, mùi thơm, vị ngon, và sự đụng chạm vừa lòng, tất cả đều như thế. Khema sẵn sàng hấp thụ Pháp bảo….
Ngài chờ bà đến gần ngồi xuống, rồi thuyết giảng về sự nguy hiểm, khi một người vướng mắc trong năm trần (ngũ dục), thì sa đọa trầm luân như thế nào. Không phải các kiếp sống luân hồi đều được cao sang vương giả, mà tùy theo nghiệp lực, có kiếp tái sinh vô cùng đau khổ.
Đức Phật phương tiện tiếp độ tâm linh Khema từ thấp đến cao, từ phàm lên thánh, qua diệu pháp giải thoát. Sau cùng, bà đắc quả Bất Lai A-La-Hán (Arahatta) với trí tuệ phân tích (Dibba Pañña). Khi đã trở thành Thánh Nhân, hoàng hậu Khema liền yếu cầu vua Bình-Sa cho phép bà xuất gia, sống thanh tịnh trong cộng đồng Ni Chúng.
Nhân lành đã gieo từ quá khứ.
Về sau, mỗi lần nghe Pháp, Tỳ-kheo-ni Khema đều có thể hiểu thấu chân lý một cách nhanh chóng, đúng đắn và dễ dàng. Các đồng đạo Thánh Nhân thường tán dương bà về đặc điểm đó, không phải là do “khuyến khích” đề cao, mà là do họ biết rõ chính bà đã tạo duyên lành, từ rất nhiều kiếp trước.
Theo Túc Sinh Truyện (Jātakas), thì trong những đời sống quá khứ, tiền thân Khema đã thiên về những hành động làm cho tâm trí sang suốt, để trong thực tại hiểu thấu sự thật. Đó cũng là nguyên nhân mà nhiều kiếp, tiền thân bà được sinh ra không xa nơi có Đức Phật Toàn Giác (Sambuddha), hoặc có chư Độc Giác (Paccekabuddha), hay có BồTát. (Bodhisatta) xuất hiện. Nghĩa là tiền thân Khema đã thường đủ thiện duyên để trực tiếp học hỏi giáo lý, và hành trì đúng lời Phật, cũng như Bồ-Tát chỉ dạy.
Theo kinh điển Nam Truyền Pālī, thì đã 10.000 đại kiếp qua, vào thời đức Phật Pudumuttara, tiền thân Khema đã sinh làm một nữ nô tỳ nghèo khổ, trong thành phố Hannasavati. Tiền thân bà đã được tiếp xúc, kinh cảm và thoả thích bỡi đức Phật nầy, khi Ngài thuyết pháp giữa đông đảo thính chúng, gồm chư Tỳ-khưu-tăng (bhikkhù), và Tỳ-khưu-ni (bhikkhūnī). Liền đó, tiền thân Khema phát sanh mạnh mẽ thiện tâm, muốn cúng dường một bữa ăn đến đức Phật Pudumuttara.
Nhưng vì nghèo không có tiền, nên tiền thân ấy phải cắt mái tóc đẹp của mình đem bán, để có phương tiện mua vật phẩm cúng dường đến đức Phật. Sau khi cúng dường, tiền thân Khema liền phát nguyện, trong tương lai sẽ có nhiều trí tuệ, và làm nữ đại đệ tử của một vị Phật. Từ đó về sau tiền thân Khema đã luôn luôn hành thiện, để viên tròn lời phát nguyện.
Trả qua 91 vòng luân hồi kế tiếp, vào thời đức Phật Vipassī (Tàu âm là Tỳ-Bà-Thi), thì tiền thân Khema sinh làm một người nữ và xuất gia Tỳ-khưu-ni. Bà là giáo thọ mô phạm, đã phổ biến pháp giải thoát đến nhiều người.
Rồi vào thời các Phật Độc Giác Kakusandha, Konagamana, Kassapa (Ca-Diếp), với sự có mặt của Phật Toàn Giác Mahā Kappa (Đại-Kiếp), tiền thân Khema đã sinh làm một nữ tín đồ tại gia của chư Phật ấy. Bà đã xây nhiều tu viện, đồng thời cúng dường thực phẩm đến mỗi vị Phật, và các tăng đoàn cũng như ni đoàn, để họ tinh tấn hành đạo.
Có nhiều “Túc Sinh Truyện” (Jātaka) nói về Khema, kể lại rằng, tiền thân bà đã luôn luôn phát triển trí tuệ. Chẳng hạng như trong truyện làm vợ Bồ-Tát (tiền thân Gotama, Jàtaka số 534), hay trong truyện “tiền thân Khema làm dâu đức Bồ tát” (Jātaka No.397), cũng như trong truyện tiền thân bà làm vợ tiền thân Sārīputta (Jātaka No.534). Trong mỗi tiền kiếp như thế, tiền thân Khema luôn luôn đầy đủ đức hạnh, và thể hiện nhiều thiện nghiệp, để viên tròn ước nguyện.
Sau khi đắc quả A-La-Hán, Thánh Ni Khema nắm vững các pháp nói về luật vô thường của vạn vật, và biết rõ sự nguy hiểm, dành cho những kẻ đắm say ngũ trần, nhất là sắc dục.
Ngày kia, con người hằng ngưỡng mộ sắc đẹp của Thánh Ni Khema, vốn không ngừng đeo đuổi, vẫn lởn vởn tìm cách cám dỗ bà, bằng những lời lẽ thấp thỏi như sau :
“Người hãy còn trẻ và rất đẹp.
Còn tôi thì sức sống tràn đầy.
Nầy nữ nhân cao quí kia,
Sao người không đến với tôi,
Để vui hưởng hạnh phúc ở đời.
Vốn không thiếu trong năm trần cảnh,
hằng chứa đầy lạc thú ?!”.
Thánh Ni Khema là một bậc A-La-Hán, bà liền dùng lời lẽ chân chánh, thẳng thắn khuyên giải kẻ si mê rằng :
“Nầy người vô duyên trụy lạc,
đã si mê xúc phạm đến thánh nhân.
Ông vốn đang bệnh hoạn tinh thần !
Nên ông chẳng thận trọng, nghĩ suy bất nhã !
Tâm ta giờ đây thấm nhuần nhân quả.
Không còn khích động bởi tham, sân,
Diệt hết lạc thú giác quan, ảo mộng xa gần.
Tuệ ta sáng như thanh gươm, trước đống gỗ mục,
Mà thế gian gọi là hạnh phúc.
Những thứ ấy với gươm trí tuệ nầy,
Không còn chi là mãnh lực,
Chẳng làm gì ta, trong khổ cảnh vô minh ?
Trần thế “cầm tù” bao kiếp tử sinh,
Như một địa ngục vô hình….
Nhưng ta chỉ thấy con đương giải thoát.
Con đường sáng trưng, cao thượng nhất !
Và ông chính là người thua cuộc,
Tự bít lối tiến hóa cho mình,
Và chẳng biết hướng về đâu !
Trong rừng gai, nếu đã nếm khổ sầu,
thì mau phải trang nghiêm quay về giới hạnh.
Chận đứng dục tình, thấp hèn, dơ bẩn,
Tìm đến Phật-đà, học pháp cao thâm.
Đảnh lễ Ngài và sám hối thành tâm.
Mai sau may ra, sẽ có chân hạnh phúc.
Còn ta, giờ đây thiền tâm thuần thục,
hướng đến giải thoát bên trong
cũng như bảo vệ Đức Phật bên ngoài !
(TL thoát dịch theo Therīgāthā các số 139-144)
Nói tóm lại, Thánh Ni Khema xứng đáng là vị nữ đại đệ tử, «Lãnh Đạo Ni Chúng» đầu tiên, trong số những nữ đại đệ tử lỗi lạc của đức Phật. Bà đã được xếp vào hàng những bậc có trí tuệ cao nhất đương thời. Bà hằng được mọi người trong các hàng tứ chúng* rất kính trọng. Đó là nhờ khả năng giảng giải giáo lý rõ ràng, nhất là khả năng phân tích, soi sáng những giáo lý cao thâm, thường khi rất khó hiểu.
*Tứ chúng là Tỳ-khưu (bhikkhu), Tỳ-khưu-ni (bhikkùnī), thiện nam (upāsaka), và tín nữ (upāsikā).
Trí tuệ và biệt tài trình bày những pháp vi diệu của Thánh Ni, đã làm cho quốc vương Pasenadi (Ba-Tư-Nặc) của xứ Kosala, hoàn toàn qui ngưỡng Phật giáo. Bà đã giúp cho «Ni Bộ» thời đức Phật còn tại tiền, có pháp học và pháp hành vững chắc trong suốt thời gian bà có mặt.
(Vị Thánh nhân có một màu da đặc biệt)
Nếu chúng ta đã đọc qua sử tích của Thánh Ni Khema, và đọc tiếp sử tích của Thánh Ni Uppalavanna, rồi so sánh 2 cuộc đời, thì chúng ta sẽ cảm thấy chạnh lòng. Vì tuổi thanh xuân, Thánh Ni Uppalavanna đã vô cùng đau khổ.
Câu chuyện được thuật lại trong kinh sách như sau :
Thuở thiếu thời, Thánh Ni Uppalavanna là ái nữ của một thương gia giàu có. Bà rất xinh đẹp, nhưng có một điểm đặc biệt khác thường là làn da của bà màu xanh, như màu lá sen. Và do đó, cha mẹ bà đã đặt tên cho con là «Uppalavanna» (Đứa con gái da lá sen).
-Xin nói thêm, đây không phải là lần thứ nhất, Uppalavanna có màu da xanh như vậy, mà theo những kinh điển khác, nhất là Túc Sinh Truyện, nhiều kiếp trước, tiền thân Uppalavanna đã từng có màu da như vậy. (Quí vị sẽ đọc trong đoạn «Tiền thân thánh Ni»).
Đến tuổi lấy chồng, Uppalavanna kết hôn với một chàng trai, con trưởng nam một gia đình thương gia khác. Như bao nhiêu cô gái thời bảo thủ cổ tục, Uppalavanna phải rời mái nhà cha mẹ, về làm dâu gia đình bên chồng.
Buổi đầu, «hạnh phúc lứa đôi» đã rất ngắn ngủi. Một hôm chồng nàng có việc phải đi xa, và tạm ngụ tại kinh đô Vương Xá (Rājagaha) một thời gian khá lâu, để lo việc buôn bán. Còn Uppalavanna phải ở lại một cách «cô đơn», làm mọi công việc nặng nhọc nơi nhà chồng.
Rồi một bất hạnh đã xảy ra, đưa cuộc đời Uppalavanna vào những ngày tháng cực kỳ đen tối.
Số là lúc chồng nàng lên đường buôn bán, nàng đã có thai, nhưng cả nàng lẫn chồng không ai hay biết. Trong khi vắng mặt chồng thì cái bụng mỗi ngày một lớn. Gia đình bên chồng vốn đã ganh ghét, vì lúc chồng nàng ở nhà rất yêu thương nàng. Vì đố kỵ, em chồng, mẹ chồng, rồi cả nhà chồng đã không ngần ngại kết tội nàng ngoại tình. Mặc dù nàng đã hết lời biện hộ, rằng nàng vẫn hết lòng trung thành với chồng. Nhưng tất cả đã không tin, và cùng nhau tàn nhẫn khinh bỉ, đuổi nàng ra khỏi nhà, không một chút thương tiếc.
Uppalavanna chẳng còn cách nào hơn, là bụng mang dạ chửa, lang thang lên kinh đô tìm chồng.
Đứng trước một cuộc hành trình đầy gian truân, vô định, ngầm chứa bao nhiêu nguy hiểm, và cạm bẩy, Uppalavanna hoang mang, ngơ ngác, sợ sệt, nhưng phải nhắm mắt đưa chân, đến đâu hay đến đó.
Người ta nói «phước bất trùng lai, họa vô đơn chí», nghĩa là cái vui không bao giờ đến liên tiếp, nhưng cái khổ thì thường khi nối đôi nhau. Trường hợp Uppalavanna cũng vậy. Tuy tiền bạc phòng thân nàng có không bao nhiêu, phải ăn uống bữa no bữa đói, nhưng đứa bé trong bụng thì phát triển đều đều.
Ngày kia, lúc Uppalavanna đang tạm nghỉ trong một cái chòi vắng bỏ hoang, thì nàng chuyển bụng, và hạ sinh một đứa con trai. Nhìn xung quanh không làng không xóm, chẳng nhờ cậy ai được, tứ cố vô thân, Uppalavanna đành xé một mảnh vải trên y phục của mình, để quấn con cho ấm. Rồi nàng đi tìm một giòng suối trong để rửa ráy, gọi là làm vệ sinh tối thiểu !
Trong khi Uppalavanna vắng mặt, bỗng có một khách thương đi ngang cái chòi rách, nghe tiếng trẻ sơ sinh khóc. Người ấy bước vô xem, thì thấy một hài nhi. Với lòng tốt người bộ hành liền bồng lên, nhận làm con nuôi. Và đem đi mất….
Lúc Uppalavanna quay lại, thì không thấy con đâu. Nàng liền thét gào, chạy Đông chạy Tây tìm kiếm, khóc than thảm thiết. Nhưng tiếng kêu của nàng tan biến trong khoảng không. Uppalavanna đau khổ vô cùng, nàng gần như điên loạn.
Hy vọng gặp chồng minh oan, để nương thân, đối với Uppalavanna, không còn nữa. Vì nàng sẽ ăn nói làm sao với chồng, khi thiếu cẩn thận đánh mất đứa con trai đầu lòng ? -Hay không khéo nàng sẽ bị chàng ruồng bỏ ! Không còn đứa con làm chứng cho tình yêu đôi lứa, thì có gặp mặt chồng cũng như không. Chưa kể khi một phụ nữ làm mất đứa con trai «nối giòng» của gia tộc, trong xã hội Ba-La-Môn thuở bấy giờ, có thể bị người chồng nổi giận giết chết. Càng nghĩ Uppalavanna càng muôn ngàn sợ hãi, đôi chân nàng, tự nhiên đổi hướng đi.
Bây giờ Uppalavanna không còn cách nào khác, là tìm về nhà với cha mẹ. Và muốn quay về quê quán, nàng phải băng qua một cánh rừng rậm mênh mông, ở đó biết đâu nguy hiểm khác lại hiện ra ?
Quả vậy, khi Uppalavanna đang bước đi giữa rừng vắng, thì một tên cướp trông thấy sắc đẹp của nàng, liền xông ra. Hắn dùng bạo lực bắt ép nang về sào huyệt làm vợ…….
Uppalavanna như con thuyền lạc lối, lênh đênh trên mặt nước, các cánh bườm đã tả tơi. Con thuyền cần một chỗ để dừng chân, bất kể chỗ ấy sạch dơ như thế nào. Nghĩa là vì quá tuyệt vọng trước mọi trường hợp, người đàn bà ấy biết mình có kháng cự cũng vô ích, đành nhắm mắt đưa chân, đến sống chung với một kẻ hung bạo.-Thế là một cuộc phiêu lưu khác lại bắt đầu cho người đàn bà bất hạnh.
Vì nhạy con, nên sau khi bị cưỡng bức Uppalavanna đã có thai, và sinh với tướng cướp một bé gái. Sự sống hằng ngày của nàng, với một «người chồng» hung bạo như thế, chẳng hạnh phúc gì, nhưng đứa con gái vẫn là một nguồn an ủi.
Tướng cướp rất dễ nổi giận, và để dằn vật «người vợ» một cách tàn ác hơn, hắn thường xuyên nhắc đến quá khứ bị ruồng bỏ của nàng. Cứ mỗi lần rầy la «vợ», hắn bạo động tối đa, như để trút hết mọi bất mãn tích tụ từ lâu lên đầu nàng.
Một hôm đang ngồi ôm con cạnh giường, suy nghĩ mông lung, hờn tủi cho số phận của mình Uppalavanna chịu đựng hết nổi, bất thần buông con đứng dậy. Nàng lỡ tay làm rơi đứa bé lăn xuống đất. Ngẫu nhiên đầu nó chạm mạnh vào một vật cứng, bị thương máu tuông ra xối xả. Và nó bất tỉnh, nằm bất động. Lúc ấy tướng cướp đi vắng, Uppalavanna tưởng con đã chết, suy nghĩ biết chắc rằng, hắn sẽ không tin sự rủi ro làm mất con của nàng. Hắn có thể giết nàng để trả thù. Muốn sống, nàng phải mau mau bỏ trốn. Rồi Uppalavanna tẩu thóat.
Sau khi đã đến một thành phó khá xa cánh rừng, nơi có tướng cướp. Với ngoại diện trông cũng còn xinh đẹp, phúc hậu, Uppalavanna cảm thấy hổ thẹn quay về nhà cha mẹ, hay tìm lại người chồng đầu đời, mà nàng rất thương yêu. Uppalavanna quyết định tự lập, sinh sống bằng nghề làm việc lặc vặc, từ nhà nầy sang nhà khác. Và lẽ dĩ nhiên nàng sống rất nghèo khổ….
Một hôm, trong lúc Uppalavanna đang lượm củi cho chủ nhân, thì hình dáng của nàng lọt vô đôi mắt của một chàng trai tuấn tú. Người nầy tỏ ra say mê nàng và hỏi cưới nàng làm vợ. Uppalavanna vốn rất sợ cảnh cô độc, không chỗ nương thân, nên lần nầy nàng nhận lời.
Uppalavanna sau đó sống «hạnh phúc» với chồng trong một thời gian ngắn. Nhưng một ngày kia, chồng nàng phải lên đường đi buôn bán. Và sau một thời gian chồng quay về, thì mang theo một người đàn bà khác, rất xinh đẹp, tuổi đời lại còn trẻ. Uppalavanna phải chấp nhận người nầy một cách bất đắc dĩ. Nàng nghĩ rằng, đàn ông yêu thương đàn bà theo nhiều cách khác nhau của họ.
Hai người phu nữ cùng chồng, sống chung trong một gia đình, thì tình cảm «liên đới» của họ rất «đặc biệt». Một hôm, vì chăm sóc mái tóc cho người «vợ thứ», Uppalavanna chú ý đến một cái thẹo khác thường, trên đầu của người nầy. Và sau khi gạn hỏi, Uppalavanna được nghe kể rằng, cô gốc là con gái một tướng cướp, và vết thẹo đó do lúc còn bé, cô đã bị té vào một vật cứng, trong khi cha mẹ cô ẩu đả nhau.
Uppalavanna một lần nữa lại rơi vào cảnh ngang trái, đau khổ kinh hoàng. Người vợ thứ của chồng, không ai khác hơn chính là con gái nàng với tướng cướp, khi nàng bỏ trốn gần 20 năm trước, vì nàng tưởng chắc nó đã chết…..
Không còn chịu nổi sự tủi hờn, nhục nhã nữa, Uppalavanna liển lẳng lặng bỏ nhà ra đi. Nàng thơ thẫn, suy nghĩ mông lung, không biết hướng về đâu. Chồng nàng bây giờ có cô vợ trẻ, chẳng buồn để ý. Nhưng đôi chân của Uppalavanna ngẫu nhiên đã đưa nàng đến đức Phật…..
