Tous les articles par adtuelac

BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 10

*Liên quan đến “TỨ VÔ LƯỢNG TÂM” (Catu mahāvihāra), gồm :

1/Từ (mettā). 2/Bi (karuṇā). 3/Hỷ (Muditā). 4/Xả (Upekkhā).

<>Trong chúng ta, hầu như ai cũng từng nghe qua và tự động nghĩ rằng, 4 tiếng TỪ, BI, HỶ, XẢ” (Pāḷī : Mettā-Karuṇā-Mudiṭā-Upekkhā) là “ngôn ngữ vừa phổ thông vừa minh triết…của nhà Phật”. Nhưng ít ai biết thêm “cái tên khác” của “4 phẩm cách ấy” là “TỨ VÔ LƯỢNG TÂM” hay “Bốn phạm trù thanh tịnh của bậc đại phạm hạnh” (Catu Mahābrahma-vihāra). Đó là 4 ĐỨC ĐỘ không thể đo lường của TỪ, BI, HỶ, XẢ, trong một Thánh nhân (Ariya puggala) đã giải thoát. NÓ là nền tảng không biên giới của tâm thức (appamaññatā) đức Phật.

Continuer à lire BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 10

BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 9

*Liên quan đến “PHÁP và LUẬT” (Dhamma-vinaya),

-trước “SINH THÁI” (Parikkhepa), hay MÔI TRƯỜNG.

<>Nhìn theo góc độ “phân tích khoa học”, thì SINH THÁI hay MÔI TRƯỜNG (Parikkhepa) đối với nhà Phật, có liên quan đến TÁC DỤNG của “giáo lý ban đầu” do đức Phật thuyết ra, để làm “QUI TẮC” cho SỰ SỐNG của tăng đoàn (Saṅgha) giữa xã hội, gọi tổng quát là “PHÁP và LUẬT” (Dhamma-vinaya). Theo “giáo sử” ghi “hậu thời” Phật nhập diệt, thì QUI TẮC SỐNG CHUNG đó về sau này là TẠNG LUẬT (Vinaya piṭaka), hay “nền tảng” xây dựng hạnh kiểm (sobhana caraṇa) của mỗi “tỳ kheo” (bhikkhu), chủ yếu“hướng về” sinh thái, -cũng ám chỉ CÁCH SỐNG ĐÚNG PHÁP (Dhammena karanaṃ) đối với thiên nhiên !

Continuer à lire BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 9

BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 8

*Liên quan đến “THẦN THÔNG” (Abhiññā). (>>> PHẦN BỔ TÚC Bài 8)

<>“THẦN THÔNG” (Abhiñña) là một từ ngữ nghe qua rất ẤN TƯỢNG”, đối với hầu hết “người Châu Á ” nói chung, và đối với một lớn số “người có tín ngưỡng” trong văn hóa “Việt-Ấn” nói riêng. Còn các dân tộc thuộc văn minh cổ Hy-lạp (Grèce) hay Ba-tư (Perse), thuộc vùng “Lưỡng hà địa” (Mesopotamie) và Trung hoa (Chine) ngày xưa, thì “ẤN TƯỢNG” về THẦN THÔNG nói trên, ám chỉ hình ảnh “PHONG THẦN”…hơn là một cái gì có thực, -nghĩa là “THẦN THÔNG” là một quyền năng “siêu hình”, nặng về “thần thoại” (mythologique)…không thể lý giải một cách phổ quát. -Tóm lại, “ẤN TƯỢNG về THẦN THÔNG” mà người ta nói đến, vốn là một “cảm giác huyền hoặc”, chỉ biểu lộ trong “tư thức”.

Continuer à lire BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 8

BẢN SẮC KHOA HỌC  Trong Phật giáo Bài 7

*Liên quan đến “THIỀN PHÁP”.

(Bhāvanā dhammā).

<>“THIỀN PHÁP” (Bhāvanā-dhammā) trong Phật giáo, là một “KỸ THUẬT” (technique, tiếng Pāḷī “kalāviññāṇa”) làm cho TÂM THỨC (Cittaviññāna) con người trở nên ĐỊNH TỈNH (Santi), THANH TỊNH (Visuddhi), và AN TRÚ (Appanā). -Giáo sĩ Descartes, một triết gia và là nhà toán học lỗi lạc người Pháp (vào thế kỷ 17), đã nói “Je pense, donc je suis”, -tạm dịch “tôi sống vì tôi suy nghĩ”, nghĩa là “tôi có tâm thức LUÔN hoạt động”, – Danh từ “TÂM THỨC” (Citta) ở đây, ai muốn gọi tên là gì cũng được (-chẳng hạn như “thức tánh”,“linh hồn”, hay “tinh thần”…) miễn là để ám chỉ “phần vô hình kỳ diệu” trong mỗi con người, đang biết rằng “mình hiện hữu”. -Còn tên đặt hay từ ngữ chỉ là “phương tiện” !

Continuer à lire BẢN SẮC KHOA HỌC  Trong Phật giáo Bài 7

BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 6

*Liên quan đến “TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ”.

(Ti-maṇorañjaka-dikkhita-bodhaṃsa).

<>“TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘlà một “câu nói minh triết”, có nội dung chuyên chở “sự khuyến thiện ở tầng số trí tuệ”, do một số người “ngoan đạo Phật” thỉnh thoảng trân trọng thốt ra. Và dù chúng ta có nghe rất thường đi nữa, thì cũng giống như những “câu phát biểu đầy triết học” khác, -nhiều khi chỉ được họ quen miệng lập lại mà thôi, nhưng chưa chắc người “phát ngôn” câu ấy, đã đặc biệt chú ý đến chuyện “THẤU TRIỆT” ý nghĩa.

-Vã lại, “NGÔN NGỮ TÔN GIÁO” xưa nay vẫn thế, đa số người có tín ngưỡng vốn nặng về NIỀM TIN và NGHI LỄ CÚNG BÁI hơn là sưu tầm “kiến thức giác ngộ”. Đó là lý do không tránh khỏi tình trạng “mỗi lần thốt ra một lời “minh triết”, là một lần nghĩa lý sâu sắc của câu nói quí báu, có thể bị “lu mờ”, -nhất là tùy theo trình độ kiến thức của mỗi tín đồ. Và đạo Phật cũng không ngoại lệ, nên khi có dịp nêu ra “kinh điển”, để cùng nhau trình bày soi sáng, vẫn là một điều tốt, nhất là xuyên qua cái nhìn của “Bản Sắc Khoa Học”.

-Vậy đề tài hôm nay, “TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ” là gì, và SỰ LIÊN QUAN (paccaya) giữa nó với KHOA HỌC HIỆN ĐẠI như thế nào ?!

*“TAM PHÁP ẤN” là “bộ ba”, gồm 1/VÔ THƯỜNG (Aniccā), 2/KHỔ NÃO (Dukkha), và 3/VÔ NGÃ (Anatta), đã được Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni lúc sinh tiền, thuyết minh nhiều lần…trong kinh điển Phật giáo (“Nam Truyền” cũng như “Bắc Truyền”).

<>Chúng tôi đề nghị tiếng Việt nam gọi “2 HÌNH THỨC Phật giáo” đang “thịnh hành” ở Châu Á nói riêng, và được khá nhiều nước trên thế giới biết đến…nói chung là “Nam Truyền” (Ecole du Sud) hay “Bắc Truyền” (Ecole du Nord). Đó là cách “mệnh danh” VÔ TƯ nhất, để ám chỉ 2 hướng Đạo Phật du nhập vào Việt Nam thay vì gọi là “Nam Tông” và “Bắc Tông”. -Vì “2 hệ phái Phật giáo “Nam tông” và “Bắc tông” ấy, vốn “phát xuất” từ người Tàu. “Phật giáo Bắc Tông” đã được thành lập bỡi một đệ tử của Tổ sư Hoằng Nhẫn, tên là THẦN TÚchủ trương tiệm tiến”. Còn “Phật giáo Nam Tông” cũng được hành lập do một đệ tử khác, vẫn của Tổ sư Hoằng Nhẫn, tên là HUỆ NĂNGchủ trương đốn ngộ”. -NAM ĐỐN, BẮC TIỆM.

-Nếu căn cứ theo bản đồ địa lý ngày nay, thì cả 2 phái Nam tôngBắc Tông đều nằm trong lãnh thổ Trung hoa cộng sản. -Nghĩa là, đối với một người VN theo đạo Phật, thì cả Nam tông lẫn Bắc tông đều thành hình từ phương Bắc. -Do đó, gọi là “Phật giáo Bắc Truyền”, ám chỉ do người Tàu phổ biến, là chính xác hơn, vì nó đã du nhập vào nước ta từ thời bắc thuộc (sử sách đã ghi rõ). Và gọi “Phật giáo Nam Truyền”, tức là đạo Phật đến nước Việt, từ các nước phía Nam…cũng quả thật không sai.

-Trên thực tế… từ hình thức đến nội dung cách tu hành của các thế hệ đệ tử Ngài Huệ Năng, rất không tương đồng với cách tu hành của đạo Phật ở các nước phương Nam, như Cao-miên, Ai-lao, Thái-lan, Miến-điện, Tích-lan, Ấn độ…v…v…-Nếu chúng ta cứ tiếp tục gọi Phật giáo phương Nam, phong cách nguyên thủy như “mặc y vàng và xử dụng kinh điển Pāḷī làmCĂN BẢN” là “Nam tông”, thì vô tình chúng ta đã duy trì một ngộ nhận khá quan trọng cho con cháu chúng ta theo đạo Phật sau nầy.

-Người xưa vẫn nói “danh có chánh thì ngôn mới thuận !” Khi thấy tên gọi của một “giáo phái tín ngưỡngđánh lạc hướng quần chúng, về nguồn gốc thiết lập của nó, mà chúng ta không chân thành điều chỉnh, thì đó một thái độ thiếu tôn trọng nhân sinh. -Và nhất là sự “điều chỉnh” ấy lại rất HỢP LÝ và VÔ TƯ, đứng ngoài mọi cạnh tranh quyền lợi hay danh dự !

Trở lại “TAM PHÁP ẤN”, gồm vô thường, khổ não, và vô ngã

<>VÔ THƯỜNG là thay đổi không ngừng, hay VẠN VẬT hằng biểu lộ muôn vạn hình trạng. -Nói một cách qui nạp, VÔ THƯỜNG ám chỉ “hiện tại thì , mai sau lại KHÔNG”, hay “hôm nay BIẾN MẤTngày kia HIỆN RA”. Tất cả những lần “có mặt” và “vắng mặt” ấy, của một sự vật trong VŨ TRỤ…chỉ là hiện tượng. -Sự BIẾN HIỆN vốn chẳng xác định điểm bắt đầuđiểm chấm dứt đối với THỰC TẠI….là một “nguyên tắc BIẾN DỊCH”. -Nghĩa là SINH (Jāti) và TỬ (Maraṇa) tuy là “một cặp không rời”. -Nhưng chúng ta KHÔNG THỂ đòi hỏi “chúng phải có tình trạng giống nhau”. Và chúng ta càng KHÔNG THỂ “phản đối tính khác biệt”, khi thấy SINH thì hữu hình (biểu lộ), còn TỬ thì vô hình (bí ẩn), mới chịu chấp nhận rằng “sự thật thấy được hay không thấy được đều là lẽ tự nhiên”!

-Một thân thể ngưng thở, nằm bất động ở đó…có thể là đã CHẾT…nhưng không chắc ! -Theo Phật giáo, nếu “mạng căn chưa tận”, thì nó sẽ SỐNG lại. -Xem ra “bất động” không cùng nghĩa với “chấm dứt sự SỐNG”. -Vì KHOA HỌC ngày nay từng xác chứng rằng, có những cái “SỐNG” mà bất động ! -Ví dụ như ở vùng Bắc cực (Pole Nord), có những sinh vật đến mùa cực lạnh, thân thể biến thành “khối nước đá” và nằm yên dưới băng tuyết từ 3 đến 6 tháng. Khi hội đủ điều kiện nhiệt độ tăng, nước đá tan thì chúng sống lại (nhờ ĐỦ DUYÊN), và cử động kiếm ăn bình thường.

-Như vậy, “ĐỘNG” không nhất thiết là “cõi sống”. -Và “TĨNH” không nhất thiết là “cõi chết”. -Tất cả tùy thuộc vào một số điều kiện hay DUYÊN (Paṭṭhāna) ! -Thì ra, chứng minh KHOA HỌC (expérience scientifique) và “CÁI THẤY” (Vipassanā) của “BÁT-NHÔ (Prajña) trong đạo Phật vốn có CHUNG quan điểm nầy.

Nói theo quan sát hiện tượng trên bề mặt thì như thế, nhưng với “tuệ quang phát ra từ trí bát-nhã (trong nhà Phật) thì NĂNG LƯỢNG THANH TỊNH còn vượt trên khả năng tri thức của người phàm. Và KHOA HỌC HIỆN ĐẠI cũng càng ngày càng trải nghiệm thực trạng ấy, xem đó như VẬN HÀNH tất nhiên của LÝ HÓA. Chung qui, “Bản Sắc Giác ngộ” trong đạo Phật, và KHOA HỌC TÂN TIẾN đã không hẹn mà cùng “qui nạp” rằng, LÝ HÓA là VÔ THƯỜNG….hay là một pháp “HẰNG CÓ”, nếu không muốn nói là một pháp TỐI CẦN THIẾT cho sự biến dịch, thăng hoa hay suy đọa. -“Tối cần thiết” đến độ mà nếu PHÁP VÔ THƯỜNG” (aniccā=impermanence) “vắng mặt, thì 2 tình trạnghướng động và “sinh hoạtPHẢI TÊ LIỆT, một cách bế tắc !

<>VÔ THƯỜNG (Aniccā=impermanence) là hiệu lực đầu tiên của“HIẾU ĐỘNG” và “LINH HOẠT”, -Hoặc nói cách khác,hiếu động và “linh hoạt là “2 VẬT LIỆU CĂN BẢN” tạo ra tình trạng VÔ THƯỜNG. “Chúng cũng” là “NGUYÊN NHÂN” phát xuất sự sống, của tất cả “sinh động vật” trên mặt đất.

<>VÔ THƯỜNG (Aniccā) vốn không phải là hiện tượng phá hoại tiến trình sống, mà là “yếu tố phục vụ” MẠCH LUÂN HỒI.  -Vì trên thực tế, SỰ SỐNG cần phải biến hóa linh động, liên tục thay đổi, -gọi tắc là SINH HOẠT. -Ngược lại với VÔ THƯỜNG, thì vạn vật phải ở mãi tình trạng cũ (bất biến=thường hằng)…là một hoàn cảnh bế tắc…tận thế, chứ không phải là “cõi tiến hóa”…trong “bất cứ góc độ tư duy” nào trên thế gian nầy.  

*Khi GIÁC NGỘ, biết rõ VÔ THƯỜNG (Aniccā) là NHƯ THẾ, thì con người đang sống…muốn tiến hóa, phải TÍCH CỰC từ chu kỳ nầy qua chu kỳ khác, một cách sáng suốt, thích ứng…không tà kiến lười biếng, không nhu nhược bỏ cuộc, mới có thể thoát khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu, TỰ SA ĐOẠ, và tạo được QUÂN BÌNH nhắm đến an vui !  -QUÂN BÌNH ở đây là nền tảng của “CHÁNH THIỀN” (sammā samādhi) trong nhà Phật, và là yếu tố THĂNG HOA hữu hiệu nhất (ariya niyama) !

<>KHỔ NÃO (Dukkha) là “pháp ấn thứ nhì”, nói lên tình trạng THÂN TÂM thường xuyên chịu đựng THUẬNlẫn NGHỊCH (mānāpa pyāmānāpa). -Hay mỗi người sinh ra thì “phải chấp nhận” tất cả các thực tại BUỒN rồi VUI, đối đãi liên tục, một cách xung đột, một cách hoán vị, xen kẽ theo chu kỳ…TỐT đi đôi với XẤU…SINH đi đôi với TỬ …THĂNG đi đôi với ĐỌA. Do đó, KHỔ NÃO là kết quả tự nhiên của VÔ THƯỜNG (Aniccā), và ẤY là chuyện không thể tránh được trong KIẾP SỐNG con người hằng ngày. -Thậm chí, người ta nói “khổ não là vật liệu rèn luyện ý chí, hay bãn lĩnh” cho con người !

-Hai chữ “KIẾP SỐNG” (Jīvita) trên đây, ám chỉ CÁI mà nhà Phật gọi là “NGŨ UẨN” (pañcakkhandha), gồm SẮC UẨN (Rūpa-khandha), THỌ UẨN (Vedana-khandha), TƯỞNG UẨN (Sañña-khandha) HÀNH UẨN (Saṅkhāra-khandha), và THỨC UẨN (Viññānakkhandha). -Đó là “một giai đoạn hoạt động” của THÂN phối hợp với TÂM hay của “DANH phối hợp với SẮC” trong mỗi động vật. -Nói theo Phật học.

-“SẮC” (rūpa) là thân xác (kāya). “DANH” (nāma) là tinh thần (maṇo). -Nhưng theo “BÁT-NHÔ (Prajña) trong nhà Phật, “tham chiếu” qua KHOA HỌC…thì “DANH SẮC” (nāmarūpa) biểu trưng cho “vũ trụ tượng hình” (sakalalokadhātu), bên trong chứa tất cả vận hành (saṅkhārā) từ các YẾU TỐ “nhỏ nhất” cho đến các YẾU TỐ “lớn nhất”, ở dạng THÔ (khối lượng) hay dạng TẾ (tinh vi). Đặc biệt là “DANH SẮC” (Nāmarūpa) tự nó có “BẢN THỂ” hợp rồi tan, tan rồi hợp, “biến hóa không ngừng”, trong cái KHUNG của PHÁP ĐỘNG, chứ không thể tuyệt tận, hoàn toàn biến mất được ! -Và đó là “nguồn gốc” của KHỔ NÃO, là triền miên “xung đột nội tại” trong tiến trình CHUYỂN BIẾN do mất thăng bằng.

*Theo Phật học, “hễ mang THÂN NGŨ UẨN thì không thể tránh khỏi khổ não”. Vì trong NGŨ UẨN chứa “tam ác” là THAM SÂN SI, -một “hỗn hợp dị ứng” luôn luôn đối nghịch với mọi THAY ĐỔI TỰ NHIÊN của THẾ GIỚI ĐỘNG. -Bộ ba THAM SÂN SI nầy không ngừng “sản xuất” ra nhiều loại cảm giác nghịch chiều, -trong số ấy cặp tiêu biểu nhất là “vừa lòng” (māṇāpa) và “bất mãn” (amāṇāpa), gọi chung là KHỔ NÃO (Upakkilesa dukkha).

-THAM LAM (lobha) gốc ác thứ nhấttính bất túc, hằng làm cho THÂN TÂM con người luôn luôn chao động, cảm thấy thiếu thốn, thèm khát…dưới dạng LO BUỒN hay DỤC VỌNG. -Khi THAM thì tâm tư không ngừng hướng về một cái gì đó bất định, và nếu một người cố gắng…mà vẫn không đạt được, thì phải CHỊU ĐỰNG khổ não thèm khát.

-SÂN HẬN(dosa) là “gốc ác thứ hai” có “tính thiêu đốt”, hằng làm cho THÂN TÂM con người thường xuyên nóng nảy, bức xúc…dưới dạng SỢ SỆT hay THÙ HẬN (cháy bùngcháy ngầm). -THAM là “tiền thân” của SÂN, khi tâm tư một người ôm cứng điều mong muốn, và nếu gặp trở ngại hay không đủ khả năng đạt mục đích, thì phải SÂN, chịu đựng NÓNG NẢY, khổ não nung nấu.

-SI MÊ là “gốc ác thứ ba”, có “tính vô minh” (không soi sáng) thường làm cho THÂN TÂM con người mơ hồ, thiếu tỉnh táo, vụng về…dưới dạng hoài nghi, trạo cử và BẾ TẮC. -Khi SI MÊ thì bị khói thiển cận che áng, không thấy rõ hoàn cảnh (-chẳng biết đúng sai, do đâu thành bại), thì phải CHỊU ĐỰNG khổ não hoang mang (mất định hướng).