Tuy nàng nhìn thấy đức Phật lần đầu tiên, nhưng nàng có cảm giác như nhìn thấy một cái gì quen thuộc, và vô cùng mát mẻ, đầy khả năng che chở. Nàng như một người lữ hành giữa sa mạc nóng cháy nhìn thấy một tàng cây to, gần giếng nước. Uppalavanna chợt cảm thấy an tâm hướng thẳng đến, để may ra tinh thần được bình tĩnh phần nào. Và đó là lý do sau nầy Uppalavanna đã quyết định trở thành một Tỳ-khưu-ni.
Ngày tháng yên lặng trôi qua. Bây giờ đời sống Tỳ-khưu-ni Uppalavanna dần dần đã được bình an, không còn lênh đênh, chìm nổi như trước nữa.
Hằng ngày Tỳ-khưu-ni Uppalavanna chỉ có một số sinh hoạt trong nếp sống cộng đồng, là ngồi thiền, khất thực, chấp hành việc gìn giữ tu viện, hay nơi thờ phượng cho được trang nghiêm, thanh tịnh, sạch sẽ, thứ tự.
Ngày kia, sau khi xả thiền, Tỳ-khưu-ni Uppalavanna bỗng phát tâm muốn lau chùi và chăm sóc nhan đèn nơi chánh điện. Bà lặng lẽ dâng vài nén hương và thắp mấy cây đèn. Trong khi đang làm việc ấy, Uppalavanna chợt thấy ngọn lửa một cây đèn, nghiêng hẳn về phía bà, dường như nó bị thân thể bà có hấp lực hút mạnh vậy.
Tỳ-khưu-ni Uppalavanna lập tức chú ý, và định tâm vào ngọn lửa ấy, bà bỗng thấy được sự thay đổi tình trạng trong từng khoảnh khắc của nó. Trí tuệ chứng thật pháp vô thường (Aniccā), của bà theo định lực liền bừng sáng. Và tiếp theo chẳng bao lâu, Tỳ-khưu-ni Uppalavanna thanh tịnh đắc thánh quả A-La-Hán (Arahatta).
Thánh Ni Uppalavanna bây giờ không còn là một người có nét mặt ưu sầu phiền muộn như trước nữa. Bà là một người hoàn toàn tự tại, thanh tịnh, có trí lực siêu phàm, mà Phật học gọi là tuệ phân tích thâm đạt.
Đức Phật khi biết vị nữ đệ tử nầy chứng đắc trí quả cao nhất, Ngài liền xác nhận và tuyên bố trước đại chúng rằng, tỳ-kheo-ni Uppalavanna là một Thánh nhân có trí tuệ cao nhất. Bà sẽ là Ni Trưởng thứ hai, hướng dẫn ni chúng trong giáo lý của Ngài. Uppalavanna sẽ cùng với Khema giúp đấng Toàn Giác hướng dẫn và quản trị cộng đồng nữ tu, mỗi ngày một đông.
Nếu Thánh Ni Uppalavanna là người trước đây đã từng chịu đụng đau khổ trong xã hội Bà-La-Môn, trọng nam khinh nữ, thì giờ đây Thánh Ni chính là người, hằng ngày giúp cho nữ giới thoát khỏi khổ đau, không những giữa cuộc đời luôn luôn xung đột, mà còn trong «biển tâm» phiền não. Kinh nghiệm đau khổ quí báu của Thánh Ni, đã giúp bà đủ khả năng chỉ ra phương pháp, làm sao một phụ nữ đối diện với nghịch cảnh, mà có thể không sợ sệt và «thản nhiên» với nghịch cảnh ấy.
Tiền kiếp của Thánh Ni UPPALAVANNA.
Để hiểu được lý do tại sao tỳ-kheo-ni Uppalavanna có thể đắc quả A-La-Hán, giải thoát «dễ dàng» như thế, chúng ta cần phải nghiên cứu những tiền kiếp của vị thánh nhân nầy, nhất là xuyên qua vô số chu kỳ đại kiếp qua.
Vào thời đức Phật Pudumuttara, tiền thân Uppalavanna đã sinh làm con gái một gia đình giàu có, ở thành phó Hannasavati. Tiền thân ấy đã chứng kiến cảnh đức Phật Pudumuttara, tán dương đức hạnh của một nữ Tỳ-khưu, rằng «Đây là một nữ phạm hạnh có đầy đủ uy đức lẫn phép lạ», và Phật «chỉ định» vị nữ phạm hạnh nầy, làm Ni Trưởng hướng dẫn ni chúng.
Sau khi thỏa thích với lời tán dương của Phật hướng về đức hạnh nói trên, tiền thân Uppalavanna đã phát nguyện noi gương, để sau nầy trở thành nữ thánh nhân hướng đạo. Rồi tiền thân ấy luôn luôn thực hành thiện nghiệp, như cúng dường chư Phật cũng như những bậc tu hành. Đồng thời tiền thân Uppalavanna cũng không ngừng làm rất nhiều việc thiện trong xã hội.
Đức Phật Pudumuttara cũng nhân đó tiên đoán rằng, tiền thân Uppalavanna ấy sau nầy, vào thời đức Phật Thích-Ca Cồ-Đàm Buddha Sakya Muni Gotama), sẽ trở thành nữ thánh giải thoát, có nhiều sự hy sinh, nhiều công đức, nhiều quyền lực (phép lạ), và nhiều trí tuệ nhất.
Có những kinh điển nói về một số tiền kiếp của Thánh Ni Uppalavanna. Chẳng hạng như vào thời Đức Phật Ca-Diếp (Kassapa Buddha), tức là vị Phật quá khứ kế cận với Phật Tổ Thích-Ca Mâu-Ni, tiền thân Uppalavanna đã sinh làm công chúa, con vua Kiki, trị vì tại thành Ba-La-Nại (Bārānasī hay Bénares ngày nay). Công chúa ấy là một tín nữ rất thuần thành của đức Phật. Nàng đã làm rất nhiều việc thiện, như giúp đỡ kẻ nghèo, cúng dường thực phẩm, y phục, tạo tịnh thất dâng đến đức Phật, hay xây dựng tu viện cho cộng đồng phạn hạnh, nữ tu, tăng lữ .v.v…
Khi hết tuổi thọ, tiền thân Uppalavanna làm công chúa ấy, đã sinh lên cõi trời, hưởng phước rất lâu, và sau đó thì tái sinh làm một phụ nữ nghèo khổ, sống trong khoảng giữa hai vị Phật quá khứ (Kassapa) và hiện tại (Gotama).
Lúc ấy trên thế gian, xuất hiện nhiều Phật Độc Giác (Pacceka Buddha). Trong số đó, có một vị đã nhập định 7 ngày trên đỉnh núi Gandhamadana. Sau khi xả thiền, Ngài xuống núi vào làng xóm khất thực. Khi ấy, tiền thân Uppalavanna (hay phụ nữ nghèo khổ) vừa hái mấy hoa sen, và gặt một ít lúa, với ý định ran nổ lên, làm cốm cho mình. Nhưng thấy Phật Độc Giác, nàng liền dâng đến Phật cốm và hoa sen tươi ấy.
Vui vẻ cúng dường xong, nàng ước nguyện rằng, «Xin cho tôi được đẹp như những đóa sen tươi còn xanh ấy». Còn đức Phật Độc Giác thì nhận cốm và hoa xong, liền bay trở lên đỉnh núi, bằng thần thông. Khi mãn kiếp ấy, tiền thân Uppalavanna lại sinh lên cõi trời làm tiên nữ, hưởng phước rất lâu nữa.
Hết tuổi thọ tiên cảnh, tiên nữ ấy tái sinh vào cõi người, nhưng không thấy tài liệu nào nói rõ tên cha mẹ và địa danh chào đời. Chỉ có một truyện ngắn «Túc Sinh» thuật lại rằng, «một đôi vợ chồng hiền triết», sống ẩn dật trong rừng vắng, một hôm đi ngang hồ sen gần rừng, thấy một bé gái sơ sinh, nằm gần hồ sen. Đó là một đứa con gái rất đẹp, nhưng màu da xanh như búp sen chưa nở.
«Vợ chồng ẩn sĩ» ấy đương nhiên rất mừng rỡ. Họ liền nhận đứa bé gái ấy làm con nuôi, mang về tư gia và đặt tên là «Uppalavanna». (Hay đứa con gái da màu búp sen). Uppalavanna nào biết đó là cha mẹ nuôi. Nó càng lớn càng xinh đẹp. Thân thể Uppalavanna vừa phải, cân đối, trông như tượng một nữ thần. Nó vui tươi hồn nhiên sống dưới mái nhà «ẩn dật» với cha mẹ, cho đến lúc trưởng thành.
Ngày kia, có người khách đi ngang ngôi nhà ẩn dật. Khách thấy một cô gái vô cùng xinh đẹp, có màu da kỳ lạ khác thương, bèn tìm cha mẹ hỏi duyên cớ, thì biết đó là một đứa con gái mồ côi được cha mẹ «đỡ đầu» nuôi dưỡng.
Không biết khách bộ hành kia là ai, nhưng tin tức về «nàng da xanh xinh đẹp» thấu tai hoàng gia. Nhà vua quyết định rước «nàng tiên» ấy về cung. Thế là đức vua cùng với nhiều triều thần xe giá đến thăm ngôi nhà dật sĩ trong rừng vắng. Khi nhà vua ngỏ ý phong nàng làm hoàng hậu, tất nhiên nàng phải nhận lời. -Và vào cung chẳng bao lâu, Uppalavanna đã trở thành vị hoàng hậu được nhà vua tin tưởng nhất.
Một kiếp khác, tiền thân Uppalavanna sinh vào thành Vương Xá, làm vợ một nông dân. Tuy nhà không giàu, nhưng ruộng đất đủ để khai thác.Hằng ngày nàng làm việc nhà, còn chồng ra đồng canh tác…..
Nhằm lúc có nhiều Phật Độc Giác (Pacceka Buddha) xuất hiện khất thực trong vùng. Lúc tiền thân Uppalavanna mang cơm ra đồng cho chồng ăn, thấy các bậc tu hành, liền vui mừng cúng dường thực phẩm….
Sau đó, nàng còn thỉnh chư Phật đến nhà để bát. Nàng đã chọn gạo thơm và các vật liệu tốt khác, để chế tạo những món ăn đặc biệt, vừa cúng dường chư Phật, vừa để chồng nàng thưởng thức. Khi chư Phật thọ trai xong, quay về chỗ ngụ, nàng còn hái những đóa sen tươi, màu búp còn xanh dâng chư Phật. Và nàng còn phát nguyện rằng, «Xin cho con được có sắc đẹp như những hoa sen nầy».
Hết tuổi thọ kiếp ấy, tiền thân Uppalavanna cũng được tái sinh lên cõi trời hưởng phước một thời gian dài nữa, rồi tái sinh vào thành Xá-Vệ (Sāvatthī), đồng thời với sự ban bố giáo lý của đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Muni Buddha).
Vì dư quả «hiểu lầm hạnh kiểm của một đạo sĩ từ kiếp xa xưa», mà Uppalavanna vào kiếp chót suốt tuổi thanh xuân đã chịu lao đao lận đận, như đã kể ở đoạn trước. Nhục nhã nhất cho Uppalavanna trong kiếp nầy, là đã lấy chồng chung với đứa con gái. Đó cũng chính là lý do đưa đẩy người đàn bà bất hạnh, dứt khoát hướng hẳn về Phật giáo, không một chút vướng mắc đời sống chồng vợ trên thế gian nữa.
Theo các Túc Sinh Truyện (Jātaka), thì có ít nhất 2 lần, tiền thân Uppalavanna đã lập lại lời nguyện «Có sắc đẹp như hoa sen, và trở thành nữ đệ tử lỗi lạc hàng đầu của đức Phật». Dĩ nhiên phát nguyện là một chuyện, nhưng phải sống thiện hạnh đầy đủ, để đạt thành nguyện vọng là một chuyện khác. Và tiền thân Uppalavanna đã thực hiện vuông tròn.
Việc Uppalavanna gặp Phật Thích-Ca Mâu-Ni, rồi trở thành Nữ Đại Đệ Tử hàng đầu, và đắc quả giải thoát, thì có thể hiểu được. Nhưng tại sao màu da của «người đẹp ấy» lại màu xanh như lá sen, hay vì nghiệp quả gì, mà tiền thân Uppalavanna phải mồ côi (sinh ra bị bỏ rơi bên bờ hồ) và chịu bạo động (lấy tướng cướp), thì chúng tôi chưa tìm ra tài liệu để lý giải.
Dù đã đi tu, và đắc quả thánh cao nhất, nhưng Uppalavanna vẫn còn một hoạn nạn cuối cùng nữa. Số là một hôm, vào mùa tịnh hạnh hàng năm của những hàng sa-môn, gọi là an cư kiết hạ (Vassa) trong rừng vắng. Thánh Ni Uppalavanna, sau khi khất thực về, đã vào tịnh cốc thường thiếu ánh sáng của mình để nghỉ ngơi. Một người đàn ông vô loại, vốn là kẻ say mê sắc đẹp của bà từ lâu, đã lẻn vào trước, núp dưới giường, bất thần nhảy ra và hãm hiếp bà. Làm việc tội lỗi xong, hắn bỏ trốn nhanh như lúc hắn xuất hiện. Thánh Ni đã không thể thấy mặt hắn là ai. Nhưng tội ác của hắn quá nặng, xúc phạm đến một Thánh Nhân A-La-Hán. Hắn bỏ đi không bao xa thì bị «đất rút», rơi vào địa ngục vô gián (Apāya niraya).
Thánh Ni Uppalavanna sau đó báo cho toàn thể đồng đạo biết, để cẩn thận. Cuối cùng tin tức đến tai Phật. Đức Thế Tôn lo ngại cho sự an ninh của ni chúng, Ngài lập tức đến gặp vua Ba-Tư-Nặc (Pasenadi), để yêu cầu vương gia bảo vệ. Nhà vua liền xây dựng một tu viện đặc biệt cho nữ tu. Và kể từ đó, Phật chế ra điều luật «Tỳ-kheo-ni không được nhập hạ độc lập trong nơi không có tỳ-kheo-tăng hành đạo» (để che chở !).
Nhân biến cố bất an đó, vào một buổi thảo luận tại giảng đường, một số nam Tỳ-khưu còn phàm, đã bàn tán về «cảm giác thân xác» (hay tình dục vốn còn) của hàng nữ tu…..
Đức Phật liền đánh tan những thắc mắc nghi ngờ, bằng một câu xác nhận rằng «Trong một thánh nhân A-La-Hán như Uppalavanna, tình dục không còn nữa».
Rồi Ngài nói kệ ngôn sau đây để diễn tả Thánh Tâm của một đệ tử đã giải thoát :
«Như nước dơ không thể thấm vào lá sen được,
Như hạt cải không thể đứng vững trên mũi kim,
Thì ngũ dục không thể còn trong thân tâm bậc A-La-Hán.
Chuyện vốn không thể có, đừng bận tâm vô ích !».
Phật giải tỏa xong Ngài bèn từ bi quay ngó đệ tử…..
Thánh Ni Uppalavanna hiểu ý Phật, liền chắp tay thanh tịnh ngâm kệ, nói về sự «trưởng thành vững chắc» qua «từng trải đau khổ» của một người từ phàm lên Thánh như bà, sau đây :
«Thấp hèn thay là tình yêu nhục dục
của mọi người, hay của mẹ lẫn con,
trong vô minh ta tưởng ấy vàng son
nhưng giác ngộ, ấy ác duyên,
lầm lạc qua xác thân tanh hôi,
qua tâm hồn vướng mắc.
Bần ni giờ đây nhân khổ đã thấy rồi,
Cảm dục vốn đầy ô trược, kéo lôi.
Chi nghe đến là bao nhiêu rùng rợn…
Tóc dựng ngược, như nhìn quỉ ma lởn vởn !
Tội lỗi ngập đầu, sa đọa ngàn năm..
Muốn thoát trần ai, sao chọn lầm than ?
Hạnh phúc đời tu, giờ là thiện pháp.
Hướng đến Thế Tôn, xa lìa bão táp.
Tinh tấn ngày ngày, đời sống thanh cao.
An ninh kiếp nầy và dứt thân sau.
Phật pháp vốn anh minh,
dù cho trần thế muôn màu,
Vẫn không che được nhãn căn thanh tịnh.
Căn đã sạch thì thiền tâm phải định.
Thần lực siêu phàm ý túc không vơi.
Từng sát-na chẳng còn khát vọng kéo lôi.
Nên sáu loại thần thông vững vàng thành tựu.
Nhờ hành lời Phật dạy chu tròn đầy đủ.
Như xe thập độ, tứ mã đã ráp xong, chỉ chờ phút lên đường,
Phóng tới Niết Bàn không thể lạc phương.
Pháp hành sau chót là cúng dường đức Phật.
Đảnh lễ Thế Tôn, bậc anh hùng duy nhất.
Cứu vớt chúng sanh ra khỏi trầm luân,
-Đệ tử ngày nào chưa xả báo thân…
thì nguyện theo chân Ngài hành đạo!”
(TL thoát dịch theo Threīgāthā 224-229)
Sau đây là những lời “đối đáp” khác, giữa một bên là si mê, phàm tục, và bên kia là thánh thiện, tự tin, của một Thánh Ni Uppalavanna với một nam nhân trụy lạc, hằng say đắm sắc đẹp phụ nữ, vẫn không ngừng đeo đuổi bà :
Lời phàm tục :
“Nàng là một giai nhân tuyệt sắc,
Ngồi cạnh gốc cây, dưới những tàng hoa.
Trong cô đơn, chắc nàng sợ người qua ?
-Hiến dâng tình ái bằng những lời ngon ngọt…,
-Và như thế nàng làm sao ngơ được !?”
Lời thanh tịnh sáng suốt :
“Dù ông có chuyên nghề lung lạc,
Và thêm bao nhiêu người như thế.
Tôi cũng không rung động một sợi lông,
Lẫn chẳng sợ chi cảnh mưa gió bão bùng !
Chỉ thấy ảo tưởng trong ông, một người vô dụng !
Hãy tìm cái gì khác, mà say mê phóng túng !
Còn tôi đây, tu đã đạt thần thông,
Có thể biến mất vào khoảng hư vô…
Thân nhỏ lớn tùy tâm.
Và xuất hiện nơi nào tôi muốn !
Cả “ma vương” cũng không làm tôi vướng.
Ông hòng chi đeo đuổi được tôi ?
Tâm linh tôi gờ đây…..đã thuần định lắm rồi !
Tôi chỉ sống trong hạnh lành, giới luật.
Ngày tháng càng qua, tâm càng giải thoát,
thấy rõ vật chất hợp tan,
phải sinh, trụ, hoại, không….
Như cánh hoa kia, ngày mai
sẽ phải rớt xuống đồng !
Lời Phật nói, kim chỉ nam chân thật.
Hóa giải hết mọi khát khao, đắc thất.
Chấm dứt thân sau, ngũ uẩn không còn.
Lời ông giờ chẳng hiệu lực gì hơn
Dù cho với những kiểu nói tự cao
hay ngọt ngào, mơn trớn.
Nhưng tôi không trả đũa ông đâu !
Hãy đi đi, đừng gây thêm tội lớn…..