-Mặt khác, “bộ ba” THAM SÂN SI (lobha-dosa-moha) còn có “2 huyền lực độc hại” nữa, là trước mỗi “hoàn cảnh” (Ᾱlambana = đối tượng), chúng thừa khả năng làm cho TINH THẦN con người bị tràn ngập (ogha) bỡi 2 tâm trạng “vui sướngchán nãn”. -Vì rằng, -khi “SỰ HÀI LÒNG không kéo dài thì cảm thấy CỤT HỨNG”, -phát sinh khổ tham (lobha dukkha), khao khát không nguôi, -khi “SỰ BẤT MÃN không dứt sớm thì cảm thấy DỊ ỨNG, XUNG ĐỘT”, -phát sinh khổ sân hận (dosa dukkha). -Nói tóm lại tham sân si là “BA HẠT GIỐNG ÁC” (hetu) gây KHỔ NÃO (upakkilesa) !

<>Trở lại việc “VÔ NGÃ là hoàn không (Natthitā)”. Chúng ta còn biết thêm rằng, “HOÀN KHÔNG” cũng là một cách diễn tả khác, nói về CHU KỲ của những kiếp sinh hoạt liên tiếp thay đổi, lẩn quẩn. NGUYÊN NHÂN là sự vận hành MẤT THĂNG BẰNG, luôn luôn CHAO ĐẢO trên đường cong, rồi giáp vòng kết thúc với TÌNH TRẠNG TAN RÃ (=biến mất).

-Dấu hiệu của sự HOÀN KHÔNG ấy, được tượng trưng bằng đường cong hay HÌNH TRÒN (luân hồi), và con số kiếp “LUÂN HỒI” thì vô tận. -Đó là SỰ LẬP LẠI không phải chỉ một lần, mà là vô số lần, để lập thành TẬP KHÍ, còn gọi là UẨN hay “tích tụ” (Khandha). -Vậy TÍCH TỤ những cái gì ?

*Tích tụ tất cả những cái cũ (hay thói quen) và cái mới vì nhu cầu của mỗi kiếp sống nối tiếp nhau, do NGHIỆP CÓ THÂN (Kamma=Karma). Chúng vừa thật và vừa giả. -THẬT được hiểu (lầm) là “có mãi”. -GIẢbị cho là “không mãi”. -Nhưng cả 2 trạng thái THẬT hay GIẢ ấy, đều kết thúc bằng “HOÀN KHÔNG” (Natthi). -Nhưng trong “nhận diện vũ trụ” của BÁT-NHÃ (hay khoa học) thì cả 2 “chẳng phải là KHÔNG”, cũng “chẳng phải là CÓ”. Chúng “chẳng luôn luôn tốt”, “chẳng luôn luôn xấu”. -CHÚNG BIẾN DỊCH !

*TẤT CẢ vốn bắt nguồn từ sự MẤT THĂNG BẰNG, “không thiện” (natthi kusala) “không ác” (natthi akusala), mà chỉ là 2 tình trạng THUẬN NGHỊCH “giao thoa lẫn lộn”. Thuận nhiều hơn nghịch thì…gọi là “THIỆN”. Nghịch nhiều hơn thuận thì…gọi là “ÁC”…một cách dựa trên ƯU THẾ, -nói theo DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna).

<>Đối với “Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo”, VÔ NGÃ (Anatta) là kết quả tất yếu của tình trạng MẤT THĂNG BẰNG một cách liên tục trong “dục giới”, “sắc giới” và “vô sắc giới” (đã mô tả trong bài trước). Nhưng khi TÍNH THĂNG BẰNG, được tái lập (tức là chân giác ngộ), thì “TAM PHÁP ẤN” (Ti-maṇorañja) sẽ trở thành VÔ HIỆU và phải KHÁC vĩnh viễn, hay GIẢI THOÁT hoàn toàn (Nibbāna). -Đó là phẩm cách của Thánh nhân, như câu nói minh triết : “Tâm bất biến trong dòng đời vạn biến”, nghĩa là hết khổ não, không còn chấp ngã, DỨTBIẾN ! Và “bộ máy LUÂN HỒI” (Saṃsāra) cũng tự động ngừng lại.

*Ngày nào sự BẤT THĂNG BẰNG trong TAM GIỚI còn tiếp diễn, thì ngày ấyTAM PHÁP ẤN còn kích thích TÍNH GIÁC NGỘ một cách “bàng bạc”, trong THÂN TÂM phàm nhân hướng thiện, hữu duyên được soi sáng. Lý do…vì PHÁP VÔ THƯỜNG làm cho “thực tại không ngừng biến đổi”, -tức là “không có gì tuyệt đối thuận hay tuyệt đối nghịch”, và “không có gì thực sự vĩnh viễn hay thực sự tạm thời” trong bộ máy tuần hoàn, sinh tử luân hồi (saṃsāra).

-Và chính ở ĐIỂM QUI NẠP nầy, chúng ta mới thấy lộ ra “mặt trái” (hay nguồn gốc) của SINH TỬ ĐỒ (Saṃsāra), là sự MẤT THĂNG BẰNG.

<>Điều ĐÁNG TIẾC, là xưa nay, “TAM PHÁP ẤN” đã được diễn giảng một cách phản trí tuệ, NGHỊCH CHIỀU KHOA HỌC(avijjā), đầy “lý lẽ bi quan” (do si mê), -nếu không muốn nói là chỉ có tác dụng hăm dọa tâm thức, trước một cuộc sống đầy phức tạp, cần đến tinh thần can đãm và TÍCH CỰC. Tình trạng đó đã làm cho người đời trở thành bạc nhược, sợ sệt, …thường xuyên cảm thấy mình “bất lực” yếu kém và muốn buông xuôi, “thù ghét thực tại”, đồng thời che dấu lòng tham vì BẢN NGÃ một cách mù mờ, và không ngừng đề cao ảo kiến…là “SUY TƯ THOÁT TỤC”, như cái “phao cứu rỗi”, hướng đến cứu cánh ngoài tầm tay, theo khả năng tưởng tượng, không cần đến TỰ LỰC trong cuộc sống.   

Tệ hơn nữa là những “kẻ chán đời” ấy, thường lấy “đạo Phật” ra làm “nguồn giáo lý”, xác nhận VÔ THƯỜNG, KHỔ NÃO, và VÔ NGÃ là “3 tiếng chuông cảnh tỉnh”, thúc giục con người sớm xa lánh cuộc đời”. -Nhưng “xa lánh cuộc đời bằng cách nào, nếu THỰC TẠI ta đang sốngtrên thế gian nầy (?), vàsau khi làm như thế…thì kết quả sẽ ra sao, và đưa ta về đâu ?”.

-Khi câu hỏi nầy được đặt ra, thì…đa số người chán đời thường mơ màng trả lời rằng “xuống tóc đi tu”, hay “trở thành bụi đời” ! (?)

<>“Trở thành bụi đời” thì quá tệ, không có gì đáng nói. Nhưng nếu “xuống tóc đi tu”, dù ẩn thân trong rừng sâu núi cao chăng nữa”, đương sự VẪN “phải sống trên thế gian”. Và hành động đi tu đó, càng đòi hỏi một NGHỊ LỰC thích ứng trước THỰC TẠI, một cách sắc đá hơn nhiều, chứ “không giản dị” như lời nói suông. -Vì sao ? -Vì một tu sĩ Phật giáo vẫn không tránh khỏi 2 phận sự, là “đối với chính mình”, và “đối với đời” (!). -Một tu sĩ Phật giáo làm sao có thể ở ngoài duyên hệ nhân sinh, sống mà không LIÊN QUAN đến tín đồ, trong cái “NGHĨA ĐẸP” là hộ trì lẫn tương tác (?). Và mặc định, họ phải thực hiện đức hạnh xứng đáng đối với LÒNG TIN của bổn đạo !

-Tất nhiên là….ngoại trừ “một số phần tử xấu” xem “đi tu” là một “cơ hội tiến thân”, hay một “mánh khóe kinh doanh” “vốn ít mà lời nhiều”, thì quả thật là đạo Phật đang gặp cảnh suy vong, “tấm gương sáng mà đức Phật để lại cho người sau soi mình, để tiến hóa đã bị phủ bụi, lạm dụng…” ! -Trường hợp nầy, thì “đi tu” là cố ý PHÁ HOẠI đạo Phật….BÔI NHỌ “khoa học sống lành mạnh !”.

<>Quay lại “TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ” được thuyết minh trong nhà Phật, Nếu cách nay nhiều thế kỷ, các khoa học gia tiền phong, khi đối diện với những khó khăn trong cuộc sống trên mặt đất, mà đọc sách TAM PHÁP ẤN” (vô thường, khổ não và vô ngã) rồi trở thành bi quan, ủy mị như thế, thì ngày nay chúng ta đã không có cuộc sống tiến bộ tối tân.

-Nếu TRÍ THÔNG MINH của con người chỉ để xem đời là phù du, cõi tạm…thì các nhà khoa học đã không thể kiên nhẫn “tập trung năng lượng tri thức”, sáng tạo…tô điểm cuộc sống một cách tích cực.  Đạo Phật vốn là tôn giáo đề cao TRÍ THÔNG MINH. -Rõ ràng là giáo lý nhà Phật về TAM PHÁP ẤN đã bị hiểu lầm, diễn giải méo mó !

***

-Vậy thực sự “TAM PHÁP ẤN” (là vô thường, khổ não, và vô ngã) theo nhà Phật, khi đối chiếu với KHOA HỌC…thì như thế nào ? -Xin nhắc lại một lần nữa rằng :

<>VÔ THƯỜNG (Aniccā) là một THỰC TRẠNG (của sự thay đổi không ngừng trong cõi ĐỘNG), phải được xác nhận, do tâm thức lành mạnh, do biết sống tích cực, do tinh thần hội tụ, trong sángvà do giác ngộ (sampajañña), chứ không phải do sợ khổ bỏ cuộc. VÔ THƯỜNG là giáo lý minh triết, cần được xem như một “hệ luận khoa học” (corollaire scientifique), và trên hết là một chân lý góp phần vào SỰ TIẾN HÓA, chứ không phải là một huyền năng ĐE DỌA tâm lý con người!

-Nếu không có VÔ THƯỜNG, vạn vật sẽ “nguyên trạng” (chẳng bao giờ thay đổi) thì quả đất nầy sẽ ra sao ?! -Chúng ta thử tưởng tượng “một đứa bé sau khi sinh ra, cứ tiếp tục như một hài nhi mãi mãi” thì ấy là một điều “đáng mừng” hay đáng sợ ? -Như vậy, những tư tưởng hoang đường, như “trường sinh, bất lão bất tử” nơi tư duy con người, trên thế gian nầy…chỉ là một ẢO TƯỞNG do lòng THAM, sản phẩm của vô minh, phản khoa học* !

Ba chữ “phản khoa học”* có “dấu sao” ở đây cũng ám chỉ “phản trí tuệ!

*Trong khoa học, “CHUYỂN ĐỘNG HÌNH THỨC” (thấy được) là vật lý (physique), và “CHUYỂN ĐỘNG NỘI DUNG” (không thấy được) là hóa học (chimie). Hai tình trạng thay đổi vị trí (vật lý), và biến hóa tố chất (hóa học) là 2 điều CẦN THIẾT cho sự SỐNG, chứ không phải là “2 tình trạng đe dọa”. -Sau khi sinh thì PHẢI lão, bệnh, tử là một tiến trình tự nhiên của thế giới VỌNG ĐỘNG. Đó là một điều KHÔNG TRÁNH ĐƯỢC, người phản đối SƯ THẬT nầy là tự mình làm khổ !

*Từ đó suy ra, trong TUYỆT TĨNH thì không có vô thường. Và những ai chưa TOÀN GIÁC, chưa tận trừ THAM SÂN SI, thì không thể biết được TUYỆT TĨNH hay NIẾT-BÀN là gì. Và khi đạt đến TUYỆT TĨNH, Bậc Toàn Giác biết rõ rằng, NIẾT-BÀN không phải là ĐOẠN DIỆT, vạn pháp VẪN NGUYÊN VẸN, không hợp không tan !

<>Đọc sách KHOA HỌC về vũ trụ, có một số tài liệu nói đến KHÔNG GIAN (espace) và THỜI GIAN (temps). Chúng ta dùng KHÁI NIỆM để “tạm hiểu” rằng, KHÔNG GIAN là “khoảng trống”, và THỜI GIAN là “chiều dài tâm thức” để chúng ta “sống” hay “vận chuyển” trong cái “KHÔNG GIAN” ấy. Nhưng xuyên qua “tinh thần” (=cảm quan thứ sáu), chúng ta cũng không thể BIẾT CHẮC “khoảng trống”, và “chiều dài tâm thức” như thế nào ?(!)

-Theo “BÁT-NHÔ (Prajña) trong nhà Phật, thì Bậc Toàn Giác (Sammāsambuddha) “thấy” CÁI “bản thể” mất thăng bằng, –nhận ra KHÔNG GIAN và THỜI GIAN chẳng là gì cả (“sắc tức thị không”). -ẤY vốn đến từ tính bất thăng bằngxung động toàn diện, mà KHOA HỌC KHÔNG GIAN gọi là NỔ LỚN (Big-bang). -Hễ có BẤT THĂNG BẰNG và có XUNG ĐỘNG TOÀN DIỆN, thì phải có TÌNH TRẠNG thuận nghịch lôi kéo nhau, trong vô số chiều…chồng chất, huân tập…(tương đương với “TẠO TẬP KHÍ”). -Trường hợp “thuận nghịch chồng chất”, diễn ra trong “dòng điện tâm” của con người, thì nhà Phật gọi là “KHỔ NÃO” (Upakkilesa dukkha), -sẽ bàn đến trong đoạn sau !

-Vì kết quả của NỔ LỚN là “vũ trụ thành hình”…nên KHÔNG GIAN và THỜI GIAN (Espace & temps) chỉ là “2 nguyên tắc” để duy trì VŨ TRỤ. Và 2 NGUYÊN TẮC nầy vốn đến từ bản thể thay đổi, nên NÓ chính là “bộ máy biến hóa”, nguồn gốc của VÔ THƯỜNG (Aniccā), hay nguyên nhân của XUNG ĐỘNG trong vũ trụ, khiến cho những gì thành hình về sau, như vô số TINH TÚ, có thể tự động phát ra ánh sáng, tạo sức hút và vùng từ trường. THÁI DƯƠNG HỆ của chúng ta là “một đơn vị tinh tú” cũng có sức húttừ trường, nên “giữ được” những hành tinh di chuyển xung quanh nó, trong một KHÔNG GIAN và THỜI GIAN vô tận…!

***

<>KHỔ NÃO (Dukkha) là “bẩm tính chịu đựng” trong thân tâm động vật nói chung, nhất là sau khi đã sinh làm người, một sinh linh hữu tình (tham sân si) nói tiêng. KHỔ NÃO bao gồm 2 mặt đối nghịch, là VỪA LÒNG (Mānāpa=vui) và BẤT MÃN (Amānāpa=buồn). -“VỪA LÒNG” thì cảm thấy “khinh an”. “BẤT MÃN” thì cảm thấy “trì trệ”. Cả 2 trạng thái “KHINH AN” và “TRÌ TRỆ”, đều có một ác tậtlôi kéo lẫn nhau, làm cho mạng căn (Jīviṅdriya=bhavaṅga) MẤT THĂNG BẰNG, và kiếp sống chuyên chở vô số VUI BUỒN xen kẻ. -Từ đó, sự THÁI QUÁ của bất cứ bên nào (VUI hay BUỒN) cũng làm cho NĂNG LƯỢNG SỐNG rối loạn, rất khó “điều chỉnh” bằng hưởng thụ vật chất ! -Và muốn chấm dứt tình trạng rối loạn hay tái lập an vui THÂN TÂM, thì không còn cách nào hơn, là phải nhờThiền Pháp Phật giáo” (Bhāvanā), để “kết hợp” khoa học vật chất với khoa học tâm linh, mà dẹp bỏ TẤT CẢ cố chấp duy vật lẫn si mê duy tâm (=mê tín).   

-Ngày nay, có một “dạng trầm tĩnh” của THIỀN PHÁP là “sự chăm chú”, đã được “thu hoạch” và nói đến trong “Y khoa tâm lý”, tỏ ra rất hữu dụng đối với việc giảm bớt khủng hoảng tinh thần một cách tạm thời. -Nhưng muốn đạt đến trình độ CỨU CÁNHquân bình thân tâm lâu dài, thì nhà Phật đã cống hiến cho chúng ta một công phu gọi là THANH TỊNH TRI KIẾN (Diṭṭhivisuddhi pāramī), -phẩm cách tuyệt vời của BÁT-NHÃ (Prajña). -Nhưng đó là một đề tài khác, không thể choán nhiều chỗ ở đây….để tránh lạc xa đề tài chính !

(Bài sau, chúng tôi sẽ hầu chuyện cùng quí vị về THIỀN HỌC Phật giáo, trong phạm vi nghiên cứu, hiểu biết và trải nghiệm của chúng tôi).

Theo nhà Phật, KHỔ NÃO (upakkilesa dukkha) có “2 VẬT LIỆU (hetu) là :

1/Có THÂN hữu tình hiện tại. Và 2/TÂM còn chứa tham sân si.

<>Khổ não sinh ra từ VẬT LIỆU thứ nhất thân hữu hình (thuộc về sắc thô) sẽ chấm dứt khi chết. Nhưng khổ não do VẬT LIỆU thứ hai tâm chứa tham sân si (thuộc về sắc tế), sẽ tiếp tục sau khi tắt thở…và vận hành xuyên qua vố số kiếp luân hồi. -Vì “tâm thức kiếp sau” chính là HỖN HỢP từ những “khổ não của kiếp trước, đã đồng hóa với hậu quả của những NGHIỆP đã làm”. NÓ không còn là tâm thức của kiếp xưa nữa”.

*Đây là lý do “Phật giáo phủ nhận một linh hồn bất diệt, thường hằng”. -Tức là “không có một linh hồn duy nhất xuyên qua mọi kiếp sống”, -mà sau khi “tái sinh” TRI THỨC hiện tại (hay tâm quả) chỉ là “kết cấu” của những NGHIỆP SỐNG kiếp trước. Nó không đồng nhất với bất cứ tâm thức nào trong các kiếp quá khứ. Tâm thức của kiếp nầytâm thức của kiếp khác KHÔNG PHẢI là “hai”, mà cũng KHÔNG PHẢI là “một”. -Ngôn ngữ “Pāḷī” thời Đức Phật gọi là “NA CA SO NA CA AÑÑO”.

*Một người phàm thì tâm thức luôn luôn bám chặc vào những khung cảnh sống hiện tại và đã qua, trong 3 cõi DỤC GIỚI (Kāmaloka), SẮC GIỚI (Rūpaloka), và VÔ SẮC GIỚI (Arūpaloka), nhất là vào giây phút hấp hối. Lúc ấy phàm nhân chỉ còn “TÂM CẢNH”, chứ các “cảnh khác” xuyên qua 5 giác quan (đã tê liệt) không còn nữa. -Và tình trạng KHỔ NÃO của TÂM THỨC (Cittaviññāna) trong kiếp chót, bị chồng chất bỡi ‘thuận ý và nghịch ý” thuộc 3 cõi ấy, nặng hay nhẹ không giống nhau. Chúng thay đổi tùy theo “tâm quả” (Vipākacitta) của mỗi sinh linh.

*Nghĩa là tinh thần trong mỗi kiếp sống càng thanh cao, thì KHỔ NÃO càng ÍT ĐƯỢC “bồi dưỡng” bỡi vật chất (thô cũng như tế). Và nếu tâm thức mỗi ngày một trở nên trong sạch, thì sau cùng chỉ còn “phiền não vi tế” trong mỗi chúng sanh ở các CÕI CAO (sắc giớivô sắc giới). Phật học gọi đó là “lậu hoặc nhẹ” (Ᾱsava), hay “vô minh căn” (Avijjiṅdriya), thuộc về DANH PHÁP (Nāmadhammā).

*Muốn “tẩy sạch” PHIỀN NÃO VI TẾ hay “lậu hoặc nhẹ” trong tâm thức, Đức Phật khuyến khích chúng ta nên thực hiện CÔNG PHU PHẠM HẠNH một cách khoa học, là TU ĐỊNH (Samādhi), TU TUỆ (Paññā), và tu TRI KIẾN (Diṭṭhi)…để sau cùng chấm dứt VÔ MINH, và viên tròn Ba-la-mật Bát-nhã (Paññapāramitā=Trí độ giải thoát). Chính Ba-la-mật Bát-nhã nầy sẽ TRIỆT TIÊU mọi vướng mắc (thô cũng như tế) trong tam giới, nhất là ở cõi VÔ SẮC (Arūpaloka), để trở thành toàn giác, chứng đắc NIẾT-BÀN !

<>Ngoài ra, chúng ta vẫn thường nghe nói đến một cái tên khá “huyền bí” là “TỬ SINH ĐỒ” (Saṃsāra), hay “mê hồn đạo. Và chúng ta cũng không thấy kinh sách nào nói rõ “nguồn gốc” của “TỬ SINH ĐỒ” phát xuất từ đâu. Nhưng xuyên qua nghiên cứu VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), chúng tôi nhận thấy, TỬ SINH ĐỒ có thể bắt nguồn từ sự MẤT THĂNG BẰNG trong tâm trường của mỗi chúng sinh thuộc TAM GIỚI (Tiloka), nhất là DỤC GIỚI.

*Còn theo Khoa học vật lý, thì sự lôi kéo…quay quanh một trục, chỉ xảy ra…khi có tình trạng CHÊNH LỆCHgiữa 2 cực đối với 1 điểm nằm giữa. –SỰ CHÊNH LỆCH hay MẤT THĂNG BẰNG ấy phát sinh do sức hút của quả đất, tương quan với một hay nhiều VẬT, hiện diện trên mình NÓ (=trọng lực). -Như vậy, “tử sinh đồ không gì khác hơn là bảng vẽ, mô tả vận hành tự nhiên của cõi ĐỘNG” (bất thăng bằng), chứ nó không do một “quyền năng nào” tạo ra cả.

*Nói theo giáo lý nhà Phật, thì sư MẤT THĂNG BẰNG đến từ 2 phẩm cách nghịchthuận, hay hài lòngbất mãn…-Tức là sư MẤT THĂNG BẰNG đến từ THIỆN và ÁC giao thoa trong TÂM THỨC…tạo động lực xoay vòng (=LUÂN HỒI). Và tính TƯƠNG ĐỐI trong vạn pháp cõi phàm, hằng làm cho không có bên nào (thuận cũng như nghịch, thương cũng như ghét), chiếm ƯU THẾ mãi mãi, nên các vòng TỬ SINH (Jāti jarāmaraṇa) cứ thế…quay tròn liên tục, từ kiếp nầy đến kiếp khác, hết thăng đến đọa, hết đọa đến thăng…một cách vô tận.

***

<>Sau cùng…VÔ NGÃ (Anatta) là cái “cái TA vốn không có bản vị”. Với tinh thần khoa học, VÔ NGÃ là một điều TỰ NHIÊN (naturel) và rất HỢP LÝ (logique). -Dù cho lòng THAM không cho phép ai chấp nhận sự hiện diện của mình là con số “KHÔNG”. Nhưng TRÍ KHÔN vẫn giúp cho mỗi cá nhân biết rằng, khi đã trải qua cuộc sống, mọi người đều trở thành già nua, bệnh hoạn, không có ngoại lệ, và cuối cùng THÂN TÂM nầy chỉ là một “KHỐI BẤT LỰC”, chắc chắn sẽ tan rã, biến mất. Hiện tượng đó đủ chứng minh sự VÔ NGÃ (=hoàn không).

*Và “TRÍ KHÔN” ấy nếu được phát triển bằng PHÁP THANH TỊNH thì nó sẽ trở thành “chiều sâu tri kiến” về VÔ NGÃ, xác nhận “trước sau gì một người đã trải qua sự sống, cũng biết như thế”. Nhưng trong giai đoạn bắt đầu sự “VĂN MIINH” (Civilisation=sống chung), con người cần “óc sáng tạo, đối đãi, phân biệt”, để “sống hài hòa”, nên cộng đồng phải tuân theo những qui ước hay “bản vị xưng hô”, như “tôi”, “anh”, “nó”, “cấp bâc”, “phẩm giá”…được đặt ra, để tránh lẫn lộn…hầu thành lập xã hội có tổ chức…

*Nghĩa là cái TÔI (tương đương với NGÃ) đã “mặc định phát sinh”, kể từ khi con người “biết sống chung” (civilisé), và tiếp tục VĂN MINH. Như vậy, cái NGà vốn do TRÍ KHÔN mà có. -Cảm giác “TÔI là một đơn vị trong xã hội cùng ANH sống chung với người THỨ BA” tự nó không phải là “cái gì xấu”. -Nhưng vì lòng THAM, “tôi trở thành vô minh làm điều xấu” thì cái tôi tham mới xấu, chứ không phải danh xưng. Và khi “tôi sáng suốt làm điều tốt”, nhất là “ý thức trách nhiệm của mình trong mọi hành động”, thì “tôi” ấy là tốt, là “hiệu lực của văn minh”, hay “sản phẩm của khoa học” ! -Nghĩa là cần phải “xử dụng cái tôi một cách lợi tha” hay “xử dụng cái tôi một cách hữu ích” (cho mình và cho người, VÔ HẠI), thì đó chính là ngụ ý của “VÔ NGÔ trong “TAM PHÁP ẤN”, được kinh Phật nói đến. -Nhưng tư tưởng “VÔ NGÔ của những người bi quan, chán đời vốn chỉ là “vô ngã ích kỷ”… thì rất lầm lạc, không liên quan gì đến đạo Phật.

<>Ngoài ra, có một loại ÍCH KỶ khác (=chạy trốn khó khăn, do tật tham an nhàn thúc đẩy), ngụy trang dưới dạng “tư duy thoát tục”, chủ trương rằng “VÔ NGÔ là “không cố gắng để trở thành cái gì hết”. -Nhân đây, chúng tôi xin nhắc lại câu nói của một nhà soạn kịch nổi tiếng người Anh, tên William Shakespeare (thế kỷ 16), đã từng viết :“To be or not to be, that’s the problem”. -Tạm dịch “LÀ GÌ hay KHÔNGLÀ GÌ, đó chính là VẤN ĐỀ !”(?).

-Câu nói nầy vốn “ngụ ý riêng”, có thể xem tương đương với lời khuyên của nhà Phật, là “đừng vướng mắc vai trò, danh vị” (=thoát cố chấp). Nhưng người ta đã khai thác “tính đa nghĩa” của nó, để diễn tả một cách “đề cao” tư tưởng không phải làm gì hết”, một dạng buông xuôi. -Lời ông William Shakespeare đã từng nói, thì lập lại “Ý ẤY” không phải là điều mới !

*Theo Phật học, nhất là căn cứ trên “2 nhóm diệu pháp”, NGŨ CĂN (Pañciṅdriya) và NGŨ LỰC (Pañcabāla), thuộc “37 phẩm giác ngộ” (Bodhipakkhiya dhammā), thì tư tưởngcần an, buông xuôi” nói trên, có thể đến từ SỰ MẤT THĂNG BẰNG bỡi “5 công phu tu tập”, là 1/tín, 2/tấn, 3/NIỆM, 4/định, và 5/tuê. -Kinh THANH TỊNH ĐẠO chỉ rõ “nếu “4 công phu”, tín căn, tấn căn, định căn, và tuệ căn hay tín lực, tấn lực, định lực, và tuệ lực…mà chiếm ƯU THẾ (Aḍhipati), thì sự MẤT THĂNG BẰNG sẽ xảy ra. -Nhưng đặc biệt khi NIỆM CĂN hay NIỆM LỰC mà trở thành ƯU THẾ, thì “4 tuyệt công còn lại” (tín, tấn, định, tuệ) sẽ tự nhiên THĂNG BẰNG, một cách tiến hóa. -Đó là DIỆU DỤNG của BÁT-NHÃ (Prajña=tuệ kim cương).

-Do đó, niệm căn (saṭi-iṅdriya) và niêm lực (saṭi-bāla) là cặp “song tuyệtcần thiết nhất, -gọi chung là CHÁNH NIỆM (Sammā-saṭi). -Sự Liên quan của nó như sau, niệm cănnhân, và niệm lựcquả, trong “bộ song ngũ”, gồm 1/tín căn, 2/tấn căn, 3/NIỆM căn, 4/định căn, 5/tuệ căn, và 1/tín lực, 2/tấn lực, 3/NIỆM lực, 4/định lực, và 5/tuệ lực. -Quan sát chúng ta thấy “NIỆM” nằm ở vị trí số 3, cân bằng giữa 1-2 và 3-4. -Ở đây, CĂN (Iṅdriya) và LỰC (Bala) có thể ví như 2 mặt của một đồng tiền. Hễ có cái nầy thì phải có cái kia, không thể tách rời !

*Mặt khác, cũng xin chớ nhầm “VÔ NGÔ do tư tưởng “không cố gắng để mình trở thành cái gì hết”, với “sự ám chỉ” một “loại chúng sanh vô tưởng” (Asaññasatta), được đề cập trong VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma). -Đây là một loại “sinh linh đặc biệt”, mà khuôn khổ bài 6 nầy không cho phép trình bày dài dòng. Chúng tôi chỉ xin giới thiệu và “lưu ý” mà thôi, nếu bàn sâu thì sẽ làm loãng đề tài chính.

Còn nói về “sinh hoạt thần kinh” theo Y KHOA, thì “buông xuôi” TRI THỨC, là vô tình nuôi dưỡng “mầm mất trí nhớ”, hổ trợ cho sự phát sinh BỆNH QUÊN, nhất là khi về già. -Nếu một “NGƯỜI VÔ NGÔ đang sống, mà chẳng cố gắng để trở thành cái gì hết, thì họ sẽ bất cần biếtmình là ai”, bất cần biếtmình tên gì”, bất cần biếtmình ở đâu”…v…v….(kể cả ra đường không cần biết lối về), tập khí ấy sẽ có hại cho não bộ và sự sống bình thường !

*Trường hợp một người đang sống lành mạnhtin tưởng rằng, “THÂN TÂM” nầy (=xác thịt và quả tim) là một “hợp thể có ĐIỆN TRƯỜNG kỳ diệu” (tương đương với tinh thần). “Hợp thể” ấy phải có một “năng lực thiêng liêng, tích cực” để duy trì tính SINH HOẠT tiến hóa. -Và khi thân tâm TAN RÃ, năng lượng thiêng liêng kia sẽ không mất. “NÓ” có thể tùy duyên tùy nghiệp, mà “tái xuất hiện” một cách hợp lý, vào vận hành LUÂN HỒI trong các CÕI SỐNG, dưới dạng khác…thì đó cũng là một phương diện của “khoa học tâm linh”, phát sinh  từ TRÍ TUỆ (Ñāna). -Kiến thức về phương diện “LUÂN HỒI” (vô hình) nầy vốn “ăn khớp” với LUẬT NGHIỆP QUẢ (Kamma-vipāka niyama) trong nhà Phật.

*Nhắc lại “định nghĩa qui ước” rằng, “VÔ NGÃ (Anatta) là cái TÔI không có bản vị”. -Chúng ta thử bình tâm suy xét, rằng vào tuổi già khi thân thể bắt đầu bệnh hoạn, -một cách không tránh khỏi (!) để cuối cùng phải chết…thì ai là người có thể phủ nhận tính thực tế chứng nghiệm của sự thật HOÀN KHÔNG ấy ở cuối đời ?! -Cần gì phải “học Phật” mới biết ! Vì sau đó, mỗi “cá nhân” chỉ được “tượng trưng” bằng một nấm mồ, hay một bình tro màu xám, chẳng có BẢN VỊ gì cả. -Nếu thân nhân hay những ai khác ca ngợi, và tạc tượng trân trọng đến đâu, -thì theo đạo Phật, đó chỉ là MỘT DẠNG lòng tham của những người còn sống. -Nghĩa là “cái được gọi là TÔI (hay NGÃ), chỉ hiện hữu từ khi chào đời cho đến khi tắt thở” !

<>Nhưng theo “khoa học tâm linh”, thì những “ấn tượng” hay “sóng điện” của mọi hành động (tốt hay xấu), lúc còn sống của một người, hằng lưu lại trong đại môi trường SINH HOẠT, -đạo Phật gọi toàn bộ những “ấn tượng” hay “sóng điện” ấy, là cảnh giới NGHIỆP QUẢ (Kammavipākaloka). -Tại sao ? -Vì “đại môi trường SINH HOẠT” và cảnh giới NGHIỆP QUẢ  vốn “đồng tánh”, nói theo KHOA HỌC LÝ HÓA. Ấy gọi chung là MÔI TRƯỜNG ĐỘNG (Saṅkhārābhūmi), luôn luôn “lưu trử” ấn tượng, sóng điệnlượng tử….xuyên qua thời gian và không gian, tương đương với NGHIỆP QUẢ trong Phật giáo.

*Đến đây, vấn đề được đặt ra với KHOA HỌC THÂN TÂM (Pañcakhandha VIJJᾹ), liên quan đến hỗn hợp một thời của thể xáctinh thần…từng sống rồi chết, và đã hoàn toàn TAN RÃ, là “kiếp trước kết thúc bằng KHÔNG, và sau đó bắt đầu bằng CÓ, nếu ấy là sự thật thì “vận hành chuyển hóa” như thế nào, để cho mắt thịt dù chẳng nhìn thấy cụ thể, cũng có thể dùng “mắt tâm”(trí tuệ) nắm bắt được một cách hợp lý !?”

<>Xin thưa, đây là hiệu lực của VẬT LÝ (physique), “phản động vì có động” (action ré-action) trong KHOA HỌC NGÀY NAY, hay hiệu lực của “trách nhiệm do tri thức” (vipākacitta)) trong “Giáo lý Nghiệp Quả” thuyết minh bỡi Đức Phật.Hai nhóm từ “PHẢN ĐỘNG VÌ CÓ ĐỘNG”hay “TRÁCH NHIỆP DO TRI THỨC” vốnlà 2 phương diện LÝ và HÓA rất khoa học. Nó đại diện cho các châm ngôn đầy minh triết hay cho lý lẽ của TRÍ THANH TỊNH (=Bát-nhã), hằng có mặt, nơi tư tưởng của các khoa học gia, trong và ngoài đạo Phật.

*Hơn nữa, hai chữ “VÔ NGÔ (Anatta) mà chúng ta đề cập hôm nay, đã đến từ bài pháp thứ hai của đức Phật (Dutiya Buddhadesanā), sau khi Ngài đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Sammāsambuddha) cạnh gốc cây Bồ-đề (Bodhirukkha), Bodhigaya Ấn-độ ngày xưa.

Bài PHÁP thứ II ấy, gọi tên đầy đủ là “VÔ NGÃ TƯỚNG KINH” (Anattalakkhaṇasutta).

<>“VÔ NGÔ ở đây ám chỉ sự qui nạpTÍNH VÔ BẢN VỊ” nơi thân tâm (hay ngũ uẩn=pañcakhandha) con người, do kết hợp mà thành. Trong tiếng Pāḷī, đức Phật đã nhấn mạnh, “KHÔNG CÓ NGà trong ngũ uẩn”, hoặc đúng hơn “ngũ uẩn CHẲNG PHẢI LÀ NGÔ (=Anatta). -Nghĩa là, NGŨ UẨN chỉ là NĂM PHỐI HỢP (hay “5 tập khí”, hoặc “5 tập ấm” (khandha), có thể mệnh danh một cách khác, là “KHO CHỨA, gồm “5 khối” như sau :

1/Khối thứ I, THÂN THỂ hay “sắc uẩn” (rūpakhandha), chứa tứ đại cấu hợp (thô cũng như tế), ám chỉ toàn bộ vật chất “đã bị nhiễm tam tật” (tham sân si) từ quá khứ.

 2/Khối thứ II, CẢM GIÁC hay “thọ uẩn”(vedanākhandha), chứa tất cả cảm tính (thanh cũng như trược, thiện cũng như ác), ám chỉ toàn bộ thất tình lục dục, lưu lai từ vô thủy quá khứ.

3/Khối thứ III, GHI NHỚ hay “tưởng uẩn” (saññākhandha), chứa tất cả ấn tượng (thanh cao cũng như thấp hèn, lành cũng như dữ, thuận cũng như nghịch), chồng chất từ quá khứ đến hiện tại, tức là toàn bộ ký ức.

4/Khối thứ IV, VẬN DỤNG hay “hành uẩn” (saṅkhārākhandha), chứa những “tiềm lực chuyển động” VẬT LÝ và TÂM LÝ (cụ thể cũng như trừu tượng, bộc lộ cũng như ngấm ngầm, mạnh cũng như yếu), đã “thuần thục” hay “còn vụng về”, từ vô thủy quá khứ.

5/Khối thứ V,  HIỂU BIẾT hay “thức uẩn” (viññānakhandha), chứa “toàn bộ kiến thức” (trong sáng cũng như mù mờ, thăng bằng cũng như chênh lệch, khai phóng cũng như đóng khung, khai thông cũng như bế tắc), được tổng hợp…phản chiếu xuyên qua tất cả chu kỳ sinh diệt.

<>Và chỉ trong CÁI KHUNG của toàn bộ DANH SẮC (Nāmarūpakhandha) hay THÂN TÂM, cũng gọi là “NGŨ UẨN” (Pañcakkhandha) ấy, xuyên qua bài kinh “VÔ NGÃ TƯỚNG” (Anattalakkhaṇasutta), mà đức Phật đã minh bạch khai thị đệ cho tử và thính giả, bằng cách vấn đáp, xem “trong số 5 uẩn phối hợp thành con người”, có “uẩn nào” hay “nhóm uẩn nào” được con người thật sự “LÀM CHỦ”, có thể “xử dụng như ý muốn” chăng…thì câu trả lời luôn luôn là KHÔNG (Natthi).

 <>Và để soi sáng lý VÔ NGÃ, vấn đề cần đặt ra cho người noi gương Phật, vốn chẳng phải là nhằm “xác nhận” (atthi) hayKHÔNG CÓ (natthi) bản vị (atma), của cái tôi VÔ THƯỜNG, biến hành không ngừng (sabba-sādhārana), -mà là khuyến khích “tháo gỡ” 5 KHỐI TẬP KHÍ hay ngũ uẩn (Pañca-khandhā). -Nói cách khác là làm sao đạt đến TRI THỨC THANH TỊNH (Pariñña), bằng CÔNG PHU tu tập một cách KHOA HỌC, đưa đến TUỆ BÁT-NHÃ (Prajña).

*Đồng thời…giáo pháp “thập độ ba-la-mật” (dasa-pāramī-dhammā) trong nhà Phật cũng chính là kỹ thuật hữu hiệu. (-Mời quí vị đọc thêm kinh “Thập Độ Ba-La-Mật”, nội dung bao gồm Giới Định Tuệ). Theo đó :

=> GIỚI (Sīla) và ĐỊNH (Samādhi) tháo gỡ NGHIỆP (kamma) tạo ra sắc uẩn (rūpa-khandha), thọ uẩn (vedanā-khandha), và tưởng uẩn (sañña-khandha).

=> TUỆ (Prajñā) tháo gỡ NGHIỆP (kamma) tạo ra hành uẩn (saṅkhāra-khandha) và thức uẩn (viññāna-khandha)…để sau cùng THẬP ĐỘ BA-LA-MẬT (paramattha) đưa TÁNH BIẾT (Cittaviññāna) trở về CHÂN TÂM (Yathābhūta).

*Khi đã thực hành đầy đủ công phu ấy, thì một bậc phạm hạnh chắc chắn sẽ không còn thắc mắc về “NGÔ, về “LUÂN HỒI”, về “VŨ TRỤ”, hay thậm chí về “NIẾT-BÀN” nữa. -Nhưng Ngài cũng KHÔNG trở thành “DUY VẬT” (=đoạn kiến) !

-Trong bài kinh VÔ NGÃ TƯỚNG, Đức Phật đã thanh tịnh qui nạp rằng “Nếu từ 1 đến 5 uẩn là TA hay là CỦA TA, thì con người có thể sai khiến nó như ý muốn, nhưng nếu con người không thể xử dụng được khi cần thiết, hay bất lực trước thực tại, thì con người chẳng những đã KHÔNG LÀM CHỦ ngũ uẩn, mà ngược lại còn bị nó gây khổ”.