Hỡi kẻ si mê, sao không tỉnh ngộ ?
Lại cứ chui vào mọi nẻo tối tăm ?
Kẻ chiến thắng là tôi,
tâm sáng tựa trăng rằm !
(Theo Therīgāthā, các kệ ngôn 230-235)
Ngoài ra, cái vẻ xinh tươi (ám chỉ màu da) lẫn nét đẹp thân thể lạ thường, và cách ăn nói thuần thục, đối đáp thẳng thắn của Thánh Ni Uppalavanna, cũng có thể làm cho độc giả, khi xem qua sử tích nầy, tưởng tượng được một «bức tranh» độc đáo, về những nỗi khổ đau, mà phụ nữ thời xưa hằng gánh chịu.
Cuộc đời của Thánh Ni Uppalavanna quả là một đóng góp lớn lao vào giáo lý đức Phật. Trước từng sống trong một xã hội như thế, mà sau tu đắc thần thông, và với tư cách ôn hòa của Thánh Ni, đối diện với mọi đối tượng, đã giúp bà hướng dẫn, giải thoát được rất nhiều phụ nữ đồng cảnh ngộ. Trong số đó, kinh điển cũng ghi, đã có hàng ngàn «nạn nhân», noi gương Thánh Ni, đạt được đạo quả giải thoát.
(Vị Thanh Ni có hạnh sống khắc khổ).
Khi Phật Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Muni Buddha) còn trụ thế, thì tại thành Vương Xá (Rājagaha), có một thương gia giàu có. Phú thương nầy sinh được một cô con gái tuy khá thông minh, xinh đẹp, nhưng tính khi rất nông nỗi, và dễ giận. Do đó, cha mẹ nàng đã giữ nàng trên tầng chót của một ngôi nhà 7 từng. Ở đó nàng chỉ tiếp xúc với những người hầu hạ.
Một hôm nghe tiếng ồn ào, cô bé từ lầu cao nhìn ra cửa sổ, xuống bên dưới, thì thấy một thanh niên đẹp trai, đang bị quân lính áp tải đến quan tòa, về tội cướp giật. Cô bé liền cảm thấy bất bình và yêu thương chàng trai kia. Kể từ đó nàng thầm yêu trộm nhớ «tình nhân» một cách tuyệt vọng….
Biết con gái bị bệnh tương tư, cha mẹ đã khéo léo thuyết phục con nhiều lần. sau cùng bằng cách nói thẳng ra rằng, đó là một tên ăn trộm, một thiếu nữ không thể lấy làm chồng được. Nhưng Bhadda chẳng chú ý đến lời khuyên của cha mẹ. Thay vì nghe lời, nàng lại tương tư nhiều hơn, nằm mãi trên giường, không ăn không uống….Và chẳng ai thuyết phục được.
Vô kế khả thi, cha mẹ nàng đành phải lo lót cho quan toà, để bắt một thường dân vô tội nào đó nhận tội thế. Và trả tự do cho thanh niên kia, để ông bà gả chồng cho con gái. Ông bà chỉ còn một hy vọng duy nhất, là với tình yêu của Bhadda và sự hậu đãi (cho nhiều của hồi môn) bên nhà vợ, «chàng rể» tương lai sẽ quay về đời sống lương thiện.
Nhưng chàng trai kia vốn là một tên ăn trộm «bẩm sinh». Anh chẳng những không quay lại nẻo chánh, mà còn bị ám ảnh bỡi những nữ trang quí giá của vợ. Từ đó y luôn luôn tìm cách chiếm đoạt. Y gian manh nói với vợ rằng, y đã có lời «khấn» với vị thần trên đỉnh núi «Nếu thoát nạn, y sẽ lên núi tạ ơn». Và giờ đây y phải giữ lời, kẻo không thần «phạt», y sẽ gặp hoạn nạn khác. Y còn bảo vợ hãy ăn mặc thật đẹp, mang hết nữ trang lên người, để cùng y lên núi làm lễ «tạ ơn».
Bhadda làm theo lời chồng và cả hai cùng lên đỉnh núi. Khi đến đường cùng, thấy một cái hố sâu, có tên trong dân gian là «hố xử tử trộm cướp», tên cướp bèn trở mặt bảo vợ đưa hết những nữ trang cho y, vì cô sẽ phải chết, đúng theo kế hoạch của y, là dẫn cô lên đây để xô xuống vực thẳm.
Bhadda lúc ấy thấy rõ bộ mặt thật của «chồng», thay vì hoảng sợ, mất tự chủ, nàng lại ngoan ngoản làm theo sự sai khiến của kẻ ác. Nhờ tâm tư nàng bỗng bình tĩnh, trí sáng suốt làm việc rất nhanh, trong đầu óc có ngay cách đối phó. Nàng lập tức «nhỏ nhẹ» cầu khẩn :
«Chàng ơi, em rất yêu chàng, sẵn sàng chết vì chồng, nhưng trước khi nhắm mắt, em muốn được dâng bốn lạy nầy, gọi là trọng nghĩa phu thê».
Rồi nàng quì xuống đất, gần chân tên cướp, xê xịch vòng qua bốn phía để lạy, với mục đích «nếu hắn đá mình xuống hố thì mình nắm chân hắn kéo theo, cả hai cùng chết».
Nhưng tên cướp nào biết thâm ý Bhadda, đã tưởng quá chắc ăn. Y chủ quan nghĩ rằng, mưu kế của y không thể nào thất bại, nên y đứng cười tươi khoái chí, xem như sắp hoàn thành «công việc».
Khi Bhadda xê dịch qua phía an toàn, tức là phía đất liền, và tên cướp ở phía gần miệng hố, nàng bất thấn xô hắn xuống vực thẳm. Thế là rồi đời một kẻ độc ác.
Sau khi «đối phó» xong người chồng bất lương, Bhadda về nhà, cảm thấy chán nãn. Dù nàng bất đắc dĩ phải giết chồng, để tự cứu mình, nhưng nàng vẫn hổ thẹn trong tâm, và ghê sợ những gì mình đã làm. Từ đó, tội giết người cứ đè nặng trong tâm tư Bhadda. Nàng phải tìm một «chỗ dựa» cho tâm hồn. Không bao lâu, nàng đã dần dần trở thành một phụ nữ không thích đàn ông, và chán chê ngũ dục.
Tiếp theo, Bhadda quyết định đi tu, sống đời sống ẩn dật. Tôn phái mà Bhadda đã chọn là Kỳ-Na giáo, hay đạo «Bà-La Môn Lõa Thể» (Jains). Đạo nầy chủ trương khổ hạnh, không cạo tóc, không cạo râu. Những gì trên thân thể phải gìữ nguyên vẹn, để nó «tự do lớn dài». Khi nào không chịu đựng nổi, thì nó tự nhiên gãy rụng, «đào thải». (Tiếng Phạn gọi là Ahiṃsa : Tuyệt đối bất bạo động).
Vì vậy tóc tai của nữ đạo sĩ Bhadda mỗi ngày một mọc dài thêm, rối bời, um tùm, bện vào nhau. Và dần dần toàn thể tóc ấy «quắn lại», biến thành những «lọn đanh» cứng ngắc, không thể dùng lược chải được. Người đương thời gọi Bhadda là «Nữ Đạo Sĩ Tóc Quắn» (Kundalakesa).
Nhưng trước khi gia nhập Kỳ-Na giáo, Bhadda đã đi hết trường phái nầy đến trường phái khác, tìm những danh sư để học hỏi, và hành đạo. Bhadda đã nhờ sự thông minh đặc biễt, mà thu thập được tất cả những tinh hoa của những nơi ấy. Đó là lý do mà hầu hết những buổi tranh luận sau đó, giữa các tôn phái, Bhadda đều có mặt. Lần nào sự lý luận của «bà» cũng đánh bại đối phương. Tiếng tăm của Bhadda vang dậy.
Gia nhập Kỳ-Na giáo xong, nữ đạo sĩ Bhadda Kundalakesa đã hằng ngày du hành từ thành phố nầy qua thành phố khác, để thách đố tranh luận. Mỗi lần bước vào một thành phố mới, bà luôn luôn vun một đống cát và cắm trên đó một nhánh táo hồng. Rồi Bhadda Kundalakesa tuyên bố «Ai muốn tranh luận với bà, thì dẫm lên đống cát đó.
Ngày kia, Phật ngự tại Kỳ Viên tịnh xá (Jetavana vihāra), còn Bhadda Kundalakesa cũng đến thành Xá-Vệ (Sāvatthī) để thách thức với vị giáo chủ lớn nhất ở đó. Trưởng lão Xá-Lợi-Phất (Sārīputta) tình nguyện thay thế Phật, nhận lời thảo luận. Trưởng Lão nhờ những trẻ con đến dẫm lên đống cát giùm mình, và bảo chúng chuyển lời, mời nữ đạo sĩ Bhadda đến Kỳ Viên tịnh xá, vào ngày hôm sau để «tranh luận».
Tự tin mình sẽ đắc thắng, Bhadda Kundalakesa đã đến nơi đúng hẹn, với đông đảo những người ủng hộ. An tọa xong, Bhadda Kundalakesa liền bắt đầu chất vấn Trưởng Lão Xá-Lợi-Phất. Bất cứ câu hỏi nào cũng đều được Trưởng Lão trả lời thích đáng. Nữ đạo sĩ hỏi một hơi thì hết ý. Và những câu trả lời của Trưởng Lão Xá-Lợi-Phất không có chỗ nào bắt bẻ được. Đến phiên Trưởng Lão đặt câu hỏi, thì ngay câu đầu nữ đạo sĩ đã ấp úng. Không biết phải trả lời làm sao. Bhadda Kundalakesa liền chịu thua và yêu cầu người tranh luận dạy bà. Trưởng Lão Xá-Lợi-Phất nhận lời nói pháp cho bà nghe, trước sự chứng minh của đức Phật.
Tiếp theo, Bhadda Kundalakesa còn được nghe đức Thế Tôn thuyết pháp. Bà lãnh hội rất nhanh, đồng thời đắc quả A-La-Hán (Arahatta). Đức Phật biết rõ nhân duyên người nữ đệ tử mới nầy, sẽ trở thành Tỳ-khưu-ni nổi bật, trong hàng ni chúng. Nên Phật tuyên bố «Như Lai cho phép Bhadda Kundalakesa đóng vai trò giáo thọ, như Tỳ-khưu-ni Bahiya vậy. Vì Bhadda đã đắc quả giải thoát rồi».
Khi nắm vững giáo lý nhà Phật (Buddhasāsana), Thánh Ni Bhadda Kundalakesa đã trở thành một Như Lai sứ giả, du hành đây đó, phổ biến giáo pháp cao thượng đến mọi người. Và bà đã làm cho không ít thính chúng giác ngộ. Một hôm Thánh Ni diễn tả sự chứng đắc và kinh nghiệm truyền đạo của mình, qua những câu kệ sau đây :
«Ngày trước, bần ni hăng say du thuyết
một mảnh y trên thân, và mái tóc rối bời.
Mình mẩy bôi bùn, khổ hạnh tanh hôi
Chấp là thanh cao, nào ngờ thấp thỏi.
Nay đứng trước Thánh nhân,
Đức lành sáng chói
Thoạt đầu chẳng biết là ai
Tưởng lầm đó hạng phàm phu,
Lòng muốn tranh tài, tiếp tục cái ngu.
Vào phút cuối mới duyên may mở mắt !».
(Theo Therīgāthā 107).
Hay như nội dung của 2 bài kệ sau đây :
I
Rồi «bậc phạm hạnh»* dạy tôi pháp bảo.
Các uẩn, các căn, là những trược phần.
Chỉ rõ cho tôi mọi thứ trong thân,
Hôi thúi, phù du, khổ đau, vô ngã.
Tôi nghe pháp, vui mừng khôn tả.
Thanh lọc tâm tư, giải thoát ý môn.
Hiểu hết nhân duyên sinh tử “càn khôn”.
Tôi xin được xuất gia trong ánh sáng.
Hân hạnh thay, đấng trọn lành chấp thuận !
Phật bảo :
“Oh, hãy đến đây, nầy đệ tử hữu duyên !
Như Lai độ con, bằng pháp “tâm truyền”.
Sống như nước trong suối nguồn tinh khiết”.
Cho dù gặp sạch dơ, tâm vẫn biết
quán tưởng “thị như” ấy luật thăng trầm.
Hiểu pháp quang nhiên, thật tế cao thâm.
Thấy trong hiện tại, thấy trong giải thoát.
Siêu độ chính là không còn vướng mắc.
Bất cứ pháp gì cũng xã luôn thôi.
Tránh hết phiêu lưu, không hướng xa vời.
Hiểu như thế là vững vàng Phật đạo !
(Theo Apadana 38-46)
*”Bậc Phạm Hạnh” trong câu trên ám chỉ Ngài Xá-Lợi-Phất.
II
“Sạch phiền não, năm mươi năm lê bước,
Từ Anga, đến xứ Magadha.
Gieo pháp lành khắp Kasi, Kosa*.
Tôi khất thực và nhận nhiều công đức…
Của người Vajjis, tâm tư hiền thục
Dâng cả y vàng, khỏi mặc đời sau.
Dây xích tái sinh nay chẳng còn đâu !”.
(Theo Therīgāthā 110-111).
Cước chú : *”Kosa” = Kosala
(Thánh Ni quá khứ từng bị mất trí vì khổ lụy).
Như sử tích những vị đã thuật trước, Thánh Ni Patacara cũng là cô con gái xinh đẹp của một gia đình rất giàu có, ở thành Xá-Vệ (Sāvatthī). Đến tuổi trưởng thành Patacara yêu tha thiết một chàng trai giúp việc trong nhà. Nàng chỉ muốn lấy người nầy làm chồng, chứ không thể một ai khác.
Nhưng cha mẹ nàng lại ép gả nàng cho một thanh niên cùng giai cấp, môn đăng hộ đối. Patacara đã nói rõ tình cảm của mình cho cha mẹ nghe, và bị từ chối. Nàng tự biết mối tình của nàng không bao giờ được cha mẹ thấp thuận, nên quyết định bỏ trốn theo tình nhân.
Lúc ra đi, Patacara cải trang, ăn mặc như một gia nhân, trên đầu đội một bình nước, nên không bị phát giác. Nàng cùng chàng trai trốn đi lập tổ ấm. Họ dựng một mái nhà lá cách khá xa thành Xá-Vệ. Hằng ngày chồng phải ra ngoài làm mướn thù lao chẳng bao nhiêu. Vợ ở nhà phải mua bán gạo thóc, nấu ăn, giặt quần áo, và làm tất cả những việc khác. Nghĩa là Patacara bây giờ phải gánh vát tất cả những nhọc nhằn, mà lúc còn sống với cha mẹ, gia nhân của nàng đã làm. Từ đó Patacara sống cơ cực, như để trả đủ cái giá «bất hiếu» nàng lìa khỏi cha mẹ.
Ngày tháng trôi qua, khi Patacara có thai đứa con thứ nhất, theo phong tục Ấn-Độ thuở bấy giờ, người đàn bà phải về nhà cha mẹ để sinh nở. Lúc cảm thấy gần ngày lâm bồn, Patacara yêu cầu chồng đưa mình về cha mẹ, nhưng nàng bị chồng từ chối, viện dẫn rằng “Anh chắc chắn cha mẹ sẽ rất giận, có thể đánh đập hay giết anh, về tội rủ con gái bỏ trốn”.
Patacara biết không thể thuyết phục chồng được, nàng quyết định đi một mình. Nếu lỡ gặp những người hàng xóm thì nàng bảo rằng “Tôi về thăm cha mẹ”. Rồi Patacara chờ chồng đi vắng liền lên đường, trở về thành Xá-Vệ.
Người chồng về nhà không thấy vợ thì giận dữ lắm. bèn rượt theo bắt được nàng trở lại, viện dẫn như trước. Chồng còn thêm rằng “Anh không thể đi với em. Và anh cũng không muốn để em đi một mình. Chắc chắn cha mẹ sẽ giữ em lại, không cho em trở về với anh….”.
Ngay lúc ấy Patacara chuyển bụng, hạ sinh một đứa con trai. Vì chồng năn nỉ và vì mới sinh, nên Patacara đành ngoan ngoản nghe lời chồng, quay về mái nhà lá.
Vài năm sau, Patacara có thai lần thứ hai. Khi gần ngày sinh Patacara quyết định kỳ nầy phải lâm bồn trong sự che chở của cha mẹ. Chờ lúc chồng đi làm, Patacara lấy một ít «tư trang», dẫn đứa con cùng nàng đi về hướng thành Xá-Vệ. Đi được nửa đường thì cũng bị chồng nàng bắt kịp. Một lần nữa chồng lại năn nỉ, thuyết phục Patacara quay lại, nhưng nàng nhất định không nghe.
Lúc ấy nhằm mùa mưa và bão lớn. Những trận gió rất mạnh mỗi khi cuốn qua đường, đánh gãy vô số cành cây đây đó. Những lượng nước không lồ từ trên không đổ xuống, chẳng mấy chốc hiện ra nhiều dòng nước chảy xiết….
Bất hạnh thay, giữa hoàn cảnh kinh hoàng như thể, Patacara lại chuyển bụng muốn sanh con. Nàng liền yêu cầu chồng mau mau tìm vật liệu, dựng tạm một cái chòi, để che chở mẹ con nàng trong cơn nguy khốn. Người chồng lập tức vác rựa vô rừng, chặt cây về làm chòi che mưa bão.
Patacara vừa đau bụng vừa ngồi chờ chồng, nhưng thật lâu không thấy chồng về. Màng đêm lại buông xuống… Trong khi cấp bách, nàng phải dùng tấm thân mệt nhọc, che chở cho đứa con đầu, thì nàng hạ sinh đứa con thứ hai. Không còn cách nào khác, Patacara đành chui vô bụi rậm chịu trận, chờ qua đêm. Nàng quí gối, khom lưng che chở cho cả hai đứa con, đầu óc nặng triễu, choáng váng, rồi nàng không còn biết gì nữa, gục thiếp ngủ đi. May mắn sau đó, cơn giông bão bỗng dừng hẳn.
Sáng hôm sau, Patacara tỉnh dậy, than khóc một hồi lâu, rồi theo dấu chân, bồng dắt con vào rừng tìm chồng. Ba mẹ con đang sợ sệt, thì nàng thấy chồng đã bị rắn độc cắn chết. Nỗi đau khổ lại càng chồng chất, Patacara không còn lời lẽ nào để than thở, nàng chỉ biết một mình ôm hai đứa con, ngồi khóc nức nở.. Khóc chán rồi Patacara lủi thủi dẫn hai con ra khỏi rừng, lên đường về nhà cha mẹ.
Đi một đoạn khá xa thì trước mặt Patacara hiện ra một giòng sông, nước đang chảy mạnh và dâng lên tới rún. Vì Patacara vừa sinh nỡ giữa cơn mưa bão, sức lực chẳng còn bao nhiêu, nàng không thể đưa hai con qua sông cùng một lúc. Patacara bèn bảo đứa lớn đứng chờ mẹ bên bờ, để bồng con nhỏ sang đặt bên kia, rồi quay lại đón nó.