-Vì sao ? -Vì theo lời Phật, NGŨ UẨN (Pañca-khandha) do nhân duyên TỨ ĐẠI kết hợp mà thành. Và cái gì do tứ đại KẾT HỢP thì dù chúng có HÌNH TƯỚNG hay VÔ HÌNH TƯỚNG, chúng luôn luôn VÔ DỤNG, bất thường, và là nguồn gốc của khổ não, -nhất là khi thân tâm yếu đi, không đủ mạnh như trước (hết duyên)…thì ngũ uẩn tự suy sụp, TAN RÃ.

<>Theo Phật học thì…TỨ ĐẠI thô (=nặng) hay tế (=nhẹ), chỉ có trong 2 cõi luân hồi là DỤC GIỚI (Kāmabhūmi) và SẮC GIỚI (Rūpabhūmi). -TỨ ĐẠI (Catu mahādhātu) nầy, ám chỉ “4 nguyên tố” (dhatu) có tên qui ước, tạm gọi là “ĐỊA” hay ĐẤT (Paṭhavī), “THỦY” hay NƯỚC (Ᾱpo), “HỎA” hay LỬA (Tejo), và “KHÍ” hay phong, gió (Vāyo).

-Xem ra kinh VÔ NGà TƯỚNG là một thông điệp về phàm nhân (tâm chứa đầy tham sân si), mà đức Phật để lại cho chúng ta đến ngày hôm nay rất rõ ràng, rằng “trong NGŨ UẨN không có NGÔ hay nói cách khác “NGŨ UẨN chẳng phải là NGÔ.

-Còn câu hỏi “tò mò” xa hơn rằng, “Ngoài cái KHUNG “NGŨ UẨN ra, đức Phật có “nói gì về NGÃ trong các trường hợp khác chăng (!)” thì chưa nhà Phật học nào tìm ra tài liệu. Nhưng chúng tôi không dám chỉ dựa vào kinh “VÔ NGÃ TƯỚNG KINH”, mà KẾT LUẬN TOÀN DIỆN rằng, “Phật giáo chủ trương vô ngã, phủ nhận linh hồn”.

-Dù cho kinh Pāḷī của Phật Giáo Nguyên Thủy không dùng từ ngữ “linh hồn”, mà chỉ tạm dùng 2 chữ “tâm thức” (cittaviñāna) hay “tinh thần” (maṇo), thì cũng không có nghĩa là đạo Phật “phủ nhận phần tâm linh” (=siêu nhiên) trong mỗi con người. -Vì sao ? -Vì coi chừng…sự kết luận “VÔ NGÃ TOÀN DIỆN” có thể đưa chúng ta rơi vào đoạn kiến !

-Hãy nhớ thêm NỘI DUNG bài pháp thứ ba (Tatiya Buddhadesanā) của Đức Phật, tên là KINH PHẠM VÕNG (Brahmajalasutta). Trong bài pháp nầy, đức Phật đã nêu ra “62 TÀ KIẾN” (Micchādiṭṭhi), theo đó tư tưởng nào cho rằng “CHẾT LÀ HẾT”hay “tử giả biệt luận” thì được xếp vào hạng “đoạn diệt” (Ucchedavāda), hay “VÔ TRÍ PHÁP” (Adhammena), một loại TÀ KIẾN rất nguy hiểm cho tâm thức, có thể làm tinh thần bế tắc, thoái hóa và luôn luôn chìm sâu trong VÔ MINH (Avijjā).

<>Đức Phật là Bậc Toàn Tri Diệu Giác (Sammāsambuddha). Khi Ngài thuyết minh “TAM PHÁP ẤN kích thích sự GIÁC NGỘ”, Ngài đã biết trước “người đời sau có thể hiểu lầm 3 pháp ấy, mà trở thành bi quan, mất định hướng”, nên Ngài đã nhiều lần nhắc đến TRÍ THỨC trong mỗi người, như là KIM CHỈ NAM, được xem “tương đương” với CHÁNH KIẾN (Sammādiṭṭhi) và CHÁNH TƯ DUY (Sammāsaṅkappo) trong Bát Chánh Đạo.

-Thậm chí chính “những lời dạy trong kinh sách cho là của Phật”, Ngài cũng khuyên chúng ta đừng nhắm mắt tin mù, mà phải dùng trí tuệ phân xét và kiểm chứng. -Như thế, chúng ta đủ thấy…Đức Phật đã “khuyến khích” trí tuệ như thế nào !

-Chẳng hạn như kinh KᾹLᾹMA (Kālāmasutta), thuyết tại làng Kesaputta (tra cứu theo Aṅguttara Ṇikāya, No. III-65=Tăng-chi Bộ kinh, số III-65), Phật đã nêu ra 10 trường hợp không nên VỘI TIN hay VỘI BỎ, mà phải bình tĩnh suy nghĩ thật kỹ, -rằng khi gặp 1 trong 10 điều sau đây, Phật khuyên chúng ta nên thận trọng :

1/Không tin ngay những gì đã được người khác chấp thuận, và đang được phổ thông,

2/Không tin ngay những gì gọi là tôn giáo, hay truyền thống do người xưa để lại,

3/Không tin ngay những tin đồn, vì nhiều người đã nghe, nhưng chẳng phản đối,

4/Không tin ngay những gì do “kinh sách” ấn định và hướng dẫn,

5/Không tin ngay các giả thuyết, tuy chưa trải nghiệm nhưng xét ra rất hợp lý,

6/Không tin ngay sự xác chứng bề ngoài, dựa theo châm ngôn ngạn ngữ,

7/Không tin ngay những “lời lẽ” của các cá nhân “nổi tiếng”, có nhiều “danh phận”,

8/Không tin ngay những gì mới nhìn qua giống như thực,

9/Không tin ngay những gì đến từ tài năng, quyền lực…của kẻ khác,

10/Không tin ngay những gì thuộc về ý kiến của tôn sư hay của giáo chủ.

<>Tóm lại, TAM PHÁP ẤN kích thích sự GIÁC NGỘ(=vô thường, khổ não, và vô ngã) trong nhà Phật, không phải là một “giáo lý mặc khải” kiểu “tín đồ nghe là phải tin”, với lý do rằng “đó là thiên ý, không ai được thắc mắc !” -Mà một cách khác, “TAM PHÁP ẤN kích thích sự GIÁC NGỘ” trong nhà Phật, là một “công thức minh triết”, vừa thuộc về “KHOA HỌC TÂM LINH”, vừa thuộc về VẬN HÀNH LÝ HÓA trong VĂN MINH HIỆN ĐẠI.

-Khi đã gọi là “công thức minh triết”, thì ý nghĩa sâu sắc của nó có thể bị “hiểu lệch”. Và nếu bị hiểu lầm, thì hiệu lực phục vụ của Phật giáo, đối với nhân loại nói riêng, và đối với chúng sanh trong TAM GIỚI nói chung…sẽ giảm thiểu hiệu quả.

<>Mặt khác, quả thật đáng tiếc…nếu “nội dung” của “Tam Pháp Ấn” là VÔ THƯỜNG (Aniccā), KHỔ NÃO (Upakkilesa dukkha), và VÔ NGÃ (Anatta) trong Phật giáo, không được “giải mã một cách soi sáng”, tương đương với 3 hiện tượng là BIẾN HÓA (transformation), XUNG ĐỘT (implosion) và HOÀN KHÔNG (Vide), như trong khoa học LÝ HÓA…thì Phật học khó có thể soi sáng tư duy con người thời đại, để tái lập THĂNG BẰNG TINH THẦN.

Nghĩa là :

*Khi hiểu biết ĐÚNG về VÔ THƯỜNG (tức có chánh kiến chánh tư duy, đối với“SẮC PHÁP” hữu hình, cũng như “DANH PHÁP” vô hình, -nói theo nhà Phật !)…thì con người sẽ bớt cố chấp vào những thực tại vật chất, như tài sản, sắc đẹp, thân nhân, bà con, địa phương, sông núi….., cũng sẽ bớt cố chấp vào những thực tại tinh thần, như danh dự, quyền lực, phẩm cách, chủ nghĩa, phúc đức, thân phận, thuận nghịch….. -Và họ tự động nghĩ rằng “tất cả những thứ ấy chỉ là vật liệu tạm thời để cộng nghiệp TỐT”, cho đến khi đạt tới GIÁC NGỘ.

*Khi hiểu biết ĐÚNG về KHỔ NÃO (có chánh kiến chánh tư duy, đối với“SẮC PHÁP” hữu hình, cũng như “DANH PHÁP” vô hình, -nói theo nhà Phật !)…thì con người sẽ bớt cố chấp vào những HIỆN TƯỜNG, như sinh, lão, bệnh, tử…thuộc về nội cảnh bản thân, hay bớt cố chấp vào biến hóa của vũ trụ, như thành trụ, hoại, không….thuộc về ngoại cảnh thế gian …. -Và họ tự động nghĩ rằng “những thứ ấy chỉ là vật liệu tạm thời để cộng nghiệp TỐT”, cho đến khi GIÁC NGỘ.

*Khi hiểu biết ĐÚNG về VÔ NGÃ (tức có chánh kiến chánh tư duy, đối với“SẮC PHÁP” hữu hình, cũng như “DANH PHÁP” vô hình, -nói theo nhà Phật !)…thì con người sẽ bớt cố chấp vào những hiện cảnh đa dạng, như còn mất, có không, cao hạ, khổ lạc thuộc về DỤC GIỚI…, -cũng như bớt cố chấp vào những thực tại tư kiến, như sắc không, hữu tưởng, vô tưởng, ly trí, hợp trí….thuộc về SẮC và VÔ SẮC. -Và họ tự động nghĩ rằng “tất cả những thứ ấy chỉ là vật liệu tạm thời để cộng nghiệp TỐT”, cho đến khi đạt tới TOÀN GIÁC.

<>Hơn nữa, theo Phật học, “vô ngã không phải là đoạn kiến”, vì trong TAM TẠNG kinh điển chữ Pāḷī, có một tài liệu quan trọng tên là JᾹTAKA (=Túc Sinh Truyên). Đó là quyển thứ 10 trong Tiểu Bộ Kinh Phật Giáo (Khuddaka Nikāya) thuộc TẠNG KINH (Suttapiṭaka). Sách nầy công bố 447=>450 câu chuyện “tiền thân Phật”, tức là “những kiếp TÁI SINH trong quá khứ để viên tròn hạnh độ đời của Bồ-tát (Bodhisattva)”, trước khi thành Phật (Buddha).

*Sự TÁI SINH là một “vận hành tự nhiên”, có thể nói là “rất khoa học”, khi “dòng điện tâm” (Bhavaṅga) còn chuyên thở “3 năng lượng xấu” (THAM-SÂN-SI), hết điều kiện nương tựa vào thân xác kiệt quệ, lúc suy tàn một kiếp sống, thì “tái hiện” bằng sự sống mới, theo QUẢ của NGHIỆP. -“Dòng điện” ấy thay đổi không ngừng xuyên qua mạch sống trước (purebhavaṅga), và biến thành TỪ TRƯỜNG…hút lấy “đối tượng tương ứng” (vipāka-paccaya), tạo ra “mạch sống sau” (pacchābhavaṅga), để “tái hoạt động”, theo duyên hệ NGHIỆP QUẢ (kammavipāka-paccaya). -TÁI SINH !

-Người ANH MINH (vịjjā) thì hiểu VÔ NGÃ bằng trí tuệ (Prajñā), có CHÁNH KIẾN (Sammādiṭṭhi). Người VÔ MINH (Avijjā) thì hiểu VÔ NGÃ bằng si mê (Moha), có TÀ KIẾN (Micchādiṭṭhi). Và ĐOẠN KIẾN (Ucchedadiṭṭhi) thì nguy hiểm nhất trong các thứ TÀ KIẾN !

<>Nhân loại là một đại tập thể đa văn hóa và bất đồng. Chúng ta rất khó hy vọng nhìn thấy “tất cả có trình độ TRI KIẾN bằng nhau”, nhưng trước hết, chỉ mong “những người cầm đầu các quốc gia tiến bộ, hùng mạnh trên thế giới có thể hiểu biết đúng“TAM PHÁP ẤN” (vô thường, khổ não, vô ngã), một cách khoa học, sáng suốt…để hành động sao…cho cuộc sống của toàn thể các quốc gia trên quả đất nầy bớt đi xung đột, tái tạo bình an !

Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ) -Pháp quốc. Paris 27/09/2021.

(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ CHỈ QUÁN trong mùa «tịnh thất»)

BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 5

*Liên quan đến DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa).

<>DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakarana) là sách thứ 7 trong VI DIỆU TẠNG (Abhidhamma piṭaka), sắp đứng sau các cuốn 1/PHÁP TỤ (Dammasaṅganī), 2/PHÂN TÍCH (Vibhaṅga), 3/CHẤT NGỮ (Dhātukathā), 4/NHÂN CHẾ ĐỊNH (Puggalapaññatti), 5/GIẢI TÔNG (Kathāvatthu), và 6/ SONG ĐỐI (Yamaka).

*Mới đọc qua “DUYÊN HỆ”, chúng ta thấy đó là một “KỶ YẾU” theo dạng “danh sách chú giải”, gồm “24 TRƯỜNG HỢP” (avatthā) hay “điều kiện” (paṭicca samuppāda), liên quan (paccaya) đến “trợ tố” (dhatu) hay “chi tiết” (vitthāra), đóng góp vào thực tại KHÔNG GIAN lẫn THỜI GIAN, còn gọi nôm na là “HOÀN CẢNH”, để hình thành những “tâm thức”(citta) dẫn đầu các pháp hành, và tùy theo “năng lực” (mạnh hoặc yếu) của nó, mà phát sinh ba nghiệp, “THÂN” (kāya), “KHẨU” (vacī), và “Ý” (maṇo).

-Nói chung, BA NGHIỆP bao gồm tất cả những hành vi “ngấm ngầm bên trong” hay “bộc lộ ra bên ngoài” (bằng hành động), trong đời sống của mỗi động vật hữu tình, nhất là con người.

*Và khi xét qua “ý nghĩa” từng trường hợp hay “điều kiện”, chúng ta còn thấy DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa) là toàn bộ những TIN TỨC “vừa hiển nhiên vừa tinh vi, đối vớiBIẾN TRÌNH của tâm thức. Chúng tôi dùng 2 chữ “biến trình”, vì DUYÊN HỆ là “cái khung tùy cảnh” để “tâm thức thay đổi” rồi trở thành “LOẠI NÀO” (thiện=kusala, ác=akusala, hay trung tính=abyākata), trong suốt thời gian TẠO NGHIỆP (kammakāra), tức là trước, trong, và sau khi hành động…-rồi “ghi nhận đầy đủ” (tadālambana) ấn tượng việc đã làm…nơi dòng sinh mệnh, còn gọi là mạng căn (bhavaṅga).

*Thực ra, hai “đoạn viết” khiêm nhượng trên đây, chỉ là để “mở đầu” đề tài hôm nay. Nó quá “ngắn”, và không thể trình bày ngay cả “phần tóm tắt tổng quát” của DUYÊN HỆ, chứ đừng nói là việc gì khác, nên nó chẳng giúp cho độc giả có một “khái niệm” nào cả. Quí vị nào muốn tìm hiểu DUYÊN HỆ đầy đủ, yêu cầu đọc các tài liệu Phật hoc A-tỳ-đạt-ma (Abhidhamma), hay tham khảo qua các thư viện văn hóa. -Mục đích của chúng tôi ở đây, với bài viết số 5 nầy, là cố gắng nói lên cái “bản sắc khoa học” trong nhà Phật, liên quan đến DUYÊN HỆ, chứ không nhằm “diễn giảng” DUYÊN HỆ.

<>Có thể quí vị đang thắc mắc : -“Vai trò của DUYÊN HỆ là đóng góp tin tức cần thiết vào sự “hình thành” của tâm thức, xuyên qua biến hóa theo từng THỰC TẠI(tốt, xấu hay trung tính) trước khi NÓ bộc phát ra hành động(=tạo NGHIỆP).”. Nhưng sự “BIẾN HÓA” (vô hình) thuộc về TÂM THỨC và “BIẾN ĐỔI” (hữu hình) thuộc về KHOA HỌC là 2 vấn đề khác nhau, -một bên để phân tíchqui nạp VẬT cụ thể, -một bên là phân biệttư duy VẬT trừu tượng (phản chiếu tinh thần)…thì “mối liên quan” (hay DUYÊN HỆ) như thế nào !(?) 

-Xin thưa…KHOA HỌC ngày nay là gì, nếu không muốn nói một cách tổng quát, là phương pháp GIẢI TRỪ LẠC HẬU, làm cho đời sống VẬT CHẤT lẫn TINH THẦN của con người, mỗi ngày một tốt hơn, TÂN TIẾN ?!  -Và tiến trình “BIẾN HÓA tâm thức” theo nhà Phật…là “phương pháp” cải thiện cả thân lẫn tâm…thì tựu trung cũng chẳng khác, nhưng nó còn bao hàm cả HÌNH THỨC (cụ thể), và NỘI DUNG (trừu tượng) !

*HÌNH THỨC là THÂN và NỘI DUNG là TÂM.

THÂN cải thiện ở đây là mạch sống lành mạnh, ám chỉ cái DỤNG của “thay đổi vật chất”.

TÂM cải thiện ở đây là ‘thức tánh thanh cao”, ám chỉ cái DỤNG của “thay đổi tinh thần”.

*Thức tánhmạch sống TỐT ấy, kết hợp thành một con người ĐẠO ĐỨC, gọi tắc là THÂN TÂM văn minh. -Và khi đã cải thiện cả THÂN lẫn TÂM thì đời sống TIẾN HÓA, thuận theo Bát-nhã (prajña), KHAI TRÍ.

-Nói cách khác, “tiến hóa thức tánh mạch sống” chính là “phẩm giá thực tại” của THÂN và TÂM”, hay của thể xáctinh thần. NÓ (=sự “tiến hóa thức tánh mạch sống) chính là “NỘI DUNG văn hóa THẬT” của sự sống, luôn luôn vận hành một cách tương quan, qua 2 tình trạng CỤ THỂ và TRỪU TƯỢNG gọi là DUYÊN HỆ. -Tức là cái THỰC TẠI SỐNG nếu không THUẬN với KHOA HỌC (Vijjā), thì phải NGHỊCH với KHOA HỌC (Avijjā)…nên cần phải định hướng.

-Sự TIẾN HÓA luôn luôn đòi hỏi các “BIẾN HÓA THỨC TÁNH” phải CẢI THIỆN, và cần được hướng dẫn một cách QUÂN BÌNH bỡi “ÁNH SÁNG GIÁC NGỘ”. Vì sao ? -Vì cái gọi là KHOA HỌC ngày nay đang rất PHIẾN DIỆN, chỉ chú trọng đến “canh tân tiện nghi cho thể xác”, mà không đóng góp thiết thực cho “cải thiện tinh thần”.

<>Chúng ta có thể gọi phương pháp “CẢI THIỆN TINH THẦN” là “KHOA HỌC TÂM LINH”, hay cái DỤNG tuyệt vời của TRÍ TUỆ (Prajña), nói theo nhà Phật là “BÁT-NHÔ. Đó là PHẨM CÁCH duy nhất giải trừ được sự PHIẾN DIỆN tiến bộ vật chất.

*Trên thực tế, dù cho “đời sống tân tiến” vào thế kỷ thứ 21 nầy, đã đạt đến mức khá cao, nhưng con người vẫn cảm thấy bất an…-nếu không muốn nói là thường xuyên bị đe dọa thiếu thốn lẫn THÈM KHÁT hưởng thụ VẬT CHẤT. Trước tình trạng nầy, “KHOA HỌC TÂM LINH” (Vijjā) rất cần thiết cho nhân loại. Và đó chính là sự ĐÓNG GÓP của “Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo”, mà chúng tôi chân thành nhắc đến, kể từ bài 1 đến nay.

-Xin minh bạch ngay rằng, mục đích của “KHOA HỌC TÂM LINH” là để “quân bình đời sống” một cách tương tác với KHOA HỌC HIỆN ĐẠI (=lý hóa), để giải trừ các ÁC TẬT say mê hưởng thụ, do lòng tham không đáy gây ra, chứ “KHOA HỌC TÂM LINH” không phải để đối trị KHOA HỌC VẬT CHẤT. Phật giáo, khuyến khích hai phẩm cách văn minh TÂM-VẬT (=thể xác và tinh thần), cần được phát triển song song, nhằm “bổ túc lẫn nhau”.

<>Như vậy, thành quả tiến bộ của trí tuệ nhân loại mới được trọn vẹn. Trái lại, khi một trong hai PHẨM CÁCH (vật chất hay tinh thần) mà “bị bỏ quên” hay “bị chà đạp”, thì hậu quả của “tân tiến” sẽ tai hại vô cùng, và là nguyên nhân dẫn đến ích kỷ, sa đọa, suy đồi, khổ đau, chiến tranh…mất phẩm giá.

*Chúng ta biết rằng, trong lịch sử nhân loại, có những giai đoạn mà quan niệm xã hội đã “nghịch chiều” vớingày nay. Thời xưa, người ta đã quá nặng về “giá trị tinh thần”, mà trở thành cuồng tín duy linh, ruồng rẫy vật chất một cách cực đoan, ngu muội, xem “tha lực” và  khổ hạnh thân xác là con đường “hạnh phúc”. Chính Bồ-tát Sĩ-đạt-ta (Bodhisattva Siddhatta), vì ảnh hưởng “tư tưởng Bà-ma-môn” (Brahamanisme) mà đã hành xác cùng cực, suốt 6 năm trường một cách vô ích, trước khi thực nghiệm TRUNG ĐẠO (Majjhimamagga), và đắc GIẢI THOÁT TRÍ (Prajña hay Bát-nhã), thanh tịnh thành Phật, để chúng ta ngày nay, được thừa hưởng đạo Phật, có “Bản Sắc Khoa Học”.

<>Khi quan sát KHOA HỌC và nghiên cứu sâu sắc vào PHẬT GIÁO, chúng ta không thể không chú ý đến những điểm “tương đồng” giữa DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa) và KHOA HỌC (Vijjā), như sau :

1/Nếu KHOA HỌC HIỆN ĐẠI khám phá ra các phản ứng hóa học (thô cũng như tế) và các chuyển động vật lý (chiều thẳng cũng như đường cong), trong dòng điện, hay qua trọng lực(tức “sức hút giữa 2 động tử với nhau, hay giữa một vật và quả đất)…thì DUYÊN HỆ trong PHẬT GIÁO lại “chỉ ra” sự phản chiếu xuyên qua nhân điện trong thân thể con người, và sự kích thích tâm vật (tinh thần trước thế xác) xuyên qua tạo nghiệp (hành động trong CÁC CHIỀU không gian và thời gian (dimensions, space-temps). -Như thế, KHOA HỌC HIỆN ĐẠI DUYÊN HỆ trong  PHẬT GIÁO vẫn có nét tương đồng sâu sắc, trong cả 2 lãnh vực “phản ứng HÓA HỌC” (Réaction chimique) và “chuyển động VẬT LÝ (Mouvement physique) !

2/Theo KHOA HỌC HIỆN ĐẠI, thì giữa 2 phản ứng vật chất (hóa học) và giữa 2 nguyên tắc vận chuyển (vật lý), luôn luôn có một “từ trường xung động”…thì theo DUYÊN HỆ PHẬT GIÁO, giữa một hành động bỡi THÂN và dấu ấn được ghi nhận bỡi TÂM, luôn luôn có “kích thích song phương” và “liên quan tương tác” (THÂN<=>TÂM), mà nhà Phật gọi là “PHẢN ẢNH NGHIỆP QUẢ”, hay hai chiều trả vay, không thể phủ nhận…hay né tránh được !

<>Và như chúng tôi đã nói ở bài 4 (“GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ”), -rằng qui trình của toàn bộ “đại vũ trụ” (gồm Tinh tú cũng như Thái dương hệ) lẫn qui trình của mỗi “tiểu vũ trụ” (=thân thể động vật, nhất là con người), hằng có “định hình CONG” (circulaire). -Nghĩa là tất cả vận hành thuộc tam giới (trong hay ngoài bầu khí quyển bao quanh quả đất) đều tạo ra “QUỶ ĐẠO” (orbit), và CHÚNG nằm hẳn trong hướng (vecteur) “tìm tới những điều kiện cũ”, hay “quay lại duyên khởi đã trải qua”.

<>Như vậy, LUÂN HỒI là một điều TẤT NHIÊN, -chứ không phải là giáo thuyết nhà Phật !

*Nếu các CÔNG THỨC lý-hóa trong KHOA HỌC cần đến sự chính xác (techniques de points), của vật chất và của giòng điện (hay từ trường) để cho “diễn tiếnqui nạp được nghiệm đúng” như thế nào, -thì trong DUYÊN HỆ PHẬT GIÁO (Paṭṭhāna), các “chi tiết” (dhatu, vitthāna) liên quan tới không gian (=thân thể) và thời gian (=tinh thần), cũng phải ứng hợp tương tác, để hiện tượng của NGHIỆP QUẢ tự phô bày một cách hợp lý như thế ấy.

*Nghĩa là…khi các điều kiện hay DUYÊN HỆ không hội đủ, thì hiện tượng NGHIỆP QUẢ VAY TRẢ (luân hồi) không thể chứng minh. -Ví như trong một bộ máy, hay trong một hợp chất (hóa học), mà mọi thành phần “vận hành chungthiếu thích ứng lẫn nhau, thì bộ máy hay hợp chất ấy, sẽ không thể tiến xa,không thể “biểu hiện” đúng kết quả mong đợi, trong một cuộc thí nghiệm (trên mặt đất hay giữa không gian) !

*Sở dĩ DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa) trong nhà Phật không đưa ra những “kiến thức” nghiên hẳn về vật chất, như “KHOA HỌC” ngày nay, vì Bậc Toàn Giác biết trước rằng, với Ý CHÍ CẢI TIẾN của nhân loại, do mưu cầu đời sống mai sau tốt hơn, thì một “kiến thức vật chất” như thế tất nhiên sẽ “tự thành hình”. -Bù lại, Đức Phật đã “tặng” cho loài người một GIÁO LÝ rất giáo dục và rất thực nghiệm, mà chúng ta phải gọi là “KHÁM PHÁ TÂM VẬT” hay“khoa học tâm linh”. -Gọi tên như thế …là dựa theo cái nhìn của một “thiền giả”, hoặc của các chuyên gia về VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma=A-tỳ-đạt-ma) trong đạo Phật.

<>Phật giáo là TRUNG ĐẠO, do đó hai phẩm cách “GIÁO DỤC” và “THỰC NGHIỆM” vừa nêu trên, vốn cũng để bao gồm lẫn bổ túc cho cả 2 lãnh vực “KHOA HỌC TÂM LINH” và “KHOA HỌC VẬT CHẤT”. Khoa học tâm linh ám chỉ sự giáo dục sinh thức (=tinh thần). Khoa học vật chất ám chỉ thực nghiệm đời sống. -Tức là những tiện nghi tân tiến ngày nay, chẳng hạn như…chuyển vận nhanh, thực phẩm tốt, y phục đẹp, thuốc men hữu hiệu, chỗ ở rộng, truyền thông đa chiều…v…v…-Nói chung là xã hội được THẮP SÁNG nhờ KHOA HỌC !

*Theo đạo Phật, KHOA HỌC (vijjā) là NĂNG LỰC của TRÍ TUỆ (paññiṅdriyaṃ), là BÁT-NHÃ (prajña), là phẩm cách diệt độ (nirodha) đối với VÔ MINH (avijjā), chứ không phải cái gì khác. -Còn VÔ MINH (Avijjā) chính là “duyên đầu” tạo ra tối tăm, lẫn lộn, xung đột, đau khổ, luân hồi bất tận. (Nguyên văn kinh Pāḷī : “Avijjā paccayā saṅkhārā…”). -Đến đây, thiết tưởng không cần nhắc lại, chắc quí vị cũng nhớ trong một bài trước, chúng tôi đã nêu rằng :

<>“Chỉ có ANH MINHmới Triệt tiêu VÔ MINH”.

*Và ý nghĩa của cặp từ ngữ Pāḷī “Vijjā” và “vijjā”, mà Đức Phật đã dùng trong bài kinh “Thập Nhị Nhân Duyên” (Paṭicca Samuppāda) có thể trình bày như sau :

VÔ MINH (Avijjā) là phản khoa học, hay vô pháp (adhammena=vippaññāya).

ANH MINH (Vijjā) là có khoa học hay đúng pháp (dhammena=paññāya).

————-

<>Dưới đây là lược ghi 24 «chi tiết» trong “DUYÊN HỆ tạo NGHIỆP”, theo đạo Phật :

1-NHÂN DUYÊN (Hetu paccaya) : Yếu tố NGUỒN GỐC (Hetu), gồm các “động cơTHÚC ĐẨY tâm thức hành động, TẠO NGHIỆP. (-Ám chỉ tham, sân, si hay ngược lại).

2-CẢNH DUYÊN (Ᾱrammaṇa pccaya) : Yếu tố ĐỐI TƯỢNG (Ᾱrammaṇa), gồm 5 cảnh bên ngoài (sắc, thinh, hương, vị, xúc = ngũ trần) và 1 cảnh bên trong (=pháp), hằng KÍCH THÍCH tâm thức hành động, TẠO NGHIỆP. -Ám chỉ “đầu mối khởi phát lục dục”.

3-TRƯỞNG DUYÊN (Aḍhipati paccaya) : Yếu tố ƯU THẾ (Aḍhipati), gồm “nội tâm ưu thế” (Ajjhatta) hay “ngoại cảnh ưu thế” (Bahiddha) LÔI KÉO tâm thức hành động, TẠO NGHIỆP (kammakāra). -Ám chỉ “khởi động ai, hỷ, nộ, ái, ố, lạc, dục”, và tập khí bên trong, lẫn cộng nghiệp bên ngoài.

4-BẤT ĐOẠN DUYÊN (Anantara paccaya) : Yếu tố TIẾP DIỄN (Anantara), gồm tình trạng đồng cách với “đối tượng đi trước” (đã qua), và “đối tượng đi sau” (sắp đến), -nghĩa là VÔ GIÁN ĐOẠN VẬT CHẤT (cụ thể), đối với tâm thức khi hành động hay TẠO NGHIỆP (kammakāra). (-Ám chỉ không có trở lực khác đối với đối tượng từ bên ngoài).

5-BẤT LY DUYÊN (Samantara paccaya) : Yếu tố LIÊN TỤC (Samantara), gồm đồng tánh (nội dung) với “đối tượng đi trước” (đã qua) và “đối tượng đi sau” (sắp đến), -nghĩa là VÔ GIÁN ĐOẠN TINH THẦN (trừu tượng) trong tâm thức khi hành động, hay TẠO NGHIỆP (kammakara). -Ám chỉ không không trở lực ngăn trí nhớ từ bên trong.

6-ĐỒNG SINH DUYÊN (Sahajāta paccaya) : Yếu tố SINH RA CÙNG THỜI (Sahajāta), bao gồm 3 giai đoạn “đồng phát khởi”, “đồng hiện hữu”, và “đồng kết thúc”, -nghĩa là SONG HÀNH suốt thời gian hiện hữu, trên cả 2 phương diện vật chất (rūpa) và tinh thần (nāma), đối với tâm thức (cittaviññāna) khi hành động, hay TẠO NGHIỆP (kammakāra).

7-A-NHÃ DUYÊN (Aññamañña paccaya) : Yếu tố “TÙY CẬN KHÁC” (Aññamñña), bao gồm sức tương tác của các “phần tử tiếp giáp”. -Ví như “3 chiếc đũa chụm vào nhau để đứng vững, mỗi chiếc đũa “làm” 2 việc, là “tự đứng” và “hổ trợ sự đứng”. -Nếu 1 chiếc đũa không như thế, thì tất cả cùng ngã. Ý nói “hành động TẠO NGHIỆP phải hội đủ tính đồng sự quân bình”.

8-Y CHỈ DUYÊN (Nissaya paccaya) : Yếu tố NƯƠNG TỰA ĐA PHẦN (Nissaya), gồm căn gốc rắn chắcxung quanh giữ vững. Ví như rễ cây lâu năm của đại thọsự che chở xung quanh, -hay ví như “bức tranh khó phai màu khi nền tranh hút đủ nước mực” (hay sơn). –Ý nói “tập khí hay ngũ uẩn khi ĐỦ DÀY, thì tâm thức phát ra hành động”, hay TẠO NGHIỆP. -Duyên hệ thứ 8 nầy liên quan đến duyên hệ thứ 6 và thứ 7.

9-ĐẠI Y CHỈ DUYÊN (Upanissaya paccaya) : Yếu tố có NƯƠNG TỰA TOÀN PHẦN (Upanissaya), gồm đối tượng vững mạnh thích hợp (ārammaṇūpanissaya), không gián đoạn (anantarūpanissaya), hợp với bẩm sinh (pakatūpanissaya). -Ý nói “hội đủ chỗ dựa tốt nhất để tâm thức phát ra hành động”, hay TẠO NGHIỆP. -Duyên hệ thứ 8 nầy liên quan đến duyên hệ thứ 3 và thứ 4 nói trên.

10-TIỀN LỆ DUYÊN (Pụrejāta paccaya) : Yếu tố ĐÃ CÓ TRƯỚC (Purejāta), gồm những vận hành huân tập từ kiếp quá khứ (atīta jīva), ám chỉ tâm vương (citta), tâm sở (cdetasika), lục căn (cha indriyāni), và lục trần (chārammaṇāni). -Ý nói di sản luân hồi hay thân tâm nầy vốn có pháp hành tạo NGHIỆP, hướng dẫn do QUẢ chín muồi của nghiệp trước.

11-HẬU LỆ DUYÊN (Paccājāta paccaya) : Yếu tố ĐẾN SAU (Paccājāta), gồm những khuynh hướng vận hành huân tập trong kiếp nầy (anāgata jīva), cũng ám chỉ tâm vương (citta), tâm sở (cdetasika), lục căn (cha indriyāni), và lục trần (chārammaṇāni) như trên. -Ý nói hành động sắp tới, là di sản của pháp hành tạo NGHIỆP, hướng dẫn do QUẢ của nghiệp hiện tại.

12-TÁI DIỄN DUYÊN (Ᾱsevana paccaya) : Yếu tố LẬP LẠI (Ᾱsevana), gồm những thói quen đã làm rất nhiều lần …đầy khả năng tương tác với 47 mẫu tâm phàm, một số tìm thấy trong 12 tâm bất thiện, trong 8 tâm thiện, trong 9 tâm đại hạnh, và trong 18 tâm duy tác). -Ý nói tập khí lập lại, gia tăng…là “động cơ” thúc đẩy pháp hành tạo NGHIỆP.

13-TÙY NGHIỆP DUYÊN (Kamma paccaya) : Yếu tố NGHIỆP (Kamma), gồm toàn bộ ngũ uẩn (pañca khandha), gồm nguồn gốc của tâm bẩm sinh (ahetukacitta), hay nguyên nhân của tác ý (cetanā). -Ý nói “TẬT tiền khiên là tiện nghi để tâm thức bị lôi kéo trong khi tạo NGHIỆP”.

14-TÙY QUẢ DUYÊN (Vipāka paccaya) : Yếu tố kết thành (Vipāka), gồm tất cả tâm vương (sabbacitta), tất cả tâm sở (sabbacetasika), và tất cả sắc pháp (rūpa), hay ngũ uẩn (pañcakkhandha), luôn luôn tích cực trong mọi vận hành tương tác, qua các dạng ưu thế. -Ý nói “kết quả nghiệp cũ ảnh hưởng đến hành động tạo NGHIỆP mới một cách chắc chắn”.

15-DINH DƯỠNG DUYÊN (Ᾱhāra paccaya) : Yếu tố thực phẩm (Ᾱhāra), gồm a/đồ ăn uống (āhāra), b/cảm xúc (phassa), c/tư niệm (maṇo-sañcetanā, suy nghĩ), và d/kiến thức thu vào (viññāna), đó là “4 nguồn dinh dưỡng” cần thiết cho sự tiến hóa một cách quân bình của thân tâm con người. -Ý nói sự hội đủ dinh dưỡng đóng vai trò căn bản cho hành động tạo NGHIỆP.

16-CĂN DUYÊN (Iṅdriya paccaya) : Yếu tố căn quyền (Iṅdriya), gồm “năng lực” của 6 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý chí), đồng vận hành (upasaṅkhāra) dưới dạng “ba đóng góp”, là a/“đã hữu hiệu”, b/“đang hữu hiệu”, và c/“thuận sinh hoạt vật lý”. -Ý nói “quyền năng của các căn môn có vai trò chính” trong hành động tạo NGHIỆP.

17-THIỀN DUYÊN (Jhāna paccaya) : Yếu tố chăm chú ((Jhāna), đối với hạng phàm phu…gồm sự tập trung tinh thần, -hay đối với các bậc tu hành là đắc thiền (bhāvanā), -qua các “trình độ an chỉ” hoặc các chi thiền, như tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Ý nói “sự an trụ tinh thần” là sức mạnh soi sáng hành động tạo NGHIỆP.

18-ĐẠO DUYÊN (Magga paccaya) : Yếu tố đắc quả (Magga), gồm 12 pháp liên quan lập thành ĐẠO hay “nhân duyên xoay vòng”. 12 PHÁP LIÊN QUAN nầy, nếu tiến hóa gọi là THĂNG, -nếu thoái hóa gọi là ĐỌA. -Ý nói các pháp tương tác trong DUYÊN HỆ, như tâm vương (citta), tâm sở (cetasika), và các duy tác (kiriya)…nếu hành giả đắc đạo thì đó là những thành phần phối hợp, hướng dẫn hành động tạo NGHIỆP.

19-TÙY TÙNG DUYÊN (Sampayutta paccaya) : Yếu tố đồng hành (Sampayutta), gồm 89 tâm vương (citta) đi chung (sahagata) với 52 tâm sở (cetasika) trong tất cả các dạng biến thiên của sắc pháp (rūpa), xuyên qua “tam đoạn” 1/thành 2/trụ 3/dứt, trong tất cả chu trình tâm (cittavīthi), làm “tiếp nối” (sandhi) cho hành động tạo NGHIỆP. -Lưu ý : “Có tùy tùng” cũng nhĩa là “Đứng đầu một đòan” hay “tạo nghiệp chung”.

20-CÔ DUYÊN (Vippayutta paccaya) : Yếu tố tách rời (Vippayutta), gồm các pháp “cách ly” lập thành “hệ triệt tiêu” (nāsana), cũng ám chỉ diệt đế (nirodha), có tính vô tương tác cả 2 chiều (apaccaya anuppanna). -Ý nói các pháp “ly duyên” (vippayutta dhamma) dẫn đến DUY TÁC NGHIỆP (kiriya kamma). -Lưu ý : “Cô độc” cũng có nghĩa là “biệt lập”, “tách rời”, hay “tạo nghiệp một mình”

<>Bốn DUYÊN HỆ sau cùng thì khá gỉan dị, nên xin nêu chung, ngắn gọn như sau :

21-HIỆN DIỆN DUYÊN (Aṭṭhi paccaya) : Yếu tố có mặt (Aṭṭhi), gồm các pháp hằng tương tác, bản chất xung động, luôn luôn đóng góp vào vận hành tạo NGHIỆP.

22-KHIẾM DIỆN DUYÊN (Naṭṭhi paccaya) : Yếu tố vắng mặt (Naṭṭhi), gồm các pháp bất tương tác, vô xung động, không đóng góp vào vận hành tạo NGHIỆP.

23-TRƯỜNG HIỆN DUYÊN (Vigata paccaya) : Yếu tố hiện diện lâu dài (Vigata), gồm khả năng duy trì sự có mặt, không biến mất sau đó. Ý nói “có mặt là góp phần” vào tạo NGHIỆP.

24-ĐOÃN HIỆN DUYÊN (Avigata paccaya) : Yếu tố hiện ra rồi biến mất (Avigata), gồm không năng lực duy trì sự có mặt, biến mất ngay sau đó. Ý nói “khiếm diện là chẳng góp phần” vào tạo NGHIỆP (kammakara).