Nhưng khi Patacara trở lại đến giữa giòng sông, thì một con chim ưng, từ trên không trung lao xuống, vồ nhanh đứa con nhỏ, thấy màu da còn đỏ, nó tưởng là một khối thịt. Patacara hoảng hốt quơ cả hai tay la lên, cầu cứu, để đuổi chim ưng. Bất hạnh thay, đứa con lớn tưởng mẹ gọi, liền chạy ra sông, bị giòng nước cuốn trôi đi….
Đứng giữa giòng sông chảy xiết, Patacara đau đớn nhìn thấy hai đứa con chốc lác biến mất. Trong hoàn cảnh ấy, có sự khổ đau nào bằng ? Patacara như người điên dại, nước mắt tuông tràn, tóc tai bù xù, quần áo tả tơi, ước đẫm. Nàng mất hết cảm giác lạnh lẽo, nặng nề bước lên khỏi giòng sông, hướng về nơi còn cha mẹ.
Patacara vừa khóc vừa đi, thêm một quảng đường thật dài nữa, thì xa xa đã trông thấy nhà cửa ngoại thành Xá-Vệ. Lòng Patacara tuy chưa yên, nhưng gặp một người địa phương, nàng vội hỏi tin tức về cha mẹ. Người ấy lập tức yêu cầu nàng đừng nói về gia đình ấy….
Patacara liền năn nỉ, thì được biết hai hôm trước, vì con bão lớn, mà cả gia đình ấy đã bị nhà sập giết chết, gồm cả cha mẹ và anh trai của nàng. -Người ấy còn đưa tay chỉ về phía xa trước mặt, có khói bốc lên, và tiếp “Khói đó là chỗ hỏa thiêu ba nạn nhân đáng thương một lượt đó !”.
Nghe câu ấy, sức chịu đựng đau khổ của Patacara đã hoàn toàn bị vượt. Hệ thống thần kinh của nàng trở thành hỗn loạn. Patacara biến ra người điên dại. Thân nàng liền đổ xuống đất, như một cái xác không hồn. Nàng ngồi yên gục đầu khóc nức nở, không biết trải qua bao lâu, chẳng còn ý thức mình là con người hay thú vật.
Tiếp theo, tay chân Patacara tự nhiên bức xúc, quờ quạng múa may, như một kẻ mất trí. Nàng bức xé tóc tai, kéo giật quần áo đến tả tơi, và trở thành một người đàn bà bán thân lõa lồ, thảm hại….Người lớn thấy cảnh đó thì bỏ đi, không muốn nhìn, nên chẳng ai đến gần hỏi Patacara một câu, còn trẻ con thì đua nhau chế diễu, vì chúng thích triêu chọc kẻ điên khùng
Nhưng ngẫu nhiên kỳ diệu thay, người đàn bà bất hạnh ấy lại lê chân hướng về Kỳ-Viên Tịnh Xá (Jetavana Vihāra), nơi đức Phật đang có mặt. Nhiều người thấy thế ngăn cản, không cho Patacara đến gần. Nhưng đức Thế Tôn, với thần nhãn thanh tịnh, thấy Patacara từ xa, Ngài biết người đàn bà bất hạnh nầy, vốn hữu duyên giác ngộ, nên Phật tỏa lòng từ bi, bảo xung quanh để nàng tiến vào Tịnh xá.
Thế Tôn sau đó dùng ân đức Ba-La-Mật cứu Patacara tỉnh lại. Ngài hiền từ nói “Con hãy tỉnh đi”. Âm thanh lời nói của Phật như một cơn gió mát, thổi mạnh vào nhĩ thức và khổ tâm một người đang bị “lửa sầu” đốt cháy. Âm thanh ấy làm kinh cảm và khiến nạn nhân tỉnh táo liền.
Sau khi nhìn thấy ánh mắt của Patacara trở lại bình thường, thì những người thiện tâm xung quanh liền tới đưa cho nàng một mảnh vải. Nàng liền dùng nó quấn quanh người, và quì xuống, bắt đầu kể lại toàn thể câu chuyện đáng thương của nàng cho đức Thế Tôn, và mọi người nghe.
Nghe Patacara kể xong, thì đức Phật từ bi nói “Nầy thiếu phụ hữu duyên, từ nay người sẽ không còn phiền muộn nữa. Người đã gặp một đấng có thể giúp người ra khỏi khổ đau. Không phải chỉ ngày hôm nay người mới mất con, mất chồng, và mất cha mẹ, mà trong vô số vòng tử sinh luân hồi, người đã từng mất những thân nhân như thế”.
Ngừng một chút rồi Phật tiếp : “Và trong vô số kiếp tử sinh luân hồi ấy, nước mắt người đã đổ ra nhiều hơn là nước trong bốn biển đại dương”.
Trong khi Phật nói chưa dứt câu sau nầy, thì Patacara đã hoàn toàn bình tĩnh. Đôi mắt của nàng trở lại tinh anh. Kế đó, Patacara chăm chú nghe Phật ngâm kệ rằng :
Nước bốn biển tuy nhiều, nhưng chẳng đáng,
gọi là bằng nước mắt của chúng sinh.
Do dập vùi trong sầu khổ, vô minh
Nầy đệ tử, chú ý nghe, nhớ kỹ….
Gặp quả xấu, con nào lo được nhỉ ?
Cha nào lo, hay chồng, bạn nào lo ?
Giúp ta thoát ra khỏi cảnh hỏa lò,
Khỏi thần chết đang đợi chờ trước mặt.
Khi nhớ rồi, ta không còn thắc mắc.
Nơi pháp hành, trong pháp tịnh con tâm.
Tinh tấn và tu lên hạnh cao thâm.
Niết Bàn sẽ đạt, chẳng cầu, chẳng đợi !
TL phỏng dịch theo Dhammapada, các số 268, 288, 289)
Đức Phật nói Pháp xong, thì Patacara không còn là người đàn bà điên loạn, mê sảng, như lúc bước vào Kỳ Viên tịnh xá nữa. Patacara đã thật sự, giác ngộ chân lý vô thường, trong tất cả vạn vật hợp tan có điều kiện, và đắc quả nhập lưu Sotāpanna (Tu-Đà-Hườn). Liền đó, Patacara xin Phật cho xuất gia.
Sau khi thọ giới Tỳ-khưu-ni, Patacara tinh tấn hành đạo, và kết quả đã trổ ra không bao lâu sau đó. Tỳ-khưu-ni Patacara trở thành A-La-Hán (Arahatta). Và Thánh Ni bày tỏ pháp tự tại, trong tâm thanh tịnh của mình, bằng bài kệ sau đây :
Nhờ cái cày, mà ruộng nương vun xới.
Nhờ hạt gieo, mà đất trổ hoa màu.
Gia đình nông dân no ấm dồi dào.
Già với trẻ cùng xây đời thịnh vượng.
Còn bần ni, khi lục trần hết vướng.
Thanh tịnh ngày qua sống đúng Phật ngôn.
Niết Bàn là hoa, là trái trong hồn.
Bần ni chẳng dễ duôi, không tự đại
Khi rửa chân, ta nghĩ về vật thải.
Nước chẳng dơ, chẳng sạch, chỉ biến thôi
Và khi nhìn giòng nước rửa chân trôi
Cùng một tánh từ non cao xuống dốc.
Tâm khi nhất định, thấy cùng một gốc
Cứu cánh thuần chân, đạo chứng không hai.
Và khi bước vào tịnh thất Như Lai
Ta thấy rõ chỗ nằm ngồi thanh tịnh.
Đèn trí tuệ ta khêu bằng kim tính
Gạt tim tàn cho ánh sánh quang minh
Đuổi hết màng đêm, soi sáng tâm mình,
Bằng sức sáng vạn năng thánh tuệ.
(TL Phỏng dịch theo Therīgāthā 112-116).
Thánh Ni Patacara đã thành Chánh Quả. Với sự quét sạch vô minh của ánh đèn trí tuệ, trong tâm tư của bà, một người từ bị chìm ngập trong đau khổ, đã trở thành hoàn toàn giải thoát. Thánh-Ni sau đó cũng đã được đức Phật chỉ định đóng vai trò “Ni Trưởng”, coi ngó kỷ luật của cộng đồng ni chúng.
Nếu xưa kia cô bé Patacara đã bướng bỉnh với cha mẹ và dễ giận, cô đã chống lại thẩm quyền của song thân, và gặt hái hậu quả bất hạnh như thế nào, thì ngày nay không có gì ngạc nhiên cho mọi người thấy rằng, Thánh Ni luôn luôn đánh giá đúng tầm quan trọng của kỷ luật, trong ni chúng, để bà trở thành một vị “giám luật”. xứng đáng .
Tiền kiếp PATACARA.
Patacara đã có thể, từ một cô gái cứng đầu, dể giận, trở thành một Thánh Nhân mau lẹ, là nhờ tiền kiếp cô đã có duyên tô bồi nguyện vọng.
Vào thời đức Phật Pudumuttara, 100.000 đại kiếp qua, tiền kiếp Patacara đã vì ngưỡng mộ Phật ban bố phẩm vị “nữ phạm hạnh có giới luật hàng đầu” đến một đệ tử, rồi phát nguyện sẽ trở thành như thế, trong thời đức Phật tương lai. Phật Pudumuttara biết việc sẽ thành tựu, bèn tiên đoán “Phật tương lai ấy là Cồ-Đàm (Gotama) sẽ có một nữ đại đệ tử tên là Patacara”.
Tiếp theo, tiền thân Patacara đã nhiều kiếp làm đệ tử lớn của chư Phật, trước khi gặp đức Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Muni Gotama) vào kiếp chót, và có trí tuệ xuất chúng, giác ngộ nhanh chóng, nhờ trí duyên quá khứ.
Đã có rất nhiều Tỳ-khưu-ni nghe pháp và hành theo Patacara mà đạt quả lành, giải thoát phiền não. Sau đây là kệ ngôn biết ơn và tán dương của Tỳ-khưu-ni Cunda, trước vốn là một người ăn xin, sau được Thánh Ni Patacara tiếp độ, ban cho phép xuất gia, tinh tấn tu học :
“Vì Người đã tỏa lòng từ bi,
Dẫn đường cho tôi tiến hóa.
Rồi Người đã cho tôi xuất gia, hành đạo,
Nên tôi mới được giải thoát cuối cùng.
Sau khi nghe Người nói Pháp
Tôi đã áp dụng chuyên cần
Sự hướng dẫn của Người, của một Thánh Nhân.
Tôi đã hết bịnh nơi thân tâm, và chứng tròn Tam Muội.
(Theo Therīgāthā 125-126).
Trong kinh điển, còn có đoạn diễn tả kinh nghiệm quí báu trong pháp hành, của một nhóm 30 nữ Tỳ-khưu, được Thánh Ni Patacara hướng dẫn :
Khi nghe Thánh Ni nói Pháp
Các đệ tử thân trang nghiêm an tọa
Một lòng giữ tâm thanh tịnh
Nhập định hành thâm theo pháp Thế Tôn
Suốt canh đầu của đêm thâu
Tất cả thấy nhiều kiếp tiền thân
Qua canh giữa, tự phát sinh thần nhãn
Rồi canh cuối, vẹt tan màng u-ám.
Hành đạo xong, cùng đảnh lễ Thánh Ni.
Lui về tư phòng, ngưỡng mộ luôn khi
Như ba mươi tiên nữ hướng về Đế Thích.
Ấy là bậc vô song trong trận đồ tịnh tịch.
Đệ tử cung xưng là một minh sư,
Nhờ Người chúng tôi đắc trí Tam Như !”.
(Theo Therīgāthā, các số 119-120-121).
Kệ ngôn trên đây rõ ràng đã diễn tả sự tri ơn của những Tỳ-khưu-ni đối với bậc thầy, mà sự hướng dẫn đã giúp đệ tử đạt được giải thoát (Niết-Bàn = Nibbāna). Nghĩa là ngoài sự tôn kính đức Phật ra, ni chúng còn vô cùng biết ơn “bổn sư”, hay “giáo thọ” của họ, đã trực tiếp dạy dỗ họ Pháp Bảo, để biết cách thực hành.
Và không phải chỉ có ngày xưa, mà từ khi Phật nhập Niết Bàn đến nay, đã hơn 2500 năm, các thế hệ truyền thừa, Tỳ-khưu lẫn Tỳ-khư-ni, vẫn luôn luôn tỏ lòng biết ơn “thầy tổ” của mình, bằng cách hằng ngày đảnh lễ Tam Bảo Phật Pháp Tăng vậy.
Chính đức Phật cũng từng biết ơn cây Bồ-Đề (Bodhirukkha), đã cho Ngài bóng mát, và khung cảnh thích hợp. Ngài đã cần nó để tập trung tư tưởng, nhập định, đắc quả giải thoát.
Thánh Ni Patacara, nếu thuở thanh niên đã chịu khổ rất nhiều, vì tính ương ngạnh và bồng bột, thì sau khi gặp Phật trở thành giác ngộ, bà là người biết cách hướng dẫn ni giới trẻ, một cách hữu hiệu, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho họ. Thánh Ni Patacara xứng đáng được chư đệ tử tôn kính như một vị thầy giàu lòng từ bi, giúp họ thoát vòng sinh tử.
(Thánh Ni trước kia chỉ say mê sắc đẹp).
Sundarī Nanda là công chúa của vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và hoàng hậu Maha Pajāpati Gotamī (Ma-Ha Ba-Xà Ba-Đề Cồ-Đàm), tức là em gái cùng cha khác mẹ với Thái Tử Sĩ-Đạt-Ta (sau thành Phật Thích-Ca Mâu-Ni).
Vì công chúa là niềm vui to lớn của hoàng gia, nên vua cha và mẫu hậu đã dùng mỹ danh “ Sundarī Nanda” đặt tên cho nàng. “Sundarī” nghĩa là tươi tốt, và “Nanda” có nghĩa là “hoan lạc”. Sundarī Nanda lớn lên rất xinh đẹp và kiều diễm, quí phái. Người đương thời thường mệnh danh công chúa là « Hoa Khôi Nan-Đà»
Khi mẹ nàng, hoàng hậu Pajāpati Gotamī và nhiều mệnh phụ phu nhân quý tộc Thích-Ca từ bỏ nếp sống vương giã, xuất gia tu Phật, thì Sundarī Nanda cũng quyết định theo họ. Nhưng có điều khác là Sundarī Nanda không xuất gia vì tin tưởng nơi đạo giải thoát của đức Phật, mà vì nàng chỉ muốn làm như mẹ, hay giống những người thân kia.
Công chúa mỹ miều Sundarī Nanda vốn đã được thần dân kính trọng và yêu mến. Nên dân chúng rất cảm động khi thấy nàng con gái hoàng gia, em của đức Phật, mang bình bát khất thực, đi từ đường nầy qua đường khác, để nhận đồ ăn. Tuy nhiên, Sundarī Nanda không hiểu hành động khất thực là một “phạm hạnh vô ngã”, nên công chúa không chú ý đến sự «giải thoát». Nàng chỉ bị lôi kéo bởi sự ngưỡng mộ của quần chúng, say mê nét đẹp và nét dễ thương của mình.
Sundarī Nanda cũng biết rõ rằng, trong đầu mình không có lý tưởng xuất gia, để giải thoát cái gì cả, nên nàng sợ đức Phật sẽ quở trách, về những ngày tháng làm Tỳ-khưu-ni vô ích. Hằng ngày Sundarī Nanda chỉ quan tâm đến sắc đẹp, hay hình thức được nhiều người chú ý. Nên nàng đã tránh gặp đức Phật.
Một hôm, đức Phật gọi tất cả Tỳ-khưu-ni ngụ trong tu viện, nhất tề đến gặp bổn sư, để nghe thuyết pháp. Sundarī Nanda đã không theo thông lệ có mặt, vì nàng cảm thấy có lỗi, không muốn đối diện trước đức Phật. Đức Thế Tôn sau đó phải gọi riêng Sundarī Nanda, để Ngài từ bi giảng cho nàng một «thông điệp tâm linh», nhấn mạnh về tất cả những «phẩm tính» tiềm ẩn, và khả năng của nàng.
Sau khi nghe «thông điệp tâm linh» ấy, tuy Tỳ-khưu-ni Sundarī Nanda tỏ ra vui vẻ với Phật hơn trước, và được khuyến khích nữa. Nhưng đức Phật vẫn nhận thấy người em đệ tử nầy chưa sẵn sàng hấp thụ các pháp Tứ Diệu Đế (Catu Ariya Saccāvi).
Phật thấy Sundarī Nanda cứ tiếp tục tin tưởng vào hình thức, hay sắc đẹp, Ngài bèn dùng thần thông, tạo ra một khung cảnh, ở đó có Sundarī Nanda và một thiếu nữ tuyệt trần, đẹp hơn nàng bội phần. Rồi Ngài tiếp tục dùng phép lạ, làm cho sắc đẹp của giai nhân kia trở nên cằn cỗi, thiếu nữ kia dần dần già đi, trước mắt Sundarī Nanda….
Tỳ-khưu-ni Sundarī Nanda đương nhiên chứng kiến toàn cảnh hình tướng người con gái thay đổi hẳn, với đầy đủ các chi tiết, như da nhăn, tóc bạc, thân thể gầy còm, rồi cuối cùng ngã quỵ, tắt thở. Rồi một cảnh khác hiện ra, là toàn thân «người đẹp kia» trở thành màu xám, đáng ghê tởm, sình thúi, dòi bọ lúc nhúc, xâu xé xác thân hư hoại, mỗi lúc mỗi lúc một nhanh, làm lộ những xương trắng….
Bấy giờ Sundarī Nanda mới chợt hiểu, và tự nhiên thức tỉnh. Tỳ-khưu-ni nhận ra rằng, luật «thành trụ hoại không» chẳng tha thứ một sinh vật nào cả ! Tâm tư Tỳ-khưu-ni Sundarī Nanda lúc đó chợt hướng về thiện pháp.
Thấy căn duyên của Sundarī Nanda đã khai mở, đức Phật liền dẹp thần thông, đem nàng trở về với thực tại. Ngài giải về pháp vô thường và sự trì trệ (nặng nề) của thân thể. Phật cũng khuyên Tỳ-khưu-ni Sundarī Nanda nên dùng đề mục hôn trầm để hành thiền.
Phật khuyên vậy là vì Tỳ-khưu-ni Sundarī Nanda đã quá mắc dính với sắc đẹp vật chất (bề ngoài). Nếu Sundarī Nanda định tâm thấy được tình trạng trì trệ hôn trầm ấy, vốn đến từ đam mê vật chất, thì Sundarī Nanda mới có thể đắc pháp, giác ngộ được. Nhờ Phật mà từ đó Sundarī Nanda mới trở thành một Tỳ-khưu-ni biết tu hành.
Sau khi đắc quả A-La-Hán, Thánh Ni Sundarī Nanda đã có lần nhắc lại những gì Phật dạy, bằng mấy câu kệ sau đây :
«Nầy Sunanda*, hãy ý thức toàn thân,
để thấy rõ thực trạng phù du, hôi thúi
Và nhận diện tâm vô minh phủ bụi
Ý thức được tập trung, với định lực vững vàng
Chứng pháp vô thường, vô ngã liên quan
Và thấy cả nhân duyên cùng hậu quả.
Cây ô trược, sinh tham sân cành lá.