Chú ý

<>Bốn “DUYÊN HỆ TẠO NGHIỆP” sau cùng, chúng ta có thể “phối hợp” thành “2 cặp” :

-“Cặp thứ I” gồm duyên hệ 21duyên hê 24, phát biểu rằng khi “pháp liên quan (paccaya dhammā) có mặt”, thì đồng thời “pháp tương tác (paccuppanna dhamma) cũng có mặt (atthi), và không biến mất” (avigata).

-“Cặp thứ II” gồm duyên hệ 22duyên hê 23, nêu ra rằng khi “pháp liên quan (paccaya dhammā) vắng mặt” (natthi), thì đồng thời “pháp tương tác (paccuppanna dhamma) tuy có mặt trước đó, nhưng tiếp theo lại biến mất”.

Ngoài ra :

<>Nếu chúng ta “phân loại” NHỮNG GÌ dự phần vào HÀNH ĐỘNG tạo nghiệp (hay còn gọi là DUYÊN HỆ=nghiệm chứng), theo 3 “ĐẶC TÍNH” là :

1/Ưu thế bỡi tinh thần (vận hành nặng về các dòng điện XẤU tham sân si, hay ngược lại vận hành nặng về các dòng điện TỐT vô tham, vô sân, vô si).

2/Ưu thế bỡi vật chất (ám chỉ ”hỗn hợp tứ đại” đa số bất lực, tương đương với cách điện tâm, ngang sức hay tương đương với trung tính), và

3/Ưu thế bỡi bất định, nghĩa là vừa tinh thần vừa vật chất (ám chỉ thân tâm hữu tình hay ngũ uẩn, gồm “5 tập khí” sắc, thọ, tưởng, hành, thức)…thì chúng ta sẽ thấy DUYÊN HỆ giống như toàn bộ các vật liệu thí nghiệm trong KHOA HỌC.

*Tức là một HÀNH ĐỘNG tạo nghiệp từ THÂN và TÂM của con người có thể xem TƯƠNG ĐƯƠNG với một XÁC NGHIỆM LÝ HÓA trong KHOA HỌC. -Khác chăng chỉ là…KHOA HỌC không dùng những từ ngữ thuộc về TÂM THỨC (hay TINH THẦN), mà KHOA HỌC lại nêu tên của NHỮNG CHẤT “dẫn điện” hay “không dẫn điện”, của NHỮNG VẬT LÝ “có từ trường” hay “không từ trường”, của các PHÂN TỬ LƯỢNG hoặc NGUYÊN TỬ LƯỢNG, và của các TỪ TRƯỜNG “hữu hạn” lẫn “vô hạn”.

-Nghĩa là ngôn ngữ trong KHOA HỌC LÝ HÓA, không giống như cách nói của KHOA HỌC TÂM LINH, nhưng tất cả cùng “diễn đạt” cái công việc THỰC NGHIỆM, gồm phân tích, gia giảm, và kết thúc thành một HIỆN VẬT (ở dạng nầy hay dạng khác), bằng cách “liên quan tối đa” những yếu tố tương tác, góp mặt trong «CHẾ TẠO».

*Xin nhắc lại rằng, trong DUYÊN HỆ nhà Phật, không có “tình trạng HOÀN TOÀN”, nên duyên hệ phải luôn luôn tương đối. -KHÔNG CÓ tính thuần túy !

-Từ đó suy ra, chúng ta có…

*Những DUYÊN HỆ số 1,17,18,19,20 (tức là NGUYÊN NHÂN, THIỀN PHÁP, ĐẮC ĐẠO, HỮU KẾT, VÔ KẾT) thì thuộc về “ưu thế tinh thần”.

*Riêng các DUYÊN HỆ số 2,21,22,23,24 (tức là CẢNH SẮC, HIỆN DIỆN, KHIẾM DIỆN, ĐOÃN HIỆN, TRƯỜNG HIỆN ) thì thuộc về “ưu thế vật chất”.

*Chỉ có DUYÊN HỆ số 3 (TRƯỞNG LỰC) là thuộc về “ưu thế vượt trội”.

*Nhưng những DUYÊN HỆ số 4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16 (tức là BẤT ĐOẠN, BẤT LY, ĐỒNG SINH, A-NHÃ, Y CHỈ, ĐẠI Y CHỈ, TIỀN LỆ, HẬU LỆ, TÁI DIỄN, NGHIỆP TRƯỚC, QUẢ SAU, DINH DƯỠNG, CĂN MÔN), thì thuộc về cả tinh thần vật chất.

-Và những DUYÊN HỆ số 17,18,19,20 (tức là THIỀN PHÁP, ĐẮC ĐẠO, CẤU KẾT, VÔ KẾT) thì thuộc về “ưu thế vừa tinh thần vừa vật chất”.

<>DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa) ở đây cũng có thể xem như toàn bộ VẬN HÀNH lý hóa trong KHOA HỌC “hiện đại”. Nhưng KHOA HỌC cụ thể chỉ “trưng ra” những YẾU TỐ vật chất “đang góp mặt”, vào sự VẬN HÀNH, và “SINH HOẠT” cần “diễn ra” với điều kiện nào, -chứ KHOA HỌC không nói đến việc “các yếu tố kia phải được ấn địnhphân bổ bỡi NĂNG LỰC gì” từ “SÁNG KIẾN” của các nhà khoa học…xuyên qua tiến trình “thí nghiệm”, “kiểm chứng”, và “đúc kết”.

*Vả lại…VẬT CHẤT CỤ THỂ (Kāyarūpa) luôn luôn mang TÍNH VÔ THƯỜNG (Aniccā=biến đổi), nên “ĐÚC KẾT” của KHOA HỌC CỤ THỂ cũng chỉ là những “qui nạp giai đoạn” (có tuổi thọ), chẳng bền vững, «tương đương» với KHÔNG THẬT (Anariya), nên KHOA HỌC TÂM LINH (trong Phật giáo) không dựa trên TIÊU CHUẨN MỘT THỜI của thế gian (Saṃsāra niyama=Principle relatif) để ấn định, -mà PHẬT HỌC chỉ nêu ra 1 từ ngữ qui ước là “DUYÊN HỆ”, đồng thời Phật học còn nói rõ rằng, “nguồn gốc của KHOA HỌC TRÍ TUỆ, là BÁT-NHÔ (Prajña=Paññā), là DỨT VÔ MINH (Vijjā).

*Từ đó, chúng ta có thể xem “DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna) là SIÊU CÔNG THỨC (Ariya niyama) trong «KHOA HỌC TÂM LINH», áp dụng qua ánh sáng TRÍ TUỆ, cho mọi vận hành liên quan đến «NGOẠI GIỚI» (Bahiddhabhūmi) cũng như «NỘI GIỚI» (Ajjhattabhūmi). NGOẠI GIỚI ám chỉ vật chất. NỘI GIỚI ám chỉ tinh thần. -Cả 2 hợp lại tạo thành tất cả sinh vật (hữu tình lẫn vô tình) trong vũ trụ nói chung, và trên quả đất nói riêng.

*Nhà Phật cũng gọi riêng «NGOẠI GIỚI» (Bahiddhabhūmi) là CẢNH DUYÊN (Ᾱrammaṇa paccaya), hay «môi trường hữu hình» chứa các «hỗn hợp cụ thể», phát xuất từ «TỨ ĐẠI» (Catu mahābhūta), với cặp đặc tính «NẶNG hay NHẸ», và dưới 4 dạng  là «chất đặc» (cứng và mềm), «chất lỏng» (kết và phân), «chất nóng» (phù và trầm), và «chất hơi» (động và tĩnh).

*Bốn DẠNG nầy đóng vai «TẠO HÓA» (Lokakara), hay nguồn gốc của tất cả HÌNH THỨC vật lý lẫn hóa học, được KHOA HỌC DUY VẬT đặc biệt chú ý.

*Và «NỘI GIỚI» (Ajjhattabhūmi) thì bao gồm 23 DUYÊN HỆ còn lại, nói lên khái niệm thời gian và không gian, lẫn cái KHẢ NĂNG chuyên chở khái niệm THỜI GIAN KHÔNG GIAN ấy, lại được bậc TOÀN GIÁC (Sammāsambuddha) khám phá và tiết lộ, qua đạo Phật. -Nếu người học Phật giải trừ được mọi cố chấp, sẽ thấy rõ như sau  :

*«KHOA HỌC» khi thiên về HƯỞNG THỤ, thì làm gia tăng «giá trị hữu dụng» của VẬT CHẤT dành cho con người, từ đó có TƯ DUY BIÊN KIẾN (=cực đoan), và không ngừng làm cho «giá trị hữu dụng» hướng về TINH THẦN (đạo đức) giảm dần, một cách đáng ngại. Đó là tình trạng nguy hiểm đối với xã hội nhân loại ngày nay.

*Nhưng khi «qui nguyên» thì chúng ta thấy KHOA HỌC CỤ THỂ cũng đến từ BẢN SẮC của GIÁC NGỘ hay của BÁT-NHÃ trong nhà Phật, thì sự quân bình TIẾN HÓA vật chấttinh thần, sẽ «vô hiệu hóa» được các tổn hại do NGHIỆP ÁC gây ra, nói theo Phật học.

-Xuyên qua loạt bài nầy, chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần danh từ BÁT-NHà (hay SIÊU TRÍ TUỆ=Prajña=Paññā). –Vậy «BÁT NHû là gì ?

<>Trước khi bàn đến «BÁT-NHû, chúng ta hãy nhắc sơ qua VI DIỆU PHÁP hay A-TỲ-ĐẠT-MA (Abhidhamma) một chút. Theo BẢNG DANH MỤC(saṅgaha) của VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), thì cái gọi là «TINH THẦN» con người (Maṇo), tổng quát gồm «2 PHẦN» tạm đặt tên qui ước là «TÂM VƯƠNG» (Citta), và «TÂM SỞ» (Cetasika). -NÓ được xem như 2 mặt của một đồng tiền (không tách rời nhau, chẳng bao giờ có cái nầy mà không có cái kia).

-Lý do !? -Vì TÂM VƯƠNG và TÂM SỞ có 4 điểm chung ĐỒNG SANH (phát sinh cùng một lúc), ĐỒNG DIỆT (chấm dứt cùng một lúc), ĐỒNG CẢNH (=cùng nhận một đối tượng), và ĐỒNG CĂN (=có cùng giác quan hay căn quyền).

*Nói về «pháp hành» thì TÂM VƯƠNG là «tâm biết cảnh». Còn TÂM SỞ là «tâm vương bị nhiễm cảnh» (sau khi tiếp xúc). -Khi học bảng danh mục, chúng ta thấy 89 tâm vương, nhưng chỉ có 52 tâm sở, chúng ta nhận ra rằng «còn lại 37 tâm vương kia là những tâm không bị (hay quá ít bị)CẢNH ảnh hưởng». Chúng còn được gọi là TÂM QUẢ (Vipākacitta) hay TÂM VÔ NHÂN (Ahetukacitta), TÂM BẨM SINH.

*Rồi trong số «52 tâm sở» ấy, có một tâm sở đen tối nhất SI (moha). Nó «ĐỐI LẬP HẲN» với TUỆ CĂN (Paññiṅdriya), tâm sở trong sáng nhất (trong số những tâm sở thiện). -Chúng tôi trình bày tổng quát như vậy, để kính thưa với quí vị rằng «TUỆ CĂN MẦM MÓNG đầu tiên của BÁT NHû. -Khi các ô nhiễm trong tâm đã hoàn toàn tẩy sạch thì BÁT-NHà biểu lộ !

*Nghiên cứu xuyên qua DUYÊN HỆ, chúng ta thấy «THỜI GIAN» (hay «chiều dài chuyển động trong KHÔNG GIAN») là «Phật pháp sâu xa nhất», liên quan đến NGHIỆP (Kamma). «THỜI GIAN» (kāla) vừa là «TÂM THỨC» (Maṇo), vừa là «ĐỐI TƯỢNG của TÂM THỨC», còn gọi nôm na là tinh thần (Maṇārammaṇa), nên CẢNH DUYÊN (Ᾱrammaṇa paccaya), thô hay tế đối với THÂN THỂ VẬT CHẤT (Kāyarūpa) chỉ có một, nhưng đối với TÂM THỨC thì có đến 23 loại, -tổng cộng thành 24 là như vậy !

-Đa số phàm nhân (puthujjhana), hằng coi thường THỜI GIAN (kāla), xem các giây, phút, ngày, tháng, năm…v…v….chỉ là những «cái vô nghĩa», chẳng liên quan đến phẩm cách của sự sống (=LUÂN HỒI). Nhưng đối với BẬC có TUỆ CĂN (Paññiṇdriya) đã phát triển tối đa, trở thành «TRÍ BÁT-NHû (Prajña), thì THỜI GIAN (Kāla) chính là «TẠO HÓA» (Kappa). Đó là bộ máy «KHOA HỌC ĐA NĂNG» (Vijjā). -Hay THỜI GIAN chính là CÁI NỀN của vận hành tâm thức, tức là «TIÊU CHUẨN» hay «DUYÊN HỆ» để tạo nghiệp.

-«NGHIỆP» trong đạo Phật có «NỘI DUNG RẤT RỘNG», bao gồm tất cả VẬN HÀNH của mọi động tử HỮU TÌNHlẫn VÔ TÌNH….-ngay cả THÁI DƯƠNG HỆ, gồm mặt trời, quả đất, mặt trăng, và các hành tinh quay tròn với nhau…cũng là «tạo nghiệp». Và NGHIỆP ấy luôn luôn có HIỆU QUẢ là THỜI GIAN cùng các HIỆN TƯỢNG đi chung.

<>Ví như…trong một bộ máy tối tân, hay trong một phi thuyền…hoặc trong một công thức hóa học, mọi thành phần đều dựa trên THỜI GIAN mà «tương tác». Cái gì phải tiếp xúc với cái gì và vào lúc nào, rồi cái gì biến ra dạng khác, hay tách khỏi vị trí ra sao…Tất cả phải «đúng thời gian» (chuyển động), «đúng bộ phận» (đối tượng), và «đúng chỗ» (không gian)… thì VẬN HÀNH mới tốt được. -Ở đây…DUYÊN HỆ nói lên sự kết hợp tinh vi ấy, nên NÓ phải là nguyên tắc của KHOA HỌC, bao gồm TINH THẦN và VẬT CHẤT.

*Những cái «TÊN chuyên biệt»…như : 1/«NHÂN DUYÊN» (gốc từ bên trong), 2/«CẢNH DUYÊN» (ảnh hưởng từ bên ngoài), 3/«TRƯỞNG DUYÊN» (ưu thế từ trong hay ngoài), 4/«BẤT ĐOẠN DUYÊN» (liên tục hình thức), 5/«BẤT LY DUYÊN» (liên tục nội dung, «dòng điện tâm»), 6/«ĐỒNG SINH DUYÊN» (cùng hiện hữu), 7/«A-NHÃ-DUYÊN» (tương tác sinh hoạt), 8/«Y CHỈ DUYÊN» (nương tựa đa phần), 9/«ĐẠI Y CHỈ DUYÊN» (nương tựa toàn phần), 10/«TIỀN LỆ DUYÊN» (xảy ra trước), 11/«HẬU LỆ DUYÊN» (xảy ra sau), 12/«TÁI DIỄN DUYÊN» (có sự lập lại), 13/«TÙY NGHIỆP DUYÊN» (do hiếu động mà vận hành), 14/«TÙY QUẢ DUYÊN» (do thành tựu rồi vận hành), 15/«DINH DƯỠNG DUYÊN» (do có nuôi nấng mới vận hành), 16/«CĂN QUYỀN DUYÊN» (vận hành bỡi năng lực giác quan), 17/«THIỀN DUYÊN» (nhờ định tâm mà vận hành), 18/«ĐẠO DUYÊN» (do đã đạt được lộ trình tới đích), 19/«TÙY TÙNG DUYÊN» (do có sự phò trợ mói vận hành), 20/«CÔ DUYÊN» (do hoạt động đơn phương trong vận hành)…..

-Và «4 DUYÊN SAU CÙNG» (từ 21 đến 24), ám chỉ xung quanh việc…«DỰ PHẦN TẠO NGHIỆP» của 2 TÌNH TRẠNG «có mặt và tồn tại» hay «có mặt rồi biến mất».

<>Tất cả nhữngĐIỀU KIỆN (hay DUYÊN HỆ) kể trên, KHÔNG PHẢI chỉ liên quan «một cách đại khái» đến sự TẠO NGHIỆP, mà là chúng GÓP PHẦN đủ chi tiết CHÍNH XÁC cho TẠO NGHIỆP ! -Từ đó suy ra…-nếu 24 DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna) không thuộc về KHOA HỌC (Vijjā udapādi) thì chúng chẳng thể ở trong «lãnh vực» nào khác !

*-Chưa kể chữ «PHÁP» (Dhamma) trong nhà Phật, là một «từ ngữ» chuyên chở khá nhiều Ý NGHĨA rất sâu xa, nhất là khi nó «được ráp» với chữ DUYÊN (Paccaya) thành ra «PHÁP DUYÊN» (Dhamma paccaya), thì lại khó ai có thể diễn tả một cách tổng quát. -Nhưng «ý nghĩa trọng tâm» của chữ PHÁP ở đây, vẫn là ám chỉ «tất cả những gì làm duyên PHÁT SINH RA HÀNH ĐỘNG, rồi đưa đến kết quả…-trong đó có 3 đặc tính, gồm 1/THUẬN (tốt=thiện), 2/NGHỊCH (xấu=ác), và 3/VÔ TÍNH (trung hòa)… ».

*Ví như người có tâm hồn chân thật, thích sống hợp pháp, thường làm nhiều việc thiện…thì «THỜI GIAN» hay «TINH THẦN» của họ biến thànhTỐT, lành mạnh, không mang «ẤN TƯỢNG bị chê trách» (tương đương với tội lỗi, suy đồi). Đó là một «CẢM GÍAC rất lý hóa», và rất khoa học. Vì NÓ không phải bắt nguồn bằng «phán xét chủ quan» (một dạng ÍCH KỶ), mà chính là một «phản ứng hằng hữu bên trong TỰ TÁNH». Nhưng nếu TÂM THỨC bị VÔ MINH (Avijjā) che áng, thì «nạn nhân» không nhận ra SỰ THẬT ấy. Nghĩa là họ đui mù với chính họ, cứ để cho thân tâm bị lôi cuốn theo THAM SÂN SI, rồi trở thành VÔ MINH (Avijjā)…cứ ảo tưởng cho rằng, TA (hay TÔI=ngã) có thể dẫm lên «luật TỰ NHIÊN», và «tự mình tha thứ hành động xấu, một cách phản khoa học», gian lận nhằm «trốn tránh trách nhiệm» ! -Nhưng….họ càng tư duy bất chánh, thì sợi dây của NGHIỆP QUẢ, càng ràng buộc họ một cách vô hình, trong oan trái hai chiều».

*Hiện tượng người ta thường «phủ nhận VAY TRẢ nghiệp quả» còn gián tiếp nói lến rằng, đó là PHẢN ỨNG TÂM LÝ nằm sâu trong VÔ THỨC (non conscience) của phàm nhân» hằng rất sợ HẬU QUẢ của hành động xấu, nên «tự bộc lộ phản khoa học» như vậy. -PHẢN ỨNG nầy chính là «bộ mặt» của VÔ MINH (Avijjā) !

<>Nói cách khác, khi tinh thần bị VÔ MINH che áng, thì phàm nhân KHÔNG biết rằng, TIẾN TRÌNH NGHIỆP QUẢ (Kammavipāka pavatti) lôn luôn vận hành NHƯ THẾ (Tathāgata), tức là VÔ MINH hay PHẢN KHOA HỌC (Avijjā), thì Phật học gọi là NGHỊCH PHÁP (Adhammena), vốn không thể nào xóa được SỨC NẶNG của TRÁCH NHIỆM. -Nghĩa là LUẬT NGHIỆP QUẢ chẳng tùy theo ý muốn của bất cứ quyền năng nào cả.