Chỉ kẻ ngu si, mới không biết đó thôi.
Ảo ảnh phù du, muôn kiếp luân hồi
Ngày với tháng hằng dễ duôi cẩu thả.
Bậc thiện trí không cần nhờ phép lạ
Cùng nhận ra bản tánh chính mình
Và chuyên cần tâm quét sạch vô minh
Thấy rõ ngã không, hợp tan ngũ uẩn
Chặt thân kiến bằng tuệ tâm anh tuấn.
Thấy “thân không”, là “thân có”muôn đời.
Giác ngộ trong ngoài, chánh pháp chẳng vơi.
Thì thân hiện tại chỉ là phương tiện
Không mắc dính, không buông trôi, thối chuyển
Hạnh phúc là khi chẳng một chấp ta !
(Theo Therigāthā 82-86).
_______________
Ghi chú : *”Sunanda” là cách viết ngắn của Sundarī và Nanda.
_______________________________________________
(Người trước khi thành Thánh
có tiết hạnh tuyệt vời)
Thánh Ni Bhadda Kapilāvi (tạm dịch là «Mỹ Hạnh»), xưa kia chính là phu nhân của đại bá hộ Ca-Diếp (Mahā Kassapa). Nhưng sau khi tuân lệnh cha mẹ thành hôn, bà và chồng đã giao ước giữ thân trinh bạch, cho đến khi song thân hai bên qua đời, cả hai mới không màng đến của cải, bỏ hết gia sản vô cùng to lớn, xuất gia trở thành du sĩ, đi tìm chân lý.
Trên đường tầm đạo, khi đại Ca Diếp đề nghị, hai người không tiện đi chung, mà nên chia tay để tìm đấng Toàn Giác, thì Bhadda Kapilāvi vui vẻ nhận lời. Bà đã làm phép từ giã người bạn đời, bằng cách đi xung quanh đại Ca-Diếp ba vòng (theo cổ tục Ấn-Độ), rồi ông bước sang bên phải, bà rẽ vào nẻo đường bên trái, và hướng về thành Xá-Vệ (Sāvatthì), nơi đức Phật đang có mặt.
Tiếp theo, nhân duyên đã đưa bà đến nghe Phật thuyết Pháp tại Kỳ Viên tịnh xá (Jetavana Vihāra). Nhưng lúc ấy đức Thế Tôn chưa ban bố phép xuất gia cho nữ giới tu Phật, nên Bhadda Kapilāvi đã phải tạm cư trong một tu viện của những nữ đạo sĩ khác.
Khoảng năm năm sau khi Phật khai sinh ni giới, thì Bhadda Kapilāni mới trở thành Tỳ-khưu-ni trong đạo Phật. Và bà đã noi gương đức Phật, tinh tấn hành đạo, đắc thánh quả A-La-Hán, giải thoát sinh tử luân hồi. (Mời quí vị đọc thêm cuốn “Gương lành Thánh Đại Ca Diếp”, cùng dịch giả, để biết nhiều hơn về tuổi trẻ của bà, trong website https://tuelac.com).
Tiền kiếp Thánh Ni BHADDA KAPILĀNI
Vạn pháp nếu duyên sanh cùng thời, thì duyên quả cũng cùng lúc. Do đó, vào giữa giáo pháp của đức Phật Pudumuttara, tiền thân Bhadda Kapilāvi đã cùng người bạn đời thực hiện nhiều thiện nghiệp. Kiếp ấy tiền thân đại Ca-Diếp tái sinh làm người chồng của tiền thân Bhadda Kapilāvi, tên ông là Vedeha. Hai vợ chồng nầy đã đeo đuổi hai lời phát nguyện cao thượng. Chồng thì nguyện noi gương một sa-môn tu khổ hạnh. Vợ thì ước mong hành đạo, để nhớ được những kiếp trước.
Và suốt nhiều giai đoạn phạm hạnh, tiền thân Bhadda Kapilāvi cũng đã phát nguyện rằng, bà sẽ hành thâm ba-la-mật (Pāramī), để trở thành một đại Tỳ-khưu-ni trong tương lai, có thể nhớ nhiều tiền kiếp nhất. Phật Pudumuttara nhân đó đã tiên đoán «Người nầy, trải qua vô số kiếp luân hồi, khoảng 100.000 đại kiếp sau, sẽ trở thành nữ đại đệ tử hàng đầu của Phật Tổ Thích-Ca Mâu-Ni Cồ-Đàm» (Buddha Sakya Muni Gotama).
Trong nghiên cứu, thật là lý thú khi thấy thành quả của một hiền giả, được thực hiện viên tròn, đưa đến thánh phẩm Bất Lai A-La-Hán (Arahatta), do những nguyện vọng khác nhau. Nhờ đó, chúng ta sẽ không thắc mắc về vai trò của những thánh nhân được Phật tổ “ban cho” một “địa vị” nào đó.
Liên quan đến Thánh Ni Bhadda Kapilāvi, dù cho “bà” từ lâu đã có tiềm lực giải thoát. Và tuy bà đã đi tu trước Mahā Pajāpati Gotami 5 năm, nhưng bà không có khuynh hướng thành lập ni đoàn để lãnh đạo.
Nguyện vọng của Thánh Ni Bhadda Kapilāvi là có thể biết rõ vô số đại kiếp trước. Quả phẩm đó mới là sức mạnh chính, thúc đẩy bà hành đạo đến viên tròn Ba-La-Mật. Ấy cũng là một đặc sắc khác thường, không giống như những vị khác, để về sau nhờ biết rõ tiền kiếp, mà bà mới có thể kích thích và hướng dẫn học trò tu tập, một cách hữa hiệu.
Khi nghiên cứu lịch sử của những đại tông đồ Phật giáo, chúng ta có thể nhận ra sự đa dạng của những pháp hành và thành quả khác nhau, cũng như sự đa dạng của những nguyện vọng khác nhau. Đó là những hạnh tu được chọn lựa, để sau nầy có những «năng lực» độc đáo, giúp đời, tiếp độ chúng sanh tiến tới giác ngộ.
Tương quan hơn nữa, là tiền thên Bhadda Kapilāvi, trong những kiếp trước, đã kết hợp với tiền thân đại Ca-Diếp tu phạm hạnh. Trong suốt giáo pháp của đức Phật Pudumuttara, tiền thân Bhadda và tiền thân đại Ca-Diếp (tên Vedeha) đã thực hiện nhiều hành động hy sinh. Và khi hết tuổi thọ cả hai đều sanh lên thiên cảnh nhiều lần.
Những câu chuyện về tiền kiếp của họ đã ghi lại rất nhiều trong kinh điển. Chẳng hạng như vào thời đức Phật Tỳ-Bà-Thi (Vipassī), vị Phật thứ năm, cách 91 đại kiếp trái đất, trước đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni Cồ-Đàm, tiền thân Bhadda và tiền thân đại Ca-Diếp (Mahā Kassapa), đã sinh làm vợ chồng. Nhưng họ vô cùng nghèo cực. Họ nghèo khổ đến độ chỉ có chung một cái khố, hay một mảnh vải che thân. Vợ chồng thay phiên nhau «mặc», mỗi khi ra ngoài. Người cùng thời gọi cặp vợ chồng ấy là «Ekasataka», hay «cặp vợ chồng nhất khố». -Câu chuyện được kể rõ hơn trong cuốn «Gương lành Thánh Đại Ca-Diếp» (Mahā Kassapa), đã ấn tống từ lâu..
Quay lại tiền thân Thánh Ni Bhadda Kapilāvi sinh làm người nghèo, rằng ngày kia, có tin truyền, đức Phật Tỳ-Bà-Thi (Vipassī) sẽ thuyết pháp bảy hôm, trước đại công chúng, trong một giảng đường rộng lớn, mọi thành phần xã hội đều có thể đến nghe. Vợ chồng anh “nhất khố” (Ekasataka) vì chỉ có một mảnh vải che thân, nên phải đồng ý luân phiên nhau, vợ đi nghe pháp ban ngày, chồng đi nghe pháp ban đêm….
Tối nọ, chồng đang nghe pháp, đến đoạn Phật nói về lợi ích của sự bố thí cúng dường, nhất là dâng y đến Tăng chúng, sau mùa «an cư kiết hạ», anh chồng rất hoan hỷ, phát tâm muốn dâng mảnh vài (cái khố) duy nhất của mình. Nhưng nghĩ lại, vợ anh và anh sẽ lấy gì che thân, ra ngoài sinh sống, hay đi nghe pháp ? Hơn nữa, đó là «tài sản» chung của vợ anh và anh, nếu không có sự đồng ý của vợ thì bất hợp lệ. Và giả như vợ anh chẳng thuận thì anh hết cách làm phước hay sao ?
Sự suy nghĩ, phân vân trước mọi tình huống, chốc lác trở thành một cuộc tranh đấu «dữ dội» trong nội tâm anh. Cuối cùng, anh quyết định làm việc thiện ngay tại chỗ, nên bất thần đứng dậy cởi tấm khố ra, mạnh dạn đem đặt trước chân đức Phật Tỳ-Bà-Thi để cúng dường, và anh còn vỗ tay la lớn lên rằng, «ta thắng rồi, ta thắng rồi».
Tiếng la của anh “nhất khố” đánh tan vẻ trang nghiêm của buổi thuyết pháp, trong đó có sự hiện diện của nhà vua. Tuy thoạt đầu nhà vua tỏ ra bất bình, muốn nghiêm khắc bắt tội người làm ồn, nhưng vương gia là người hiền đức, nên sau khi hỏi rõ đầu đuôi, vua đã không quở trách người thiện tâm nghèo khổ, mà còn ban cho anh chàng «nhất khố» nhiều tiền bạc và vợ anh một số quần áo.
Nhà vua đồng thời cũng ra lệnh tuyển dụng vợ chồng anh vào cung làm việc. Từ đó, cuộc đời của đôi vợ chồng nầy hoàn toàn thay đổi. Đó phải chăng là quả lành nhãn tiền của người đã chiến thắng được lòng tham lam keo kiệt !
Sau khi chết, vợ chồng «Ekasataka» (Nhất Khố) được sinh lên nhàn cảnh. Và lúc hưởng hết phước trên thiên cảnh, họ đồng tái sinh xuống trần gian, chồng là một vị vua anh minh, vợ là một hoàng hậu xinh đẹp, phúc đức.
Một trong những chuyện quá khứ khác, sau đó kể rằng, kiếp nọ hai tiền thân Bhadda Kapilāvi và Mahā Kassapa đồng cộng nghiệp, tái sinh làm cha mẹ của tiền thân A-Nan-Đa (Ananda). Nhưng bà mẹ già của thầy A-Nan-Đa đã thầm yêu người học trò của con trai mình. -Tức là bà si tình A-Nan-Đa. Và bà sợ bị con trai phát giác, ngăn cản, nên bày mưu giết con.
Trước cảnh người đàn bà đã lớn tuổi lại si mê trai trẻ, chọn tự do tiếp xúc với «tình nhân», đồng thời định làm hại con mình, hai mẹ con trong câu chuyện là tiền thân Bhadda Kapilāvi, và tiền thân A-Nan-Đa liền chán ngán cảnh đời. Cả hai dứt khoát bỏ đi tu, trở thành hai đạo sĩ tịnh hạnh.
Còn một câu chuyện tiền kiếp khác, khá «bất thường», là vào giữa thời hai giáo lý, một cũ đã chấm dứt, một mới chưa ban hành. Lúc ấy không có Phật Toàn Giác (Sammā Sambuddha), mà chỉ có Phật Độc Giác (Pacceka Buddha). Tiền thân Bhadda Kāpilāvi sinh làm một người đàn bà, và vì gây gổ với em dâu là người thường cúng dường thực phẩm thơm ngon đến một vị Phật Độc Giác. Người đàn bà, tiền thân Bhadda Kapilāvi đã ngu dại, giận hờn một đàng làm bậy một nẻo. Bà lấy bát trên tay vị Phật Độc Giác đổ hết thức ăn, và bỏ bùn đen vào. Nhưng sau đó hối hận, bà liền xin bát lại, đem rửa sạch và cúng dường bằng thực phẩm thơm ngon.
Vì hành động xấu ấy mà kiếp kế tiếp, tiền thân Bhadda Kapilāvi đã sinh làm một phụ nữ vừa đẹp vừa giàu, nhưng thân thể tiết ra một mùi hôi hám, không ai chịu nổi. chồng bà cũng là tiền thân của đại Ca-Diếp phải xa lánh. Đoạn nhờ sắc đẹp, bà đã có những người chồng khác sau đó, nhưng những chồng nầy rồi cũng chia tay. Người đàn bà tuy đẹp nhưng thân thể hôi hám kia quá tuyệt vọng, quyết định tư tử.
Nhân lúc ấy có những người thiện tâm, rủ nhau xây một bảo tháp để tôn thờ Xá-Lợi Phật, người đàn bà bất hạnh ấy liền nghĩ «Trước khi chết, ta nên gom hết của cải, nữ trang bán đi, dùng tiền tạo một viên gạch bằng vàng, góp vào việc xây ngôi bảo tháp». Bà nghĩ “thực hiện xong ý muốn thì tự tử cũng không muộn”.
Nhưng lạ thay, khi viên gạch quí ấy đuợc xây xong vào bảo tháp, thì thân mình người đàn bà thí chủ, chẳng những đã hết hôi thúi, mà còn toả ra một mùi thơm. Kết quả người chồng đầu tiên đã quay lại với vợ, và bà bỏ ý định tự tử.
Và câu chuyện cuối cùng về kiếp trước của Thánh Ni Bhadda Kapilāvi, là tiền thân bà sinh làm một hoàng hậu của đức vua trị vì tại thành Ba-La-Nại. (-Vārānasī, hay Bénares, gần sông Gange hay sông Hằng ngày nay). Hoàng hậu rất sùng bái và hộ trì một vị Phật Độc Giác (Pacceka Buddha).
Nhưng vị Phật Độc Giác lại bất thần viên tịch, hoàng hậu liền cảm thấy sự cao sang hiện tại của bà vô nghĩa. Bà liền bỏ nếp sống vương giã và địa vị của mình để đi tu, trở thành một nữ đạo sĩ phạm hạnh. Bà tinh tấn hành thiền, đắc được nhiều tịnh quả. Hết tuổi thọ bà tái sinh lên cõi Phạm Thiên (Brahma).
Còn tiền thân đại Ca-Diếp tuy tiếp tục làm vua, nhưng cũng giữ giới trong sạch, và luôn luôn tu định. Lúc chết ông cũng sinh lên cõi phạm thiên như bà. Cả hai ở đó hưởng phước rất lâu, rồi tái sinh làm người, tên bà là Bhadda Kapilāvi (Mỹ Hạnh) và tên ông là Kassapa (Ca-Diếp). Khi họ đã thành đôi vợ chồng, mà vẫn giữ được đời sống trinh bạch, là nhờ dư hạnh của hai «cựu phạm thiên» kiếp trước vậy.
Là một vị A-La-Hán, Thánh Ni Bhadda Kapilāvi luôn luôn hết lòng huớng dẫn ni chúng sống hòa thuận, kỷ luật trong tu viện. Sách Therīgāthā (Nữ Tôn Túc Kệ) đã ghi lại những lời tán dương của Thánh Ni đối với Sa-Môn Ca-Diếp, và những cảm hứng thanh tịnh của bà. nhất là những câu diễn tả sự giải thoát.
Xin thoát dịch một đoạn kệ ngôn trích ra như sau :
« Ðệ tử Phật, ông là người thừa tự,
Ca Diếp ngày nay tâm tịnh, ý trong.
Thấy rõ tiền thân sinh tử xoay vòng,
Nhân với quả, từ muôn đời quá khứ.
Chấm dứt tái sinh, Thánh tâm đắc thủ.
Hiểu biết siêu phàm, vạn pháp tinh thông.
« Ba tuệ lực » là « phạm hạnh tam ân ».
Không với có, có không…cùng một thứ !
Mỹ Hạnh nhất tâm, không ngoài liễu sự,
Giác, Huệ đồng sinh, dứt khổ Niết Bàn.
Thắng Ma Vương, chấm dứt cả thời gian,
Ðây kiếp chót, hết trời, người, cầm thú…
Tam giới khổ vui, nhân duyên thấy đủ…
Phiền não tách rời, tâm tính thuần chân.
Thanh tịnh là đây, ơn ích cõi trần…
Trong thanh tịnh, đầy tự do Pháp Tụ!
(TL phỏng dịch theo Tôn Túc Nữ Kệ Ngôn
số 63-66: Therīgāthā no. 63-66).
_____________________
(Thánh Ni từng là người rất đau khổ vì mất con).
Thánh Ni Kisa Gotami thuở thiếu thời là con gái một gia đình nghèo khổ. Vì thân thể gầy ốm, nên “nàng” được người trong vùng gọi là cô “Kisa Gotamī”, hay theo Tàu âm là cô “Cồ-Đàm-Ốm”.
Tuy đến tuổi trưởng thành Kisa Gotamī “may mắn” lấy chồng là con trai một thương gia giàu có. Nhưng sự đối xử của chồng và gia đình bên chồng với nàng rất phân biệt. Họ không để cho nàng quên đi thận phận khởi đầu, là con nhà nghèo của mình.
Đã từ lâu, trước khi Kisa Gotamī mang thai và sinh đứa con đầu lòng. Nàng vẫn có tánh rất yêu thương và độ lượng với trẻ nít. Sau khi sinh nở, nàng không bao giờ than cực vì con, qua bất cứ việc gì. Khi đứa bé bắt đầu biết đi, thì cũng là lúc bất hạnh xảy ra cho nàng. Nó đã ngã gục bởi một căn bệnh ngặt nghèo, và lúc còn nằm trên giường, nó bỗng nhiên tắt thở. Kisa Gotamī chưa bao giờ đối diện trước một tình trạng nguy cấp như thế, nên trông nàng thảm hại, như một con cừu non hoảng sợ giữa đám cháy, rất đáng thương.
Chồng nàng và những người bên chồng trước đây từng ngược đãi nàng, bây giờ chứng kiến cảnh nàng đau khổ vì con, mới chấp nhận nàng như một thành viên trong gia đình, sau cơn “quái bệnh” đang đoạt mất tính mệnh của đứa bé. Lý do sự thay đổi đó, không gì khác hơn là thấy tình mẫu tử, và sự quên mình của người mẹ.
Với quyết định phải tìm cho ra thuốc để cứu sống đứa con, Kisa Gotamī liền đeo con ngang hông, rồi không ngại đi từ nhà nầy sang nhà khác, để tìm danh y có thần dược…..
Dân chúng trong vùng sau một thời gian thương hại nhìn cảnh đó, thì hết tội nghiệp. Họ bắt đầu làm ngơ, hay bàn tán về sự điên khùng của nàng. Nhất là những trẻ con không ngớt trêu chọc, và kêu đích danh nàng, bảo rằng, “Kìa Kisa Gotamī, cô không biết là con đã chết rồi sao ?”. Nhưng nỗi đau khổ trong lòng Kisa Gotamī mỗi ngày một tăng. Nàng không buồn nghe xung quanh nói gì nữa.
May thay, lúc ấy có một thiện sĩ đầy lòng từ bi, thấy Kisa Gotamī như thế, bèn lại gần, hỏi han và hướng dẫn cô đến đức Phật. Sau khi chào kính Phật xong, Kisa Gotamī lập tức yêu cầu đức Thế Tôn từ bi cứu sống con nàng.
Đức Phật dùng tịnh nhãn (hay thần thông), thấy Kisa Gotamī trong quá khứ đã từng tiến xa, trên con đường phạm hạnh. Nhưng hiện tại, vì tâm tư đang chìm đắm trong phiền não, chưa sẵn sàng buông bỏ sự mắc dính những đối tượng gây khổ đau. Nhất là đối diện với một sự mất mát đứa con, mà nàng chưa bao giờ trải qua như thế.
Phật bèn nghĩ ra một phương pháp để cứu độ Kiasa Gotāmī.. Ngài bảo Kisa Gotami hãy đi tìm cho Ngài một ít hạt cải để làm “thuốc”. Nhưng những hạt cải ấy phải do gia đình nào từ trước tới nay chưa có ai trong họ hàng đã chết, lấy ra biếu.
Kisa Gotamī từng sống trong làng mạc, nơi có rất nhiều người canh nông, hay trồng trọt. Nàng đi hết nhà nầy đến nhà khác với đứa con đã tắt thở, mang bên hông, để tìm một vật mà nàng sẽ chẳng bao giờ tìm ra. Vì trên đời có gia đình nào từ xưa đến nay chưa có ai chết ?
Hỏi hoài không gặp nhà nào chưa có người chết, Kisa Gotamī chợt tỉnh ngộ, biết rằng, “Sự chết là tình trạng chung của tất cả sinh vật”. Sau khi giác ngộ, Kisa liền quay về gặp Phật.
Khi ấy, đức Thế Tôn hỏi Kisa Gotāmī, xem đã tìm ra loại hạt cải như thế chưa, thì được nàng trả lời rằng, “Không có gia đình nào, mà ở đó xưa nay chẳng có ai qua đời cả. Nàng còn nói “Thực ra, số người từ trần trên thế gian nầy, chắc chắc nhiều hơn số người còn sống gấp bội”.
Nhận thấy Kisa Gotāmī, tinh thần đã tỉnh táo, sẵn sàng hấp thụ Pháp Bảo, đức Phật bèn dạy cho nàng chân lý của vạn vật. Đó là pháp vô thường (Aniccā dhammā). Vào cuối bài Pháp, kiến thức của Kisa Gotāmī tự nhiên chín muồi. Nàng đắc quả nhập lưu Tu-Đà-Hườn (Sotāpanna). Tiếp theo Kisa Gotāmī yêu cầu Phật cho nàng xuất gia.
Tỳ-kheo-ni Kisa Gotāmī thực hành lời Phật dạy, một cách tinh tấn. Một hôm, khi bà sửa soạn tắt mấy ngọn đèn trong giảng đường, bà bỗng chú ý đến ngọn lửa nào, dầu đã cạn, bên trong cũng có khúc tim tàn. Bà liền tập trung tinh thần và định tâm nơi ngọn lửa chao đảo, yếu ớt ấy, rồi bà minh sát rằng, “Mọi sinh vật trên thế gian như ngọn đèn nầy, hễ sự sống trong đó bắt đầu, thì sự chết cũng xuất hiện. Chỉ có sự không sống không chết thường xuyên bị che khuất, vì không nằm trong hai tình trạng ấy mà thôi”
Đức Phật theo dõi, nhận thấy tâm linh của Kisa Gotāmī đang nắm bắt cứu cánh, Ngài liền tỏa thần quang khuyến khích, truyền sang cho đệ tử tâm pháp trong kiến thức. Kisa Gotamī nghe như có âm thanh Phật nói : -Dù chỉ giác ngộ trong khoảnh khắc, mọi sinh vật trên thế gian đều như ngọn đèn, hễ sự sống bắt đầu ở đâu, thì sự chết xuất hiện ở đó. Đây là Niết Bàn, chỉ có tâm giác ngộ mới thấy, dù là trong chốc lác, thì vẫn quí hơn một người sống suốt đời (hay cả trăm năm) mà không biết Niết Bàn là gì”.
Lúc đức Phật truyền xong “tâm pháp”, thì Kisa Gotāmī đắc quả giải thoát tối thượng A-La-Hán (Arahatta).
Để tỏ lòng tri ơn đức Thế Tôn, Thánh Ni Kisa Gotāmī bèn ngâm kệ tán dương Phật pháp, như sau :
“Hàng Đại Giác hằng nâng đỡ phạm hạnh
Không có mối liên hệ nào quí báu hơn
là thân cận một bậc cao thượng.
Người ngu có thể trở thành trí.
Khi nương nhờ đấng giải thoát,
thì trí tuệ phát sinh. và thoát khỏi đau khổ.
Khi nương nhờ đấng giải thoát
Thì chứng được Tứ Thánh Đế
biết thật nguyên nhân của đau khổ.
Chấm dứt tử sinh, bằng Bát Chánh Đạo”.
(Theo Therīgāthā 213, 214, 215).
Thánh Ni Kisa Gotāmī thuở thiếu thời đã đau khổ rất nhiều, vì sinh trong một gia đình hạ lưu, như bao nhiêu đàn bà bất hạnh khác, có đời sống khó khăn, và chứa đầy phiền não. Phụ nữ thời xưa bị xem như một “vật sở hữu”, để (bị) lạm dụng. Nam giới đóng vai người chủ, và có quyền nhiều vợ.
Nếu Thánh Ni đã trải qua những tình trạng bất công như thế, thì bà phải tội nghiệp những phụ nữ khác vô cùng, bất luận họ thuộc giai cấp xã hội nào. Thánh Ni đã diễn tả những trở ngại mà bà từng trải qua, và chỉ sau một thời gian chịu đựng, mới có thể hóa giải bằng cách quen đi.
Phải hiểu tình thế của giới phụ nữ thời đức Phật ở Ấn-Độ, thì một người mới có thể đánh giá được sự giải thoát trong giáo lý Phật đà. Và sự biết ơn sâu xa, mà một “phụ nữ” như Kisa Gotāmī, dành cho đức Phật, vốn không phải chỉ có ơn giải thoát tinh thần, mà còn là ơn giải thoát thể xác, của một người nam thành Phật hướng về nữ giới. Thánh Ni Kisa Gotāmī đã để lại những kệ ngôn như sau :
Đức bổn sư, đấng chuyển hóa con người.
Trước biển khổ của nữ nhân bất hạnh.
Tôi là một….đã từng trong cô cảnh.
Làm vợ, dâu hiền…đau đớn, sầu bi.
Mất con đầu lòng, bao nỗi thị phi
Một lần sinh nở bao nhiêu ngao ngán ?!
Và bất lực trước thói đời sâu cạn.
Tàn sức kêu gào, chỉ có quyên sinh.
Nhẹ dạ mang thai, đau khổ cực hình…
Con lẫn mẹ đều tủi hờn vô tận.
Tôi từng thấy một nữ nhân lận đận*.
Sinh nở đến gần chịu đựng ra sao.
Quay về quê, giữa mưa gió ba đào,
Rồi bất hạnh thấy chồng con đều chết.
Thận phận kẻ nghèo, biết đâu hung kiết ?
Tìm lại mẹ cha, anh, cũng vong thân.
Ba xác kia trên giàn hỏa tiên tan.
Và kém phước sẽ luân hồi hiện biến.
Nước mắt tái sinh, nhiều như bốn biển
Xác muôn đời, chồng chất nghĩa địa hoang.
Hay vất làm mồi thú dữ trên ngàn
Dơ bẩn tồi tàn, thế gian khinh miệt.
Mau về nẻo sáng mới là khẩn thiết.
Bát chánh là đường tôi quyết bước đi
Tinh tấn diệt tham, dứt cả sân si.
Mới hết luân hồi, bình an, giải thoát.
Phật là cây đuốc duy nhất,
dẫn ta vào cực Lạc !
(Theo Therīgāthā 216-224).
_____________
*Ghi chú : * Ám chỉ câu chuyện của Thánh Ni Patacara.
Một lần nọ, «Ma Vương» (nguồn gốc của tội lỗi), đã đến gần Thánh Ni Kisa Gotāmī, để quyến rủ, bằng những lời sau đây :
«Sao khi con chết, nàng không tìm tôi,
mà ngồi một mình, đơn thân khóc lóc ?
Hay chỉ muốn vào rừng sâu cô độc,
Để chờ một người khác, giỏi hơn tôi ?»
Nhưng Thánh Ni Kisa Gotamī đã thanh tịnh, vững chắc. Bà hỷ xả trả lời, như nói chuyện với một người bạn :
« Ta đã vượt qua đau khổ mất con.
Tìm chồng khác ư ? Việc ấy không còn.
Nước mắt sầu bi, ngộ rồi chẳng có.
Đối diện «Ma Vương», việc chi ta sợ ?!
Vui thú trần gian ta dứt hết rồi.
Màng tối vô minh giờ lại sáng ngời
Ta đã chiến thắng vẻ vang thần chết
Nhơ dục trong tâm giờ đây đã hết !»
(Theo Samyutta Nikāya, Tập Bộ Kinh)
Khi thuyết pháp, đức Phật thường nhắc đến sự vô thường. Vì vạn vật liên tục đổi thay chính là một trong những nguyên nhân gây đau khổ. Nhất là đau khổ trong cảnh xa lìa đối tượng mình yêu thương. Pháp vô thường chẳng những đã giúp cho Kisa Gotamī đắc Thánh Quả Niết Bàn, đạt được an lạc, mà còn «khuyến khích» Thánh Ni sống những ngày tháng còn lại, một cách đạm bạc, khắc khổ.
Kinh điển ghi rõ : Thánh Ni Kisa Gotāmī là một trong 13 Tỳ-khưu-ni nguyện trường kỳ thọ hạnh đầu đà*. Thánh Ni chỉ mặc ba y vàng, làm bằng những mảnh vải lượm được ngoài nghĩa địa (nơi bỏ tử thi), đem về giặt sạch và khâu lại. -Thật là một gương sáng ! (*Hạnh đầu đà có 13 pháp. Mời xem cuốn «Gương lành Thánh Đại Ca-Diếp». –Cùng soạn dịch giả).
_________________
(Thánh ni có tiền thân là phụ nữ hiền thục,
nhưng vẫn bị chồng ruồng bỏ).
Sau khi đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni xả báo thân, nhập Niết Bàn, «Pataliputta» hay «Hoa Thị Thành», một thị trấn thương mại ngày xưa trong vương quốc Ma-Kiệt-Đà (Magadha), đã trở thành kinh đô của Hoàng đế A-Dục (Asoka). Đây chính là nơi thuở trước có hai Tỳ-khưu-ni (Bhikkhūnī) đồng đạo cư ngụ. Hai nữ phạm hạnh ấy tên là Bodhi và Isidasi. Cả hai đã diệt tận tham sân si phiền não, đắc quả giải thoát.
Một hôm hai nữ Thánh Nhân nhắc lại những câu chuyện quá khứ, và nêu ra một số phương pháp về trình tự tu tập cao thượng, Thánh Ni Bodhi, vị niên trưởng, xưa vốn là một mỹ nhân, từng trải qua nhiều đau khổ, đã kể cho «sư muội» Isidasi nghe một câu chuyện, và được vị sau nầy hỏi lại : «Làm sao một người đẹp như thế lại có thể đau khổ trong cuộc đời của mình ?» Thánh Ni Bodhi trả lời bằng kệ ngôn :
«Nầy Isidasi, muội cũng xinh đẹp,
Tuổi xuân của muội chưa phai tàn.
Vậy muội thấy nguy hiểm nào trong cuộc đời,
Thúc đẩy muội buông bỏ, đi tu ?».
Bấy giờ Thánh Ni Isidasi, mới kể lại cuộc đời mình. Bà sinh ra trong một gia đình giàu có, tại thành phố Ujjeni, và là cô con gái một, xinh đẹp, thương yêu nhất của cha mẹ. Đến tuổi trưởng thành, Isidasi được một chàng trai, con gia đình bạn thân của cha nàng, môn đăng hộ đối, hỏi cưới. Sau khi gả chồng cho con, cha mẹ nàng rất đỗi vui mừng
Hơn nữa, Isidasi là một cô gái mẫu mực. Nàng biểu lộ hẳn tất cả những đức hạnh và khả năng của một cô dâu hiền thục. Và mọi người bên nhà chồng đều thương yêu Isidasi hết mực. Riêng Isidasi thì càng lúc càng yêu chồng hơn. Nàng không phân biệt công việc trong nhà, không xem đó là dịch vụ của kẻ ăn người ở, hay của nàng dâu ông chủ.
Isidasi tự mình chăm sóc cho chồng, từng bữa ăn thức uống, và những gì chồng cần. Thế nhưng, dù cho nàng đã chu đáo như vậy, người chồng cũng không được vui. Khi bị chồng tỏ ra nhàm chán, Isidasi buồn bã, tả lại bất hạnh của mình, bằng những lời như sau :
«Tôi đã tự nấu cho chồng,
những bữa ăn thịnh soạn.
Cùng rửa các chén đĩa sạch thơm.
Kỹ lưỡng, như mẹ đối với con
Đề chồng vui, và thấy tấm lòng son
Của người vợ chu toàn, không một ai bì kịp.
Tôi đã nguyện vì chồng mà trọn kiếp.
Khuya sớm bên chồng, ấm lạnh, khổ vui.
Nhưng không hiểu vì sao chồng lại chán tôi ?»
(Theo Therigāthā 412-413).
Mâu thuẩn thay, là người chồng vẫn nhìn nhận vợ đầy đủ đức hạnh, không có gì đáng trách. Nhưng anh ta vẫn nhất quyết nói, là không thể sống chung. Và vì người vợ đã chưa làm gì lầm lỗi, nên chồng phải «ra riêng», tự mình đi tìm «nguồn an ủi mới» ở một nơi đô thị.
Đó là lý do anh bắt đầu có cuộc sống khác. Cha mẹ chồng của Isidasi rất khổ tâm vì có đứa con trai như thế. Nhưng họ vẫn thương yêu con dâu, và không muốn rời nàng.
Họ còn nghĩ «Không chừng có chuyện gì khó nói, nên đôi vợ chồng trẻ không dám thổ lộ». Họ bèn thân mật hỏi Isidasi cho rõ sự tình. Nhưng nàng dâu đã thành thật trả lời :
«Con đã chẳng làm gì sai bổn phận,
Cũng không có hành động chống lại chồng.
Con không là mối hiểm nguy.
Và chưa một lời xúc phạm.
Không biết tại sao chàng lại ghét con !»
(Therīgāthā 418).
Cha mẹ chồng nghe Isidasi nói vậy, rất hoang mang và thất vọng. Họ càng thương con dâu hơn nữa. Họ từng tuyên bố thương dâu như con ruột. Nhưng họ cũng không thể để con trai ra ở riêng. Cuối cùng đôi vợ chồng già đi đến quyết định đưa Isidati về với cha mẹ. Họ nghĩ rằng «Với sắc đẹp ấy, nàng dư sức kiếm được một tấm chồng khác». Quyết định đó đã làm cho Isidati sống dở chết dở, vô cùng khổ tâm, mất mặt.
Ở Ấn-Độ thuở bấy giờ, một người đàn bà bị gia đình chồng trả lại cho cha mẹ mình, là một đại sĩ nhục. Sỉ nhục đó, cha mẹ nàng làm sao chịu nổi. Isidati đã khóc hết nước mắt, và than thân trách phận, bằng những câu đầy cay đắng, như sau :
«Bị chối bỏ, bao đau thương nhục nhã…
Có gì xấu hổ hơn trong hoàn cảnh của tôi ?
Bên cạnh mẹ cha, úp mặt khóc luôn hồi.
Họ viện lẽ, vì con trai, bắt buộc,
phải chịu mất một cô dâu hiền đức (!)
Họ còn xem tôi như con gái họ ư ?)»
(Therīgāthā 419).
Tội nghiệp hơn nữa là cha mẹ của Isidati hoang mang, chẳng hiểu gì hết. Sau khi bất đắc dĩ phải nhận lại con gái, họ mau mau đi tìm một người khác xứng đáng, để gả chổng cho con. Và chẳng bao lâu họ đã tìm ra một thanh niên nhà giàu. Thanh niên nầy thoạt đầu say đắm sắc đẹp của Isidati đến độ chịu tặng lại phân nửa số của hồi môn, mà theo phong tục lúc đó, phía cô dâu phải nộp cho phía chàng rể.
Và dù một lần nữa, tâm tính hiền thục, rộng lượng, cầu xin hai chữ bình an của Isidati, đối với người bạn đời vửa đính hôn, cũng đã không thay đổi được vận mệnh của nàng. Sau khi hai bên đã giao kết xong, chỉ trong vòng một tháng, thì thanh niên ấy quay lại gặp cha mẹ nàng xin hủy hôn. Anh ta cũng không nêu ra một lý do chính đáng nào cả, nếu không muốn nói là anh ta cũng xác nhận, Isidati là một mẫu vợ tốt.
Isidati càng thảm bại hơn nữa. Sự ruồng bỏ thứ hai nầy như một mũi tên độc, đâm thẳng vào tim nàng. Isidati sống những ngày tháng tiếp theo đầy sầu muộn. Nàng mất hẳn định hướng, ngày ngày ra vô thẩn thờ xung quanh nhà, không biết phải làm gì, cứ để cho những tủi nhục hành hạ.…
Khi ấy có một đạo sĩ mang bình bát đi «khất thực», ngẫu nhiên dừng lại trước nhà Isidati. Thân phụ người đàn bà bất hạnh quan sát, thấy đạo sĩ có vẻ chán nãn với cuộc sống cô độc, làm thầy tu xin ăn hiện tại. Ông liền gợi chuyện, và đề nghị giúp đạo sĩ có một đời sống trần tục, với vợ đẹp nhà sang, ăn sung mặc sướng. Đạo sĩ nghe êm tai, liền đưa bát cho cha Isidati, và nhận lời cưới con gái ông làm vợ.
Thế mà một ngôi nhà đẹp được xây lên, và một lần nữa, cha mẹ Isidati vui mừng, tỏ ra yên tâm, vì đã tìm cách gả chồng được cho đứa con gái yêu quí.
Nhưng chỉ hai tuần lễ sau, chàng rể (cựu đạo sĩ) đã mang vợ đến «trả» cho nhạc phụ, và xin lại cái bình bát. Cựu đạo sĩ nói «Tôi thà chọn đời sống của một người nghèo nhất trên mặt đất, hơn là sống với Isidati chung dưới một mái nhà».
Mặc dù cha mẹ Isidati đã yêu cầu «chàng rể» nói rõ nguyên nhân nào đến nỗi như vậy, nhưng người ấy không nêu được lý do. Hắn chỉ nói gọn lỏn «Tôi chỉ biết rằng tôi không thể sống chung với người đàn bà ấy được».
Cùng đường, Isidati chỉ còn cách tự tử. Sự hổ thẹn và tủi nhục lẫn đau buồn, vì ba lần bị ruồng bỏ, đối với nàng quá nặng nề. Nàng không thể nào chịu nổi.