*Nếu trong VÔ-MINH (Avijjā), THỜI GIAN có vẻ như «thụ động, vô nghĩa», thì trong ANH MINH (Vijjā) hay khoa học), THỜI GAN lại đóng vai quyết định, vì nó cũng là TINH THẦN (Maṇo), là «chủ tể của mọi hành vi», như 2 câu đầu trong sách PHÁP CÚ đã nói :

1/ “Maṇo pubbaṃ gamā dhamma

Maṇoseṭṭhā maṇo mayā

Maṇasā ce paduṭṭhena

Bhāsati vā karotivā

Tato naṃ dukkhamanveti

Cakkaṃ vā vahato padan’ti”

Thoát dịch Việt :

“Mọi pháp hành do tâm dẫn đầu,

Tâm là “chủ”, tâm điều động tất cả,

Người hành động bằng ác tâm,

Thì quả khổ sẽ đi theo,

Như bánh xe lăn sau chân con bò”.

————–

2/ “Maṇo pubbaṃ gamā dhamma

Maṇoseṭṭhā maṇo mayā

Maṇasā ce pasannena

Bhāsati vā karoti vā

Tato naṃ sukkhamanveti

Chāyā’va anapāyinī”.

Thoát dịch Việt :

“Mọi pháp hành do tâm dẫn đầu,

Tâm là “chủ”, tâm điều động tất cả,

Người hành động bằng thiện tâm,

Thì quả lành sẽ đi theo,

Như bóng đen phía sau người”.

-Cũng theo DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa), THỜI GIAN (Kāla) là cái khuôn đúc ra 3 loại TÂM THỨC, là thiện (kusala) hay ác (akusala), và trung tính (kiriya). Nói rộng ra, «DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna) là NGUỒN GỐC của Vũ TRỤ», của «VẠN VẬT XUNG ĐỘNG». -Đây là một QUANG KIẾN được xác nhận, do «Bản Sắc Khoa Học trong GIÁC NGỘ».

<>Sau cùng, nói về  «HIỆN THÂN» (Punnaravatāra) của DUYÊN HỆ, chúng tôi xin phép được trình bày dưới dạng DẪN ĐẠO CỘNG NGHIỆP, của một số người có «ảnh hưởng lớn» đến quần chúng, trong các vai trò xã hội như sau :

*Đối với VĂN MINH VẬT CHẤT, thì những «cá nhân ưu tú», hay các «nhà thông thái» (còn gọi là «khoa học gia»), cần có «3 phẩm cách» để tiến bước và đóng góp vào «VĂN MINH LÝ HÓA» của nhân loại…là :

1/Phải có kiến thức cao thâm về toán học,

2/Phải có sức khỏe thân thể tốt, bao gồm hệ thống thần kinh quân bình», và

3/Phải có tinh thần rộng lượng, cải tiến… không cố chấp vào thành quả hiện tại.

*Đối với «VĂN MINH TÂM LINH» (nguồn gốc phát sinh ĐẠO ĐỨC), thì các «nhà hiền triết hằng SỐNG MỘT CÁCH KHOA HỌC, hướng đến giác ngộ», cũng phải có «3 phẩm cách tương đương» với trên. Nhưng về mặt tinh thần, họ chính là những gương sáng của một nền «VĂN MINH LÀNH MẠNH». Phẩm cách của họ là :

1/Ưa thích sự thanh tịnh (parisuddhi), và sinh hoạt hằng ngày trong PHÁP THIỀN (jhāna).  

2/Có sức khỏe thân thể tốt, quen sống với kỷ luật (không khó khăn trong việc giữ giới=sīla), bao gồm cả «CÁC PHÉP vệ sinh tinh thần» (chánh định, chánh kiến, chánh tư duy), và…

3/Có tâm thức khinh an (passaddhi)), không mắc dính vào bản ngã, và vào đạo quả hiện tại, tức là tâm thức thường xuyên VÔ CHẤP, hay HỶ XẢ (=upekkhā).

<>Tuy nhiên, những «PHẨM CÁCH» quí hiếm trên đây, rất khó hội đủ một cách dễ dàng, trong cuộc sống phàm tục. Nhưng «cộng đồng tin Phật» vẫn nghĩ rằng, khi những người đứng đầu xã hội ĐÃ THỨC TỈNH, tâm thức thoát khỏi các khung tư tưởng «duy vật» hay «duy tâm», hết cực đoan -chẳng còn tự mãn với bản ngã, và tự khai thị chính mình. Họ sẽ phối hợp kiến thức của chính mình với Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo, để tìm «GIẢI PHÁP CHUNG»….thì sự thiết lậpphát triển TÍNH QUÂN BÌNH giữa 2 phương diện khoa học (=cụ thể vật chấttrừu tượng tâm linh), sẽ giúp rất nhiều trong việc cải thiện đời sống, tô bồi đạo đức…đang mỗi ngày một suy đồi !  GIẢI PHÁP CHUNG nầy có thể gọi là «KHOA HỌC TÂM VẬT» (Rūpanāmasa Vịjjā).

<>Trong khi chờ đợi cái HIỆN TƯỢNG LÀNH MẠNH ấy xuất hiện, chỉ cần các nhà trí thức «khoa học duy vật» chịu khó nghiên cứunhận chân rằng, «DUYÊN HỆ trong Phật giáo» chính là NHỮNG QUI TẮC để cải thiện HÀNH ĐỘNG (=nghiệp), tức là cải thiện SỰ SỐNG (Jīvita niyamā) một cách CỤ THỂ và TRỪU TƯƠNG, -tương đương với các định luật hệ luận trong VẬT LÝ và HÓA HỌC, áp dụng trên những vật CÓ THỂ THẤY bằng mắt thường, và KHÔNG THỂ THẤY bằng mắt thường…

-Khi đó, sự ÁP DỤNG của KHOA HỌC THÂN TÂM vừa nêu trên đây, sẽ có cơ hội được THỂ HIỆN một cách minh bạch, xóa tan mọi hình thức «đội lớp Phật giáo truyền đạo ngu dân» (đầy mê tín dị đoan !), nhuộm đen tinh thần…do một số người đã làm, đối với quần chúng thật thà, khát khao đạo đức. -Theo VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), bất cứ hình thức mê dín dị đoan nào, cũng đều Ô NHIỄM, phản khoa học ! -Từ đó «PHẬT HỌC THUẦN TÍNH» sẽ có thể sẵn sàng phối hợp với KHOA HỌC CỤ THỂ, để cho CÁC TIẾN BỘ LÝ HÓA ngày nay được «phát triển đồng bộ một cách tương tác và hợp lý» trên cả hai phương diện VẬT CHẤT (cụ thể) cũng như TINH THẦN (trừu tượng) !

*Và để bổ túc cho SỰ SOI SÁNG tính cố chấp vào 2 tình trạng «NHÌN THẤY ĐƯỢC» (cụ thể) và «KHÔNG NHÌN THẤY ĐƯỢC» (trườu tượng), chúng tôi xin cống hiến quí vị «câu chuyện khai thị» sau đây :

«Buổi tối nọ, một thiền sư bảo đệ tử vào phòng mình, lấy cho ông cuốn sách. Người học trò ngoan ngoản vô phòng của thầy, sờ soạng thật kỹ trên mặt bàn nhỏ, kê cạnh giường…nhưng chẳng tìm ra gì hết. Học trò liền bước ra, thưa thầy «con mò mẫm tìm kiếm cẩn thận mà không có sách !». Vị thầy bèn bảo «hãy đốt đèn lên mà tìm». Học trò liền vâng lời thầy, đốt đèn sáng trưng và cầm đi…thì thấy cuốn sách nằm trên giường. -Khi nhận cuốn sách, vị thiền sư «khai thị» đệ tử rằng «CÓ NHỮNG THỨ KHÔNG NHÌN THẤY, NHƯNG NÓ VẪN TỒN TẠI Ở ĐÓ». Người học trò tỉnh ngộ vội «cám ơn thầy»…».

*Cái «THUẬN PHÁP» trong «câu chuyện khai thị» nầy, là việc dùng CÂY ĐÈN, sản phẩm tỏa ra ÁNH SÁNG ! Nhưng «ánh sáng» tự nó lại vừa «cụ thể » vừa «trừu tượng». -CỤ THỂ vì ngưới ta có thể thấy nó khá rõ ràng. -TRỪU TƯỢNG vì nó rất lung linh…xuyên qua mọi ngõ ngách lớn nhỏ…. -Người ta không thể cột ÁNH SÁNG ở một chỗ nhất định. Và NÓ đến hay đi thì tùy ĐIỀU KIỆN KHOA HỌC hay DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna) !

Chỉ cần đồng ý rằng :

-Nếu dụng cụ để phát ra ánh sáng cụ thểcây đèn hữu hình (thấy được), thì dụng cụ để làm ra «ánh sáng trừu tượng» là tinh thần vô hình (không thấy được), xuyên qua KHOA HỌC TU TẬP  thân tâm, hay DUYÊN HỆ thiền pháp ! -BÁT-NHà!

-Trên đây, chúng tôi nói «cái HIỆN TƯỢNG LÀNH MẠNH, khi xuất hiện sẽ «điều chỉnh nổi cuộc đời», được xã hội luôn luôn qui về các nhà trí thức trong «khoa học duy vật», quả thật chúng tôi không dám coi thường quần chúng bình dân, nhưng nói vậy chỉ để «nhấn mạnh» một cách có «đối tượng», rằng TRÍ THỨC là «thành phần ưu tú trong xã hội», mang nhiều yếu tố có thể đóng vai «hiện thân» trong việc «CẢI CÁCH VĂN HÓA» cực kỳ quan trọng. ĐỐI TƯỢNG ấy là lớp người tiên phong trong việctái lập QUÂN BÌNH TÂM VẬT (thể xác và tinh thần), nhằm mục đích cải thiện sự sống loài người trên địa cầu, cả 2 phương diện :

<>Hiệu lực của ĐẠO ĐỨC cụ thể, tượng trưng là tiện nghi VẬT CHẤT, và

<>Hiệu lực của ĐẠO ĐỨC trừu tượng, tượng trưng là hạnh phúc TINH THẦN.

-Trường hợp các GIỚI TRÍ THỨC nói chung, hay những KHOA HỌC GIA nói riêng, không thể hội đủ diều kiện, để «hiện thân» làm VIỆC CẦN THIẾT ấy… thì đa số quần chúng bất hạnh, sống triền miên trong BẾ TÁC VẬT CHẤT và MỜ MỊT TINH THẦN, tự nhiên sẽ PHẢN ỨNG một cách không tránh khỏi, theo «lô-gic cùng tắc biến…», thì…đó lại là CHUYỆN KHÁC, nhưng TẤT CẢ vẫn nằm trong luật NGHIỆP QUẢ…vay trả nghiệm đúng muôn đời !

*Hơn nữa, nếu những người có TRÁCH NHIỆM với VĂN HÓA dân tộc hay VĂN HÓA nhân loại, vẫn xem GIÁO LÝ KHOA HỌC (Vijjā udapādi) «ẩn tàng» trong nhà PHẬT, (do Ngài Thích-ca Mâu-ni cống hiến đến thế gian, đã nhiều phen thăng trầm, cho đến ngày nay), chỉ như «cái kinh điển thần khải của một Tín ngưỡng nói chung», với những ĐÓNG GÓP «đạo đức qua nghi lễ», thì ấy quả thật là một thiệt thòi rất lớn, đối với loài người nói riêng, và đối với toàn thẻ chúng sanh nói chung !

Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ) -Pháp quốc. Paris 08/09/2021.

(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ CHỈ QUÁN trong mùa «tịnh thất»)

———

BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 4

*Liên quan đến “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ”.

(Kamma Vipāka Dhammo).

<>“NGHIỆP” là một từ ngữ hán việt, được dịch từ chữ Pālī “KAMMA” hay Saṅskrit “KARMA”, mà “nội dung” phải xem là “vừa dễ hiểu vừa khó hiểu”. “Dễ hiểu” vì ngày nay tiếng “NGHIỆP” lưu hành khá phổ thông trong ngôn ngữ dân gian Việt nam, -xem như ai cũng “biết”. “Khó hiểu” vì NÓ chứa một “CHIẾU SÂU PHẬT HỌCrất đặc biệt…khó ấn định trong lý lẽ lẫn thực tế.

-Xuyên qua SỰ SỐNG, người ta thấy NGHIỆP (kamma) có thể là “NHÂN” (hetu), mà cũng có thể là “QUẢ” (vipāka). Rồi “BIỂU TƯỢNG” của NGHIỆP, thì cũng “thay đổi” trong cả 2 trường hợp, là “tương xứng” và “bất tương xứng”. -Khi hiệu quả của NGHIỆP mà “tương xứng” thì người ta cho là “hợp lý”, còn ngược lại…thì gọi là “bất hợp lý”. -Tức là “Ý nghĩa” của chữ NGHIỆP trong Phật học “KHÔNG DỄ NẮM BẮT” !

-“KHÔNG DỄ NẮM BẮT” vì bốn chữ “NHÂN NÀO QUẢ NẤY”(yaṃ hetukaṃ taṃ vipākaṃ) mà dân gian quen “tin tưởng” không luôn luôn chính xác. Theo thiển kiến của chúng tôi, “nhân quả” ở đây tất nhiên là “nội dung” của “NGHIỆP” (kamma, karma), nhưng đạo Phật KHÔNG phát biểu dứt khoát là “nhân nào quả nấy” một cách cố định, như nhiều người lầm tưởng.  -Mà trong nhà Phật, thì chỉ có NGHIỆP NÀO QUẢ NẤY (yaṃ kammaṃ taṃ vipākaṃ), chứ không hề có “NHÂN NÀO QUẢ NẤY” !

-Cần nhắc lại một cách KHOA HỌC rằng, nhân có thể trổ quả cũng có thể không trổ quả, hay hạt có thể sinh trái và cũng không thể sinh trái (khi gặp điều kiện bất thuận, nghịch duyên). ĐẢO LẠI “hễ có trái (quả) thì phải có hạt (nhân)”, -như câu nói “một người có thể và cũng không thể sinh con, nhưng người ấy phải luôn luôn có cha mẹ”.

Thành ngữ nôm na NHÂN NÀO QUẢ NẤY” chỉ đúng trong hiện tượng thực vật, hay ám chỉ giản dị rằng “động vật giống nào thì sinh ra giống nấy. Hiện tượng nầy KHÔNG LIÊN QUAN ĐẾN tinh thần (hay khả năng của TÍNH TÌNH). Bốn chữ “NHÂN NÀO QUẢ NẤY” đang làm cho người đời, phải hoang mang khi kiểm chứng một cách duy vật hai chữ “NHÂN QUẢ” trong lãnh vực ĐẠO ĐỨC. Từ đó, người ta có thể bất tín nhiệm giá trị hay hiệu lực của sự ăn hiền ở lành, tức HẠNH KIỂM TỐT !

-Nếu lấy bốn chữ “NHÂN NÀO QUẢ NẤY” làm nền tảng để xây dựng đạo đức, rồi “nhắm mắt” tin tưởng, thì trước “thực tai sai biệt NHÂN QUẢ”, con người sẽ ngỡ ngàng và phản ứng bất mãn, khi đối diện với các hiện tượng kết quả thiện ác KHÔNG TƯƠNG XỨNG, lắm lúc nhân một đàng, quả một nẻo. Từ đó, NIỀM TIN của họ MẤT THĂNG BẰNG, chẳng còn ĐỊNH HƯỚNG…không biết sống như thế nào cho phải, để đối xử lẫn nhau ?!

*Tệ hơn nữa, là tình trạng ấy chắc chắn còn làm cho TƯ DUY XÃ HỘI trở nên KHỦNG HOẢNG, giữa một THỰC TẠI mỗi ngày một thiên về hưởng thụ VẬT CHẤT trong một nền VĂN MINH CƠ KHÍ phiêu lưu ! -Nhất là trước THỰC TẾ luân lý mỗi ngày một suy đồi, nhường chỗ cho sự “KHÔN NGOAN” của THAM VỌNG đang trở thành tinh vi…đa dạng ?!

Xin nhắc lại :

<>Đối với thảo mộc cây cối, thì “nguyên tắc” NHÂN NÀO sinh QUẢ NẤY có thể nghiệm đúng, theo hình thức chủng loại, -gieo “hạt xoài ngọt” thì về sau hái “trái xoài ngọt”, -trồng “hạt ớt cay” thì đến mùa gặt “trái ớt cay”. -Còn thú vật thì giống nào vẫn sinh ra giống nấy. Nghĩa là trên phương diện lý hóa cụ thể,thuần túy vật chất thì NHÂN và QUẢ xoay vòng, thì thường khi  tương xứng, -mặc dù ai cũng biết rằng đối với thực vật, “điều kiện thời tiết đất đai” cũng có thể làm cho hạt (TRƯỚC) và trái(SAU) sai biệt. -Tương tự như nghệ thuật pha giống của người chăn nuôi gia súc, có thể làm cho lứa sau khác lứa trước. -Còn “TỪ TRƯỜNG” (hay tâm cơ, “linh năng”) của thú vật hoặc thực vật thì “quá yếu” (so với loài người), nên không kể vào đây.

*Nói tóm lại, sự nghiệm đúng trên phương diện TỰ NHIÊN và VÔ TÂM THỨC ấy, không liên quan gì đến vai trò của TÁNH TÌNH trong TẠO NGHIỆP như con người, nên chúng ta không thể lấy đó làm NỀN TẢNG  của LUÂN LÝ hay TƯ DUY trong xã hội nhân bản.

-Trở lại phương diện TINH THẦN, hay “năng lượng tùy biến” trong “sinh vật hữu tình” (có TÂM THỨC hướng đến tình trạng tốt hơn), nhất là loài người…thì “năng lượng tốt” tương đương với tâm thức tốt trong bản chất bẩm sinh” (ahetuka citta), khi KHÔNG gặp môi trường (=điều kiện) thích hợp, thì KHÓ có thể trổ ra “hoa trái tốt”, gọi là “QUẢ LÀNH”. -Mà ngược lại, lắm khi HOÀN CẢNH bất thiện còn “xoay chiều”, đưa đẩy NGƯỜI TẠO NGHIỆP “dẫu có chủng tử tốt” vẫn phải nhận lấy “QUẢ XẤU”, trong bối cảnh “cộng đồng”.

*Ca dao Việt nam có câu “gần mực thì đen, gần đền thì sáng” rất Phật học. -Vì nó không căn cứ trên nhân sự (thông minh hay ngu dốt), mà ám chỉ một cách rõ ràng “SỰ TÙY CẢNH” (bỡi cộng nghiệp) thiết lập kết quả. -Nghĩa là câu ấy gián tiếp nói rằng, nền “GIÁO DỤC XÃ HỘI” quyết định hành vi con gười, hay tư duy cộng đồng, -Đây là cái GIÁO PHÁP mà Đức Phật đã quan tâm hàng đầu ! Người theo “đạo giác ngộ” luôn luôn nói rằng, “Đức Phật đã HOẰNG PHÁP độ sinh, hay CẢI HÓA con người” bằng cách làm gương, tự mình thực hiện điều lành để được quả lành, -chứ Đức Phật không truyền giáo”, trong cái nghĩa “dùng quyền lực, ảnh hưởng, hay dùng bí quyết để áp đặt tư tưởng của Ngài lên nhân sinh”.

<>Như vậy, HOÀN CẢNH XÃ HỘI (avatthā) mới chính là YẾU TỐ then chốt “chế tác” kết quả của một hành động, tương xứng hay không tương xứng với tâm bẩm sinh (ahetuka citta). Nhà Phật gọi HOÀN CẢNH (thuận lẫn nghịch) ấy, là ĐIẾU KIỆN tiên quyết (paṭicca samuppāda) hay DUYÊN (paccaya), để ấn định LUÂN LÝ (=đạo đức xã hội).

-Nếu bình tâm nghiên cứu sâu xa hơn trong kinh sách Phật-đà, chúng ta thấy có 2 danh từ là nhân duyên (hetu paccaya) và quả duyên (vipāka paccaya). -Và bỡi nhân duyênquả duyên, mà KHÔNG CÓ “qui định cứng ngắt” là “NHÂN QUẢ TUYỆT ĐỐI” trong sinh hoạt liên quan đến tâm tánh con người. -Nói cách khác, “người XẤU nếu tỉnh ngộ PHỤC THIỆN (trong hoành cảnh giáo dục khai trí), có thể thành Phật”, và “người TỐT nếu tối tăm TÍCH ÁC (trong hoàn cảnh giáo dục ngu dân), có thể thành ma”.