Trong khi chờ đợi một phương pháp quyên sinh «khả dĩ» nhất, thì một tỳ-kheo-ni (nữ khất sĩ Phật giáo), tên là Jinaddata đã nhân thiện duyên, xuất hiện khất thực trước mặt nhà Isidati.
Người đàn bà bất hạnh nhìn thấy vẻ thanh tịnh, và tự tại của vị nữ khất sĩ, liền bước ra chào. Sau khi hỏi thăm, và cúng dường thực phẩm đến vị Tỳ-khưu-ni, nàng chợt kinh cảm, và yêu cầu phụ thân cho phép nàng xuất gia thep đạo Phật.
Phụ thân Isidati thoạt đầu hơi chần chừ, vì ông không muốn xa đứa con vốn đã chịu quá nhiều bất hạnh. Nhưng khi ông thấy ánh mắt đầy khẩn cầu của đứa con gái, liền đồng ý. Và sau nầy chính ông là người đã thường nhắc nhở con mình tinh tấn hơn nửa, để sớm đắc quả giải thoát.
Thánh Ni Isidati nhắc chuyện thân phụ bà như sau :
«Rồi sau đó, phụ thân hằng nhắc nhở
Tinh tấn lên, để sớm diệt khổ đau
Niết Bàn là «không», mà «có» nhiệm mầu !
Không vướng mắc ấy người sung sướng nhất ! ».
(Therīgāthā 432)
Sau khi xuất gia, thọ giới Tỳ-khưu-ni, Isidati hằng ngày siêng năng hành thiền. Bà tập trung nghị lực, để sớm đạt được an lạc Niết Bàn. Và chỉ trong vòng bảy ngày, vị tân Tỳ-khưu-ni ấy đã đạt tuệ nhãn siêu việt. Isidati có thể nhớ lại những kiếp trước, thấy rõ tử sinh như thế nào, và bà đắc thánh trí tròn đủ, để đoạn trừ phiền não. Chừng đó Isidati mới biết tại sao hiện kiếp bà chịu bao nhiêu lần hôn nhân thất bại.
Thánh Ni nói rõ nguyên nhân của những khổ đau trong thời gian đầu của kiếp hiện tại, đến sư tỹ Bodhi, rằng 8 kiếp trước, bà đã sinh làm một người đàn ông. Đó là một chàng thợ kim hoàn đẹp trai và hách dịch, bay bướm với đàn bà. Nữ giới rất thích kết giao với hạng người như thế.
Chàng thợ kim hoàn đã lạm dụng sự nhẹ dạ của phụ nữ, kể cả những người đã có chồng, hay các cô gái mới lớn. Anh ta bay bướm hết người nầy đến người kia, làm si tình, gây đau khổ cho biết bao nhiêu nữ nhân. Anh ta xem đó như một vui thú bình thường, cần «hưởng thụ» càng nhiều càng tốt. Anh ta luôn luôn muốn «thưởng thức» một bông hoa mới. Sự làm khổ tình cảm người khác, và gây đổ vỡ cho bao cặp vợ chồng, không làm anh ta cảm thấy khó chịu. Trái lại, anh ta xem đó là những thành tích để anh ta hảnh diện, và khoe khoang.
Nhưng trong chiều sâu, chàng trai trăng hoa ấy đã giỡn mặt với tử thần. Anh sẽ phải gặt hái những hậu quả cực kỳ khổ đau, mà anh đã gieo. Do đó, sau khi chết, linh hồn anh liền sinh vào địa ngục, và chịu rất nhiều khổ đọa, trong một cảnh giới đốt cháy, suốt thời gian dài vô tận.
Khi trả hết quả xấu ở địa ngục tròn một kiếp trái đất, «linh hồn anh ta» tái sinh thành bào thai một con khỉ đực, trong lòng một con khỉ cái. Và khi khỉ con ra đời được 7 ngày, thì bị khỉ đực chúa cắc nát cơ quan sinh dục.
Thánh Ni diễn tã sự việc nầy, và cảnh cáo những ai thi đua hưởng thụ tình dục, bằng những câu kệ, như sau :
«Khỉ đực chúa, đầu đàn một nhóm,
Cắn nát cơ quan sinh dục của con,
Tôi là khỉ con tuổi mới bảy ngày.
Ấy quả ác xưa gạt đàn bà gây tội».
(Therigāthā 437).
Sau khi chết vì bị thiến, «linh hồn tôi» tái sinh làm con một cừu cái vừa què, vừa đui một mắt. Từ lúc ra đời, cừu con ấy đã sống đói khát suốt 12 năm. Tuy thân thể bệnh hoạn vì bụng chứa đầy sán lãi, tiêu thụ hết chất bổ trong thức ăn, nhưng cừu hằng ngày phải chuyên chở trẻ con, và kéo cày kéo xe, cùng chịu đựng những việc nặng nề khác.
Đó cũng là cảnh cực nhọc, mà anh chàng «bay bướm» ngày xưa chọn nghề kim hoàn, để tránh làm việc lao động chân tay. Nỗi khổ nào anh đã không muốn, thì bây giờ anh phải chịu. Cừu ấy lại cũng bị chủ thiến, và bị đày ải suốt đời, chưa kể về già cừu lại đui mù nữa.
Trải một thời gian sống như loài vật, «linh hồn anh thợ kim hoàn bay bướm» hai lần tái sinh làm người bán nam bán nữ, trong lòng. Một cô gái nô lệ, sống cạnh một rãnh nước. Sau khi ra đời, đứa bé lớn lên thì bị hai giới nam nữ trong xã hội ruồng bỏ, tránh xa, và bị đối xử như một sinh vật bất bình thường, không phải con người.
Kiếp kế đó, hậu thân của chàng thợ kim hoàn ác độc tái sinh làm một người nữ, như kết quả dục vọng của y ngày xưa. Người cha của nữ nhân ấy là một lão vô tích sự, làm gì cũng thất bại. Lão đã đem con gái bán cho một tên nhà giàu để trừ nợ. Cô gái phản đối bỏ trốn, nhưng sau đó lại rơi vào tay một tên quản gia nhà giàu khác, và tái trở thành nô lệ. Lúc ấy cô gái được 16 tuổi và có nhan sắc, nên con trai lão quản gia ưa thích, có ý cưới làm vợ bé.
Tất nhiên là bà vợ lớn không chấp thuận. Nhưng cô gái nô lệ muốn «tiến thân» đã tìm mọi cách làm cho vợ chồng con trai lão quản gia chia rẽ, để cô được trở thành vợ con ông chủ, dù chỉ là vợ thứ. Tình trạng ấy gây ra xung đột và cãi cọ thường xuyên trong gia đình lão quản gia. Cuối cùng cô gái nô lệ đã thành công trong việc phá vỡ nếp sống gia đình của vợ chồng con trai ông chủ.
Quả xấu của cô, từ kiếp xưa làm người nam thợ kim hoàn tuy đã tận. Nhưng nghiệp xấu do cô mới gây ra, lại trổ quả tiếp theo. Cô gái nô lệ sau khi chết, tái sinh làm Isidati. Vì nhân ác kiếp trước đã làm nghiệp xấu, chia rẽ vợ chổng, gây đau khổ đến người khác. Kiếp nầy Isidati phải chịu khinh bỉ, ruồng bỏ, cứ mỗi lần cô lấy chồng.
Cũng xin thưa rằng, kinh điển không nói rõ, do phạm hạnh nào, mà cô đã làm nhiều trong những kiếp trước nữa, để có quả tốt về sau, giống như hiện tại tâm cô rất rộng lượng, từ bi và hiền thục trong kiếp nầy, dù phải đối diện với những người chồng gây đau khổ.
Và dĩ nhiên, với sự chín muồi của những phạm hạnh ấy, Tỳ-khưu-ni Isidati mới tu hành, đạt đến Thánh Quả A-La-Hán.
Thánh Ni Isidati cũng nói về sự giải thoát cuối cùng, như sau :
«Vì kết quả của nghiệp xấu quá khứ.
Hiện tại dù phục vụ với thiện tâm.
Quả trước nhân sau không thể lẫn lầm.
Đọa, thăng, sướng , khổ…bây giờ chấm dứt !»
(Therīgāthā 447).
Ngày nay đọc lại sử tích Thánh Ni Isidati, nhắc lại tiền thân bà, chúng ta có thể rút ra được bài học gi ? Nhất là đa số nhân loại đang bắt chước xã hội tân tiến Tây Phương, đạo lý vợ chồng có vẻ «đổi mới» (moderne), nếu không muốn nói là «suy đồi». Thanh niên nam nữ giờ đây dần dần trở thành «hiện sinh», «cởi mở», chỉ sống cho «thõa mãn tình dục» nhất thời, không cần nghĩ đến ngày mai.
Báo chí, truyền hình, phim ảnh, giải trí, quảng cáo…thường xuyên đề cao những «cảm giác mạnh», trong đó cảm giác tình dục dần dần trở thành «phổ thông», và dẫn đầu. Những gì trong «hưởng thụ tình dục», trước đây không cho là lành mạnh, thì bây giờ trở thành «văn minh», đáng làm.
Nhưng luật nhân duyên quả muôn đời vẫn nghiệm đúng, bất kể quan niệm nhân sinh đổi chiều thuận hay nghịch, trở nên sáng suốt hay trở nên tăm tối (vô minh). Đức Phật đã khuyên răn con người nên chế ngự tình dục, chấm dứt tà dâm và hãm hiếp. Chúng ta là người học Phật, phải cố gắng chống lại sự lạm dụng sinh lý, dưới bất cứ hình thức nào.
Trong đời sống hằng ngày, tất cả mọi người, kể cả cha mẹ và con cái, anh em và bà con, hay bạn bè đồng nghiệp. Mỗi cá nhân cần luôn luôn cảnh giác, cẩn thận trước các thế hệ đến tuổi dậy thì. Ngay cả nhiều dòng tu đã phát nguyện «giữ thân trinh bạch» mà còn bị ảnh hưởng bỡi những «cảm giác mạnh» (khiêu dâm), huống chi là trong cuộc sống «xô bồ, tự do hưởng thụ sinh lý» ?
Người Phật tử không nên «dễ dãi» trong lãnh vực nầy, và phải thực hành lời Phật dạy, để bảo đảm sự quan hệ nam nữ thật đứng đắn, trước khi trở thành quá trễ, gây ra bao nhiêu đau thương, oán ghét, hận thù, gia đình phân tán, hôn nhân tan rã.
______________
(Thánh Ni, trước từng bị con đối xử bất hiếu,
đi tu đã lớn tuổi, nhưng vẫn đắc thần thông).
Khi đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni (Buddha Sakya Muni) còn sinh tiền, thì tại thành Xá Vệ (Sāvatthī), có một người đàn bà, tên là Sona, có 10 đứa con. Hằng ngày bà chăm sóc con cái rất kỹ lưỡng, đầy đủ. Bà sung sướng nuôi dưỡng đàn con như vậy, nghĩa là cho ăn mặc, dạy dỗ, thực hiện bổn phận làm mẹ rất chu toàn. Đến lúc các con khôn lớn, bà còn tìm nơi xứng đáng, dựng vợ gả chồng cho chúng nữa. Hoạt động suốt đời bà chỉ tập trung vào việc quanh quẫn chăm lo đàn con, nên bà được mệnh danh là «Bà Sona nhiều con».
Chồng bà Sona là một tín đồ thuần thành của đức Phật. Khi các con ông đã thành gia thất, trách nhiệm làm cha được nhẹ đi, ông liền dùng thời gian càng ngày càng nhiều hơn, để học hỏi Phật pháp. Khi thấm nhuần giáo lý, thì cũng là lúc ông quyết định xuất gia, sống đời thanh tịnh. Tuy bà Sona không dễ chấp thuận quyết định của chồng, nhưng thay vì giữ ông lại, bà cũng quyết định đi tu theo ông.
Sẵn dự định trong tâm, bà đem hết tài sản, (gồm tiền bạc, ruộng đất, nhà cửa, gia súc), chia hết cho tất cả các con. Đổi lại, bà yêu cầu chúng hãy nuôi dưỡng bà, hay cung cấp những gì cần thiết cho bà, trong quãng đời còn lại, để bà tu hành, như một người tại gia cư sĩ.
Trong thời gian đầu, bà Sona sống «nhờ» con, mọi việc diễn ra có vẻ tốt đẹp. Nhưng sau đó, dâu và rể, rồi dần dần đến chính các con bà cũng cảm thấy bà là một gánh nặng. Chúng vốn đã chẳng bao giờ đồng ý để cha đi tu, mất đi một nguồn lợi cho con cái rồi.
Bây giờ chúng dứt khoát không bằng lòng cung cấp vật dụng hằng ngày cho mẹ già, để bà ngồi yên mà tu, không làm gì hết cho con cái nhờ nữa. Chúng quên hẳn công lao của mẹ đã làm cho mình, trong suốt thời gian chúng chưa thành gia thất, vốn đã rất nhiều, không định giá được.
Và chúng bắt đầu cãi nhau về sự phân chia tài sản, cùng sự cung cấp sự sống hằng ngày cho mẹ. Mỗi đứa con đều cảm thấy rằng, sự chia gia tài của mẹ đã không đồng đều. Mỗi đứa con đều nghĩ là mình nhận phần ít hơn người khác.
Sự đối xử vô ơn ấy đã làm cho bà «Sona Nhiều Con» buồn khổ vô cùng. Càng hy sinh trọn đời để lo cho con, bà càng cảm thấy cay đắng, hờn tủi. Theo phong tục Ấn-Độ thuở bấy giờ, con cái là chỗ nương dựa của cha mẹ lúc tuổi về già. Bà Sona tin tưởng như vậy, nên đã chia hết gia tài, của cải cho đám con. Bây giờ trước sự thật, bà mới bừng tỉnh. Bà Sona không còn cách nào hơn là đi tìm đức Phật.
Trong thời gian chờ gặp Phật, bà Sona đến thăm tu viện dành cho phái nữ. Sau khi được nghe bài pháp của một Tỳ-kheo-ni (Bhikkūnī), nói về nỗi khổ không thể tránh được trong sự sống, bà Sona bắt đầu nhận diện cảm giác của mình, và bà càng thất vọng về con cái hơn nữa.
Chúng ta có thể nhận xét trường hợp của bà Sona. «Phải chăng bà làm việc suốt đời, để nuôi dưỡng con cái, một cách vô vụ lợi, hay bà hành động như thế với hy vọng nhận lại sự đền đáp trong tương lai ?-Trên thực tế bà Sona đã yêu thương các con một cách vụ lợi, có điều kiện». Bà sẽ nghĩ như thế nào khi so sánh lòng từ bi và tính tử tế yêu thương kẻ khác mà không cần đền bù, trong giáo lý nhà Phật ?
Nếu bà Sona hiểu được pháp hỷ xả, vị tha, hành động vô vụ lợi của đức Phật, thì khi gia nhập ni giới, bà mới thảnh thơi, tu hành tiến bộ được.
Nhưng Sona cương quyết bắt chước người chồng, nên bà đã được xuất gia. Vấn đề còn lại là Tỳ-khưu-ni Sona có thể thực hành và phát triển nổi tính quên mình, vì người vô điều kiện hay không. Và cũng vì trong giai đoạn đầu, Sona đã không thành công, nghĩa là chưa bỏ được tật vị kỷ cũ, còn khăng khăng nghĩ rằng «con cái phải lo cho cha mẹ» nên bà đã trở thành mục tiêu cho những Tỳ-khưu trẻ chỉ trích. Tỳ-khưu-ni Sona lúc bấy giờ mới ý thức rằng, đạt được thanh lọc tâm linh không phải là một chuyện dễ.
Và nhờ đánh giá được sự khó khăn đó, Tỳ-khưu-ni Sona bắt đầu tập trung tinh thần, thực hành tỉnh giác, và tự quán chiếu tâm mình một cách tinh tấn. Bà phải nhận diện những cảm giác, những nhược điểm, và hiệu lực của kỷ luật tâm linh, một cách khó khăn. Vì Sona xuất gia Tỳ-khưu-ni trong lúc tuổi đã về chiều, nên bà phải hành đạo khá «vất vả».
Càng bị chỉ trích, Tỳ-khưu-ni Sona càng quyết tâm hơn. Nhiều khi bà thức trọn đêm để vừa ngồi thiền vừa đi kinh hành. Và vì không muốn tiếng động của bước chân bà, quấy rầy người khác, bà đã bắt đầu kinh hành ở nhà dưới (gần bếp), trong bóng tối, nhờ định hướng trước những cây cột.
Chẳng bao lâu, Tỳ-khưu-ni Sona đắc quả giải thoát A-La-Hán. Trong Therīgāthā (Nữ Tôn Túc kệ), Thánh Ni đã diễn tả sự thành đạo của mình, bằng những lời giản dị, như sau :
«Vì tôi vụng về giáo lý,
ni hữu chẳng ai gần
Tôi khỏi cần nói chi
Lo làm việc cẩn thận.
Lấy nước đổ vô nồi,
Rồi bắc nồi lên bếp
Nấu cho đủ nước sôi
Như đã được sắp xếp.
Trong khi ngồi chờ đợi
Tôi cảm thấy bình an
Và định thần quán tới
Ngũ uẩn nở rồi tàn.
Tôi thấy thân là khổ
Chẳng ngã, chẳng vui gì
Khổ vui đều đáng sợ
Phiền não tự tâm trì.
Tôi buông hết, và tôi giải thoát ! ».
(Apadana 234-236)
Khi những Tỳ-khưu-ni (Bhikkhūnī) khác quay lại, hỏi Sona xem có nước nóng không, thì bà mới biết là bà đã quên nấu. Lập tức Sona dùng «ý túc» (IDDHI, hay thần thông) mà bà vừa đắc, làm cho nước tự nhiên sôi, rồi đưa cho các sư tỹ.
Câu chuyện Sona có phép lạ sau đó đến tai đức Phật. Phật bèn công bố giữa tứ chúng rằng, Sona là một Thánh Ni, và Ngài khen ngợi sự tinh tấn của bà :
«Người sống một trăm năm,
mà lười biếng si mê.
Không bằng sống một ngày,
mà vuông tròn nghị lực!»
(Dhmmapada 112)
Còn Thánh Ni Sona thì sau khi đắc quả giải thoát, đã diễn tả về cuộc đời trong Therīgāthā, bằng kệ ngôn :
«Thân nầy đã mang mười đứa con
Nhưng chẳng nhờ nhõi chi chúng được
Đến tuổi già sức lực chẳng còn
Lại hạnh phúc hằng ngày khất thực.
Nhờ giáo thọ dạy tôi đạo Phật
Thực hành thấy ngũ uẩn, căn duyên
Nghe Pháp rồi hiểu ra sự thật
Tôi xuất gia tinh tấn tham thiền.
Trong khi tôi còn đang tập sự
Tâm định sâu, bỗng thấy pháp liền
Tôi biết hết những đời quá khứ
Ở cõi người và cảnh chư thiên.
Với nhất định, tôi luôn có thể
Giữ thân tâm tẩy sạch tội phiền
Pháp giải thoát vốn chung một thể
Hết vướng là hết khổ tiền khiên.
Ngũ uẩn bây giờ tôi thấy rõ
Rễ chặt rồi thì dứt long đong
Tôi thảnh thơi, không còn lo sợ
Thân già nầy có tức là không !”.
(Therīgāthā 102-106)
Sử tích Thánh Ni Sona có thể xem là một đề tài quan trọng, trong xã hội ngày nay. Tuy câu chuyện không chứa đựng một ý nghĩa triết học sâu sắc nào hết, nhưng nội dung đó nêu ra một thực trạng đạo đức, luân lý, mà ngày nay có thể diễn ra nhan nhản, và toàn thể chúng ta ai cũng nên chú ý, suy gẫm.
Nếu là bậc làm cha mẹ thì suy gẫm, để biết tư duy tốt nhất, cho thân phận của mình. Nếu là hàng con cái thì suy gẫm, để có một góc độ nhìn đúng đắn hơn trước “song đấng sinh thành”, làm sao cho khả năng báo hiếu được thực hành trung đạo, mà không mang hai chữ bất hiếu.
Dĩ nhiên, là người Việt Nam, ai cũng biết hai câu sau đây :
“Cha mẹ nuôi con, biển hồ lai láng
Con nuôi cha mẹ, tính tháng tính ngày”.
Thật ra, không phải con nào cũng sẵn sàng bỏ rơi cha mẹ. Cũng như không phải tất cả cha mẹ đều chăm sóc con cái một cách đầy đủ, như Thánh Ni Sona trước khi đi tu.
Nhưng chúng ta phải thẳng thắn công nhận một điều, rằng đại đa số cha mẹ đã sống vì con. Cha mẹ đưa thân ra hứng lấy mọi nguy hiểm để che chở cho con cái, hay cứu vớt con khỏi cảnh khốn cùng, nhiều khi phải hy sinh cả tánh mạng. Hiện tượng đó không phải là một chuyện hiếm thấy.
Còn số cha mẹ bất thường, sinh con ra rồi quăng vào cô nhi viện, hay đem bán cho những người hiếm muộn, thì xem ra rất ít. Hoặc càng phản nhân tính hơn, có một số “cha mẹ” sinh con ra, để nuôi lớn làm việc cho mình.
Nhưng thông thường, người ta không lấy thiểu số làm qui luật. Nghĩa là nói chung “cha mẹ là hai người hằng cho con nhiều ơn ích nhất”. Đó là sự thật, không nhất thiết phải thiên vị mới nói như vậy. Và cũng có biết bao nghịch cảnh giữa xã hội bất công, cho chúng ta thấy rằng, cha mẹ trong giai cấp nghèo khổ đã suốt đời chịu cực, tảo tần kiếm từng xu từng cắc, để cho con ăn học đầy đủ nên người, thành tài tiến lên đời sống cao hơn, rồi cha mẹ sẵn sàng mỉm cười nhắm mắt, không cần phải được đền bù, thọ hưởng kết quả.
Do đó, phận làm con phải luôn luôn nhớ ơn cha mẹ. Nhất là để làm gương cho thế hệ sau. Nếu ta có hiếu với cha mẹ, thì sau nầy con ta sẽ bắt chước đối xử tốt với ta. Kinh Phật còn dạy “Con cái cúng dường cha mẹ, có phước tương đương với cúng dường chư Phật”. Ngụ ý đề cao ơn ích ấy.
Phía cha mẹ cũng vậy, Mỗi người trên thế gian đều có phước phần riêng. Ta làm đầy đủ bổn phận cha mẹ đối với con là ta “giải nghiệp”. Đừng xem con là cái gì sở hữu của mình. Ngay cả tấm thân nầy cũng chưa chắc là sở hữu của ta, nói chi đến thân nhân, hay con cái ? -Người xưa đã nói “Sinh con há dễ sinh lòng”. Ta không thể bắt buộc con ta phải có tâm tính, hay tư duy giống như ta.
Còn về phương diện cứu rỗi, đức Phật đã dạy
“Ta là nơi nương nhờ của ta” (Attāhi attano nātho).
Nếu một người đã tạo nghiệp vướng mắc từ vô số kiếp luân hồi, thì chính người ấy cũng phải tạo nghiệp mở trói lâu bằng vô số kiếp như thế, mới may ra giải thoát được. Khi nghiệp chung cũng như nghiệp riêng chưa dứt, thì Phật còn không thể nắm tay ta, ra kéo ra khỏi cảnh khổ, còn nói chi người khác !
___________
Dịch và soạn xong tại Ivry Sur Seine, Pháp quốc
ngày 23/04/2013.
Cư sĩ Tuệ Lạc (Nguyễn Điều)
(Paññanando).
Phụ Lục :
Bạn đã nguyện tu hành và giữ đúng giới luật. Khi bạn giữ giới nghiêm túc thì những điều mong muốn của bạn sẽ đầy đủ. Giới hạnh sẽ đem lại cho bạn niềm tin, hạnh phúc hiện tại và tương lai. Niềm tin sẽ giúp bạn tinh tấn giữ giới.
Trong đời sống người Phật tử, ngoài việc hành theo lời Phật dạy ra, không có gì khác mang đến bình an và hạnh phúc, ở kiếp nầy cũng như các kiếp sau, khi còn luân hồi. Toàn bộ Phật giáo, chuyên chở trong Tam Tạng Kinh Điển, chính là những kiến thức giác ngộ. Nhưng kinh điển thì rất nhiều, chúng ta chỉ nên học những «yếu pháp» để áp dụng. Chúng ta vốn không có khả năng học và nhớ tất cả.
Yếu pháp đó là 37 phẩm bồ đề (hay 37 pháp đưa đến giác ngộ). Tinh túy ấy còn nằm trong Bát Chánh Đạo. Nó cũng ám chỉ Tam Học (Giới, Định, Tuệ), hay con đường duy nhất đưa đến Thánh Quả giải thoát.
Tam học (Giới-Đinh-Tuệ) khi thuần thục, thì hành giả chỉ ghi nhớ duy nhất DANH và SẮC, đồng thời định tâm trên cả hai (danh và sắc) như là MỘT. Do đó ý nghiệp không rơi vào ác tư duy. Đây gọi là tâm giới đã phát triển đầy đủ.
Khi 2 loại thân giới và tâm giới được thực hành liên tục, thì thần thức hành giả sẽ trở nên thanh tịnh, trong sạch, tự tại và an trụ. Đây gọi là tâm định cao thượng (Chánh Định).
Nếu sự định tâm ấy được duy trì vững chắc, thì nó trở thành hùng hậu, và sau một thời gian, hành giả sẽ tự biết là trong khi đang hành đạo, tâm không thấy cái gì khác, ngoài danh và sắc, nội tâm sẽ chứng thật rằng, vạn vật hằng kết hợp và tan rã theo từng sát-na, trong từng chớp mắt. -Và rằng, thực trạng vô thường lúc nào cũng tiếp tục, không ai có thể ngăn cản được, dù cho đó là bậc lỗi lạc, chư thiên, hay phạm thiên. Một hành giả khi trực nhận thực trạng trong thân VÔ THƯỜNG như thế, thì gọi là có TRÍ TUỆ hướng đến giải thoát.
Theo ngôn ngữ tại gia, thì một sự hiển nhiên mà ai cũng biết, là hơi thở hằng vào ra thân người, xuyên qua hai lỗ mũi. Khi hành giả tịnh tâm biết rõ điều đó, và nắm bắt được cảm giác từ lúc hơi thở «chạm» chót mũi, đẩy không khí vào và ra khí quản trong thân (hay toàn thân), cũng là khi họ bắt đầu «thám hiểm» bản thân mình. Họ sẽ tìm ra nơi phát sinh cái khổ.
Chót mũi do đó chính là «điểm cảm giác», để hành giả nắm bắt được sự di động của hơi thở (hay gió=khí đại). Hai «thực tế» là chót mũi và di động của hơi thở khi gặp nhau tạo ra tiếp xúc cụ thể. Nhà Phật gọi sự tiếp xúc, sự di động, và sự cảm giác ấy là các pháp hành thuộc về SẮC. Còn sự ý thức được cảm giác kia là pháp hành thuộc về DANH. Vì vậy, thiền giả không cần hỏi người khác «danh sắc là gì ?», mà họ sẽ tự biết, khi họ tập trung tinh thần vào hơi thở bắt đầu ở chót mũi, và vào ra thân mình. Đây là cơ bản niệm thân
Nhờ có sự chăm chú khi hít hơi vào và thở hơi ra, mà hành giả còn nắm bắt được trạng thái «cọ xác» của không khí nơi chót mũi vào khí quản và toàn thân. Và khi định tâm được trong toàn thân thì hành giả sẽ «đối diện» với mọi cảm thọ nơi thân tâm, đồng thời ý thức được rằng, sự đến rồi đi, hợp rồi tan, sinh rồi diệt vốn nội tại, qua từng nháy mắt (vô thường), của vạn pháp hữu vi cũng giống như thế. Nên hành giả không còn vướng mắc, bám víu, ham muốn, hay bất bình một cách mù quáng trong tâm nữa. Khi hành giả không còn dung dưỡng những trạng thái ấy, thì phiền não tự nó sẽ dập tắt. Thân tâm họ từ đó được bình an.
Thực tế mà nói, hành giả vốn không biết pháp gì, trước khi nhận ra sự «va chạm» của không khí ở chót mũi, rồi toàn thân, và họ cũng không biết pháp gì, sau khi sự «va chạm» ấy chấm dứt. Tóm lại, là hành giả chỉ biết «pháp» trong khi sự «va chạm» đang xảy ra mà thôi. Ngôn ngữ nhà thiền gọi đó là «trực nhận cảm giác» hay «biết pháp hiện tại».
Như thế, điều mà hành giả phải đạt tới, là nắm bắt được cảm giác không khí chạm vào lỗ mũi, và vào thân, biết nó tiếp tục vào ra như thế nào. Thuần thục được sự nắm bắt đó là tâm định trong thân để quan sát cảm thọ. Trong một ngày 24 giờ, nếu thành công như thế, dù chỉ định một thời gian ngắn thôi, hay thường gọi là định đứt quãng, chấm dứt rồi lập lại, thì hành giả cũng khám phá được rằng «sự tu thiền đã tiến bộ, hay có kết quả tốt nơi thân tâm».
Ngược lại, nếu không nắm bắt được cảm giác hơi thở ra vào, «va chạm» đầu tiên ở lỗ mũi, và sau đó thẩm thấu toàn thân, thì sự chứng đắc vô thường trong thân, hay vạn pháp hợp tan trong ngắn ngủi, sẽ không xảy ra. Điều nầy chứng tỏ sự tu thiền chưa thành tựu, vô hiệu quả.
Xa hơn nữa, khi hành giả nắm bắt được cái cảm giác «va chạm» của hơi thở vô và ra đầu tiênở lỗ mũi, và tiếp theo nhập nhiễm toàn thân, tức là hành giả đang tiến dần đến sự nhận diện danh sắc biến đổi (vô thường = aniccā). Sau đó, hành giả sẽ trực giác biết rằng «Không có cái tôi trong thời này, và cũng không có cái tôi trong thời khác».-Càng không có bản ngã nào trong thân đàn ông lẫn trong thân đàn bà, mà tất cả chỉ là tiến trình hợp tan của danh và sắc !
Và nếu hành giả duy trì được sự nắm bắt cảm giác «biết thực tại» trong thiền pháp như thế, thì hành giả sẽ nhận diện rõ hơn DANH cũng như SẮC trong họ (lẫn trong vạn pháp), và chứng đắc pháp cởi bỏ. –Cởi bỏ cái gì ? -Cởi bỏ sự trông cậy người khác, nghĩa là hành giả sẽ không cần ai giúp lý thuyết để soi sáng pháp hành.
-Dĩ nhiên là đừng lẫn lộn, nắm bắt nhầm cái gì khác, không phải là cảm giác của hơi thở đang ra vô, thông qua lỗ mũi, thẩm thấu toàn thân, ở giây phút hiện tại. Đó chính là sự khởi đầu của giác ngộ. -Giác ngộ ở đây ám chỉ sự xác nhận : Cái nầy không phải là ta. Cái kia cũng không phải là ta !
Trong sự bắt đầu tiến vào giác ngộ ấy, và ngay giữa khoảnh khắc xác nhận sự vô ngã trong ngũ uẩn, tâm hành giả sẽ bừng sáng trong pháp thiền, để họ thanh tịnh đạt tới chánh kiến (Sammāditthi). -Chánh kiến là nhận thức vô tư rằng : Cả cõi đời nói chung, và thân nầy nói riêng…..không có gì khác, mà chỉ là sự hợp tan, biến hóa của danh và sắc. Phật giáo gọi đó là tuệ phân biệt. Và khi tuệ phân biệt được duy trì thuần thục, thì sự bám chặt một cách vi tế vào cái ngã tạm thời (hợp tan), sẽ bị chặt đứt trong tâm, và tuệ giải thoát tự biểu lộ.
Mặt khác, dù cho hành giả chỉ đạt được tuệ phân tích trong một thời gian ngắn, hành giả cũng chớ xem thường, coi đó là kết quả nhỏ bé. Vì hiệu lực của nó vốn vô cùng thần diệu.
Vã lại, khi tu thiền hành giả đừng đặt công phu của mình quá cao, để nghĩ rằng : Hành thiền nếu không thấy thành tựu thực tế, thì vô ích. –Mà mỗi hành giả chỉ nên nghĩ rằng : Chúng ta tuy không có đại hạnh sinh vào thời đức Phật, để được phúc duyên tu tập đắc đạo nhãn tiền, nhưng chúng ta vẫn còn may mắn, là gặp Phật giáo hiện tại.
Hãy tạm quên đi cuộc sống quay cuồng, cơm áo hằng ngày, mà tập trung nghị lực, tinh tấn giữ giới và hành thiền, để thanh tịnh và tự tại, nơi từng hơi thở qua thân tâm, hầu đạt đến mục tiêu. Thanh tịnh và tự tại thân tâm, đạt đến mục tiêu có nghĩa là chứng đắc kết quả an lạc, mà không mắc dính vào kết quả ấy.
Những điều trên đây là tinh túy của pháp thực hành thiền giải thoát, đúng theo ý nghĩa và nội dung những lời Phật dạy.
THẾ NÀO LÀ GIỚI ĐẦY ĐỦ ?
Có nhiều hành động tạo phước. Chẳng hạng như dọn quét rác rưới, làm cho ngôi chùa hay nơi thờ Phật sạch sẽ. Chẳng hạng như tưới nước, hay chăm sóc cây Bồ Đề cho xanh tươi. Chẳng hạng như cung cấp mọi vật dụng, để nuôi dưỡng cha mẹ, hay sa-môn, thầy tổ. Chẳng hạng như chu toàn đời sống vật chất lành mạnh cho gia đình, chẳng hạng như giúp đỡ người thế cô, bệnh hoạn, nghèo khó……
Trong quan niệm của một thiền giả, làm đầy đủ những việc thiện ấy cũng có thể gọi là tròn đủ giới hạnh . Vì sao ? Vì trong khi chăm chỉ thực hiện những phận sự kể trên, một người lơ đãng, không thể làm tốt được. Và nếu không làm tốt, thì người ta trả lời làm sao trước câu hỏi «Phận sự chu toàn ?». Khi phận sự chưa chu toàn, thì một người có cảm thấy mình nhẹ nhàng, hạnh phúc không ? Nếu không nhẹ nhàng hạnh phúc thì làm sao có bình an ? Không có bình an thì làm sao có định tâm. Và sau cùng, không định tâm thì tất nhiên sẽ không làm sao có trí tuệ *!
Vì thế nên gọi GIỚI là CĂN BẢN của pháp thiền và trí tuệ giải thoát vậy !
Theo «The words of Wisdom» của Thiền sư Webu SAYADAW
Ivry sur Seine ngày 29-07-2012
________________________________________________________________
*Chú thích của dịch giả : Trí tuệ là kết quả, chứ không phải phương pháp, nhất là không có một cách tu thiền gọi là «Thiền Tuệ». –Trong tiếng Pālī, Tuệ Giải thoát gọi là Paññā hay Prajñā,. còn tuệ chưa giải thoát (hay tuệ hành giả, tuệ phàm) goi là Ñāna. Y nghĩa của 2 chữ PAÑÑĀ và ÑĀNA hoàn toànkhác nhau. –Paññā có nghĩa là «biết pháp với tâm toàn xả (cả 3 thời quá khứ, hiện tại, và vị lai), thông qua tất cả». –Ñāna có nghĩa là «biết thực tại, tâm xóa được quá khứ và vị lai, nhưng chưa xả thực tại».
______________________________________________________
Thơ đạo :
Đã bao kiếp rồi,
Tôi lang thang….,
đi tìm ngôi nhà «cũ» !
Nhưng thấy nó hoàn toàn «mới»…. !
Nó có bốn trụ bao quanh,
gọi là SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH,
Và một trụ ở giữa là THỨC !
Đối với tôi, nó là MỘNG lẫn THỰC.
Nó vừa CÓ…..,
cũng vừa KHÔNG….
Vừa quyền hành, vừa bất lực….
-Thật là khó đón nhận !
Tôi ngơ ngác….,
ngập ngừng, bức rức….
Thấy bộ phận nào của nó….,
Cũng vừa «quen» vừa «lạ».
Tôi phải dùng khái niệm….
Để mơ màng học lại tất cả
cách xử dụng nó ngay từ đầu,
và chất hết chi tiết vào «ký ức»….
***
Một bậc Giác Ngộ…
hiện ra, nhìn tôi bảo :
-Anh từng «ở» trong đó rồi mà ?!….
-Ừ, thì ra…anh đã quên tất cả. !
-Kìa, có một tấm màng,
gồm nhiều màu, nhiều lớp…
đang che mắt anh.
Tấm màng nầy dày quá !
Ngừng một chút ….,
rồi bậc Giác Ngộ nói tiếp :
-Nhưng chỉ có anh mới phá nó được !
-Không ai có thể làm giùm !
Cái màng đó tên là vô minh.
Nó luôn luôn làm cho tâm thức anh ô-trược.
Và chịu đựng những cực hình,
xuyên qua vô số luân hồi chấp trước !
Tôi vội vàng quỳ xuống….
để ôm chân bậc Giác Ngộ,
với lòng tin, khẩn cầu….
Xin Ngài “từ bi”cứu độ !
Nhưng Ngài đã “biến” mất…
Và tôi chỉ thấy trước mặt :
Một đóa sen….!
(Ý dựa theo Phật ngôn)
Cs. Tuệ Lạc.
(10/07/2010)
Mục Lục
Vài lời thưa. 3
1 : Đại Thánh Ni GOTAMI. 5
2 : Thánh Ni KHEMA. 24
3 : Thánh Ni Uppalavanna. 31
4 : Thánh Ni BHADDA KUNDALAKESA. 45
5 : Thánh Ni PATACARA. 51
6 : Thánh Ni SUNDARĪ NANDA. 60
7 : Thánh Ni Bhaddā KAPILÀNI. 64
8 : Thánh Ni KISA GOTAMI. 71
9 : Thánh Ni ISIDASI. 77
10 : Thánh Ni SONA. 86
Phụ Lục :
TUỆ GIẢI THOÁT LÀ GÌ ?. 93
Vô Minh và «Ngôi nhà NGŨ UẨN». 98