*Hiện tượng có nhiều người “thường xuyên ăn ở HIỀN LÀNH (nhân tốt) mà trọn kiếp vẫn gặp lắm BẤT HẠNH” (quả xấu), và ngược lại, cũng không ít kẻ hằng ngày sống HUNG DỮ (nhân xấu) mà cuộc đời lại “MAY MẮN THÀNH CÔNG” (quả tốt)…vốn KHÔNG liên quan gì đến GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ, do đức Phật thuyết minh.  

<>Nghĩa là theo Phật học, giữa NHÂN (hetu) và QUẢ (vipāka), vốn có một YẾU TỐ thứ ba rất quan trọng lẫn then chốt. YẾU TỐ thứ ba ấy có thể tạo ra sự SAI BIỆT(vividha), từ NHÂN đến QUẢ…mà chúng ta cần tìm hiểu cặn kẽ, để không vội qui nạp hiện tượng nhân quả một cách cứng ngắc, thiếu cơ sở ! -Ví như “người có hạt giống tốt (mập mạnh) mà đem gieo chỗ đất xấu, nhiều khi hạt chết. Và nếu nó mọc thì cây yếu ớt, về sau không đủ sức trỗ quả bình thường hoặc nếu sinh quả thì quả ấy sẽ xấu xí, chẳng xứng với nhân trước chút nào” là một chuyện không phải không có !

*Và mặc dù “vấn đề NHÂN QUẢ” cũng được nhiều giảng sư Phật học, dựa vào QUAN HỆ DÂY CHUYỀN, “kết nối” từ THỰC TẠI đến “nhân quá khứ”, hay “kết nối” THỰC TẠI với quả vị lai, để tạm giải quyết một cách “hợp lý” rằng, “những gì chúng ta ĐANG LÀM, sẽ cho quả tương xứng trong kiếp sau”, hay “những gì con người ĐANG NHẬN, là do chính họ đã gieo trồng từ nhiều kiếp trước”.

<>Nhưng lối giải thích nầy không thuyết phục một cách “lý hóa” cho lắm, trước một số “bằng chứng bất xứng” giữa cuộc đời. Người chấp vào “cụ thể”, thì không thể nhìn nhận cái “chân lý trừu tượng”, tuy xem ra “rất hợp lý”, gọi là “nhân quả ba đời”, nhưng nó lại “mơ hồ”. -Và dù THỜI SƯ trước mắt, có qui nạp “khá hiển nhiên” đi nữa, mà trên phương diện lý hóa BẤT liên tục, người ta cũng “không thể” tin chắc rằng “thực tại kiếp nầy (QUẢ) có thể được ấn định bỡi nghiệp kiếp trước (NHÂN)”.

-Đối với nếp sống tuân thủ vật chất, đa số người ngày nay tự nhiên phải nghĩ rằng, sau khi chết, thân thể con người sẽ mục nát, không còn dấu vết gì biến hóa CỤ THỂ cả, còn nói chi đến việc sự sống ấy đủ khả năng tái hiện ! -Kể cả câu chuyện hiếm có, xin tóm tắc :

“Một kẻ phản bội đã bày mưu đâm chết bạn mình, để đoạt vợ và tài sản. Xác nạn nhân được gian phu và dâm phụ cột chặt vào tảng đá lớn, rồi đem thật xa…vất xuống một hồ sâu rất rộng, hoang dã ít người lui tới. Nhà chức trách tìm mãi không ra thủ phạm… Câu chuyện tưởng như đã bị lãng quên. -Đôi ác nhân sau đó hạ sinh một con trai. Đặc biệt là thằng bé khi chào đời đã có 2 cái “bớt” màu tím trên người (1 trước bụng và 1 sau lưng, như “dấu” dao đâm vậy). Đặc biệt là từ khi chào đời, đứa bé luôn luôn khóc sợ và khó chịu, lúc được “cha” bồng…dường như nó không thích đối tượng. Nhưng “cha nó” chẳng chú ý, cho rằng đó là do tâm tánh “tự nhiên” của con…(-Kiểu nói “cha mẹ sinh con, không sinh tính”.)

-Khi thằng bé lên 13 tuổi…Một hôm sau cơn ác mộng, nó trở nên khác thường, ánh mắt lóe ra nhiều tia “oán hận” trước cả cha lẫn mẹ, nhất là đối với người cha. Từ đó, nó lạnh lùng…tìm dịp tốt…lẻn vào phòng đôi vợ chồng, lấy một số tiền, rồi kín đáo chạy ra tiệm mua một con dao bỏ túi sắc bén. Sau đó, nó bất thần đâm chết “người cha” (như trả thù vậy ?), rồi tự mình mang con dao đến đồn cảnh sát nhận tội.

-Khi được điều tra và đối diện với “mẹ ruột”, nó chỉ mặt đối tượng tố cáo tội đồng lõa sát nhân trước đó hơn 13 năm. Người đàn bà bị “lật tẩy” bất ngờ…Bà xấu hổ…phản ứng bằng cách dùng xách tay có khoen sắt, đánh thật mạnh vào mặt nó mấy cái (!). Thằng bé bị trúng chỗ nhược, liền té xuống đất ngất xỉu. Nhưng lúc tỉnh lại, nó tiếp tục tiết lộ nhều chuyện khác, chẳng hạn như nơi chốn có bộ xương người chết, bị cột vào tảng đá quăng xuống hồ, hơn 13 năm trước… -Kết cục, người mẹ đồng lõa sát nhân hết đường chối cải, trước những câu hỏi cung rất khoa học của cảnh sát tư pháp, và y thị đã nhận tội. Nhờ đó, ông tòa mới có đủ yếu tố kết án, và trừng phạt người ác một cách xứng đáng.

-Dù chúng ta luôn luôn tin tưởng vào “luật nhân quả”, nhưng với tính “tôn trọng LÝ HÓA” trong thái độ KHÁCH QUAN, chúng ta vẫn không thể chỉ căn cứ vào việc thấy bộ xương cột vào tảng đá, và một số bằng chứng khác (chẳng hạn như dây chuyền trên xương cổ nạn nhân), đi đôi với lời tố cáo của thằng bé…v…v… mà chúng ta “xác định 100%” cái “luật nhân quả”, một cách “thiếu đối chứng của nguyên cáo từ quá khứ quay về”. (-Chuyện vốn chẳng bao giờ có !) -Và vì sao chúng ta quá cẩn thận như vậy ?! -Vì vẫn còn một giả thuyết cho rằng, “thằng bé có thể bị người nào đó xúi dục”, do thù hằn cá nhân với cha nó !

*Trong đạo đức nhà Phật, một tinh thần “hiếu thiện” thường chọn giải pháp “thà nhận mình sơ xuất, để thả lầm hơn là tin lầm, kết tội lầm, và giết lầm” ! -Vì “thả lầmcòn có thể truy lùng, bắt lại kẻ ác, nhưng “giết lầmthì không thể làm cho nạn nhân đã chết sống lại !

*Nghĩa là, hiện tượng “NHÂN QUẢ BÁO OÁN” trong câu chuyện hiếm thấy trên đây, vốn nằm trong TÍNH HỢP LÝ của những người “duy tâm”, tôn trọng đạo đức xã hội. Nhưng như thế vẫn chưa đủ để nêu QUI KẾT một cách chắc chắn, khi không có những SOI SÁNG tối đa, nhất là với TRÍ VÔ TƯ trong khoa học TÂM VẬT. -Và đây cũng chính là SỰ NAN GIẢI của VẤN ĐỀ, đối với phàm nhân (như chúng ta), vừa muốn tìm kiếm SỰ THẬT vừa phải giữ tâm vô tư, trong sáng, khoa học !

-Quay lại đạo Phật…“TIẾN TRÌNH NGHIỆP QUẢ” mà bậc Toàn Giác đã thuyết minh, KHÔNG THỂ chỉ có “hiệu ứng” đối với những ai “duy tâm” hay “tôn trọng đạo đức”! -Mà GIÁO LÝ ấy còn phải soi sáng các pháp thế gian, và NGHIỆM ĐÚNG trong mọi trường hợp, một cách khoa học ! Vì “Phật” cũng là “một nhà khoa học”, đã thanh tịnh biết rõ tất cả vận hành giữa tinh thầnvật chất. Giáo lý mà Ngài cống hiến cho nhân loại, tất nhiên vốn đến từ ánh sáng BÁT-NHÃ, nền tảng của “Bản Sắc Khoa Học trong nhà Phật”.

-Lại nữa, số người thực sự học hành theo lời Phật dạy, có đủ tính sáng suốt, và không kết luận cẩu thả, nhờ THẤU ĐÁO “hiện tượng nghiệp quả” trên cuộc đời… xem ra quá ít, -nhất là trong nếp sống hiện tại, mỗi ngày một thiên về hưởng thụ vật chất ! -Một TÌNH TRẠNG rất thuận lợi cho tham sân si…và rất trở ngại cho “đóng góp” của đạo Phật nguyên thủy !

*Đây cũng chính là LÝ DO, thúc đẩy chúng tôi nêu ra chủ đề Bản Sắc Khoa Học trong Phật Giáo, xuyên qua một loạt bài phát biểu khiêm nhượng. Chúng tôi không ngại sẽ bị nhiều người bất đồng ý kiến, rồi “qui kết” rằng chúng tôi “nặng tính chủ quan”, hay “thích cường điệu”, cố ý quảng cáo cho “tín ngưỡng” của mình !

<>Hơn nữa, vì vấn đề “NHÂN QUẢ” theo quan niệm giản dị của thế gian, đã làm cho khá nhiều người “thất vọng” một cách vô lý, và mất định hướng đến độ có thể “hiểu lầm” Phật giáo. Do đó, nhắc lại “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ là một điều rất cần thiết, để “minh bạch hóa giải” hay “soi sáng” vấn đề, và đồng thời cũng không đi ngược kinh điển nhà Phật.

Vậy “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ” là gì ?

<>Ngay khi vào đề, chúng tôi đã nói, “NGHIỆP” là một từ ngữ “hán việt”, được dịch từ chữ Pālī “KAMMA” hay Saṅskrit “KARMA”, mà “nội dung” vừa dễ hiểuvừa khó hiểu. -Nhóm từ “dễ hiểu và khó hiểu” ở đây, không ám chỉ một “bài toán nan giải”, mà là NÓ phản ảnh một “ngụ ý” nói lên tính dễ dãi của những người có cảm tình với đạo Phật, rằng “Miễn là nhằm mục đích hướng thiện là đủ rồi, còn kiểm chứng chi tiết cụ thể thì…tính sau!

-Nhưng rất tiếc, xã hội ngày nay là một cộng đồng bị lôi kéo rất mạnh bỡi vật chất. Một mặt người ta tỏ ra “nặng về” sự hợp lý (?), -mặt khác, bất cứ điều gì người ta cũng đem ra kiểm chứng một cách “đòi hỏi liên hệ thực tế”! Và một giáo pháp đến từ ánh sáng GIÁC NGỘ (=bát-nhã) mà lại “không nghiệm đúng”, thì quả thật là một điều vô cùng đáng tiếc !

-Tình trạng đó thúc đẩy chúng ta phải “xét lại” cái HỌC của chính mình, để nghiên cứu sâu xa hơn, trên phương diện KHOA HỌC THÂN TÂM (khảo sát mối liên quan tinh thần và vật chất), hầu xứng đáng với cái tên “tín đồ của đạo Giác ngộ” (Sampajaññayana).

<>Theo A-Tỳ-Đạt-Ma (Abhidhamma) trong Phật giáo, thì “NGHIỆP QUẢ”, hay “NGHIỆP đưa đến QUẢ” (Kamma=>Vipāka) là một tiến trình tổng hợp của SỰ và LÝ (Attha & Dhamma), gồm 3 yếu tố “ắt có và đủ” như sau :  

1/Phải có TÁC Ý (tốt hoặc xấu) ở NỘI TÂM (Cetanā=Maṇasikāra), trong khi hành động.

2Phải đang nhắm vào một ĐỐI TƯỢNG nào đó (gọi là “định cảnh”=ālambana), và

3/Phải kết thúc HÀNH ĐỘNG, tức là thực hiện xong ý định (tốt hoặc xấu) ấy (kara).

Từ ĐÓ suy ra, chúng ta có 4 “hệ luận” A-B-C-D của NGHIỆP như sau :

A-Một “hành vi NGOÀI TÁC Ýphát ra vu vơ, thì gọi là “NGHIỆP VÔ NHÂN” (ahetuka kamma). NGHIỆP nầy không quả oan trái (đối với sinh linh khác trong kiếp sống),nhưngvẫn cóQUẢ,là làm cho quen tật lơ đảng. Một dạng vô minh rất nguy hiểm, nguồn gốc của sa đọa.

B-Một “vận hành của TÁC Ý trong tâm” (tốt hay xấu), nhưng chưa thực hiện” bằng thânhay bằng miệng, thì gọi là “Ý NGHIỆP”(maṇo kamma). Nó sẽ không trổ quả báo ứng (đối với sinh linh khác), nhưng vẫn có quả tự làm cho tâm bị tràn ngập bỡi các tư tưởng nội tại, thiện ác lẫn lộn.

C-Một “TÁC Ý theo tư tuởng (tốt hay xấu) đã quyết định trước một đối tượng (tức là cảnh) nào đó, mà người ta thi hành xong (bằng thân hay bằng miệng), thì gọi là THÂN NGHIỆP (Kāyakamma) hay KHẨU NGHIỆP (Vacīkamma). Nó sẽ trổ quả báo ứng đối với ít hay nhiều sinh linh khác trong cuộc đời. QUẢ ấy chắc chắn sẽ đến trong kiếp nầy hay kiếp sau.

D-Một “KẾT QUẢ” (vipāka) tốt (subha=mānāpa) hay xấu (asubha=amānāpa), có oan trái (dāyādayogga) hay không oan trái (adāyādayogga), thì luôn luôn tùy theo TÁC Ý (=dự định) mạnh hay yếu(cetasika=manasikāra) khi TẠO NGHIỆP. -Có thể được trình bày như sau :

a/ Quả TỐT (subha=kusala=thiện) thì sẽ không tự yếu đi để hóa giải, nếu người TẠO NGHIỆP chưa tinh tấn tu hạnh BUÔNG XẢ (Upekkhā bhāvanā).

b/Quả XẤU (asubha=akusala=bất thiện=ác) cũng sẽ không tự yếu đi, để trở thành hóa giải, nếu người TẠO NGHIỆP không thức tỉnh và chân thành PHỤC THIỆN.

A-Tỳ-Đạt-Ma (Abhidhamma=Vi Diệu Pháp) còn nói rõ :

<>Một NGHIỆP (Kamma) nói chung được thành lập, lúc nào cũng bao gồm TÂM THỨC (citta-viññāna), và NGOẠI CẢNH (bahiddhā-rammaṇa), hay “đối tượng bên ngoài” (khung hoạt động).Nhưng “đối tượng bên ngoài” ấy, nếu ám chỉ lần tiếp xúc thứ nhấttrong bộ máy LUÂN HỒI (Saṃāra),thì rất xa xưa…bất khả “thuyết”, vì nóthuộc về “quá khứ khởi thủy”, phàm nhân không ai nhớ nổi, -tất nhiên không được kể vào đây. Và “SAU sự tiếp xúc đầu tiên xa xưa” ấy, các “ngoại cảnh mạnh, đã được ghi lại trong tâm”, biến thành “hình ảnh nội tại”, mà Phật học gọi chung là “NỘI CẢNH”, chìm trong dòng hữu phần (maṇārammaṇa, bhavaṅga), hoặc “A-lại-da thức” (ālaya), hay “TÂM SỞ” (Cetasika), tương đương với tên khoa học là “tiềm thức” (sub-conscience) trong khoa “Phân Tâm Học” Tây phương.  

-Toàn bộ “hình ảnh tích tụ từ vô thỉ quá khứ” ấy, còn có môt tên khác trong Phật giáo, là TƯỞNG UẨN (Saññakkhandha), ám chỉ một cái KHO bao trùm cả NỘI CẢNH (Ajjhattārammaṇa) lẫn NGOẠI CẢNH (bahiddhā-rammaṇa) hằng phản ảnh tương tác lẫn nhau. Có sách gọi ấy là TOÀN TÂM CẢNH (Sabbacitta ārammaṇa). -Từ đó, sư sống của con người không phải đơn giản, mà là phức hợp của NỘI CẢNH (Ajjhattārammaṇa) và NGOẠI CẢNH (bahiddhā-rammaṇa), xuyên qua “5 giác quan cụ thể” (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), và “1 giác quan trừu tượng” (ý), mà NÓ còn bao trùm tất cả trong ngoài. Nhưng để “giản dị hóa”, TOÀN TÂM CẢNH chúng ta có thể xem ẤY là “những gì” con người “thấy được” trong tinh thần, tổng kết của 6 đối tượng giác quan,SẮC, THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP, -nói nôm na là TRẦN CẢNH (Rūpaloka) !(Lưu ý : “CÕI” (bhūmi, loka) trong Phật học không ám chỉ duy nhất cảnh tượng bên ngoài, mà bao trùm cả tất cả những gì bên trong tâm thức !).

-Ngoài “NỘI CẢNH” và “NGOẠI CẢNH” ra, Phật học còn giúp chúng ta nhận diện một “CẢNH THỨ BA” (ít ai để ý), là “NGHIỆP CẢNH” (kamma ārammaṇa). Và theo một “hợp lý cá biệt” (rất khoa học), NGHIỆP CẢNH vốn có đặc tính “biến hóa theo độ dày” của TƯỞNG UẨN (Saññakhandha), -nghĩa là “cùng một vật” mà xuyên qua “tưởng uẩn cá biệt”, 2 người có thể “nhìn thấy” với 2 TÂM TRẠNG khác nhau hoặc “giống nhau”. Và đó là “khởi điểm” của “THUẬN Ý” (ái rồi thủ) hay “NGHỊCH Ý” (hận rồi thủ), -một cặp DUYÊN CÁ BIỆT.

*Cả 2 trường hợp “chứa đựng đầy đủ” các “dấu ấn mạnh nhất” hay còn gọi là “hiệu số” của tất cả những hành vi THIỆN hay ÁC suốt một đời người. HIỆU SỐ nầy sẽ tự động hiện ra trong TÂM lúc “cận tử” (cuticitta), ngay trước “sát-na tục sinh” (paṭisandhi-khaṇa).

<>Chúng tôi “dài dòng” như thế, chỉ với mục đích “nhấn mạnh” rằng “các điều kiện để con người tạo NGHIỆPnhận QUẢ khá phức tạp”. -Chưa kể trong TÁC Ý (cetanā) khi tạo nghiệp, còn có “áp lực” (ogha) của 3 NHÂN ÁC (tham sân si), hay của 3 NHÂN THIỆN (vô tham, vô sân, vô si). -Câu nói thuần lý thuyết, “nhân nào quả nấy” do thế gian “truyền miệng” hoàn toàn không bao gồm những dữ kiện nầy, thì làm sao NHÂN QUẢ nghiệm đúng được !?

*Nói tóm lại, những điều kiện nầy là DUYÊN HÀNH (Paccaya saṅkhārā). Nghĩa là nếu muốn cho NHÂN và QUẢ tương xứng, thì chúng phải “thông qua” DUYÊN HÀNH (hay hệ dây chuyền của hoàn cảnh). Đây chính là lý do mà trong đoạn trước, chúng tôi đã giới thiệu 2 “đặc từ” NHÂN DUYÊN và QUẢ DUYÊN. Và cũng vì cái DUYÊN ấy mà “nhân quả tiếp tục xoay vần”, “TRƯỚC SAU hoán vị nhau”, không bao giờ chấm dứt trong “bộ máy luân hồi”.

<>Nhân tiện, “nói thêm” về 2 chữ LUÂN HỒI (Saṃsāra) một chút. LUÂN HỒI có nghĩa là “đi tới trong cái hướng sẽ quay lại khung cảnh sống, khác hay giống cũ”. Và quả đất là “HIỆN VẬT” nâng đỡ cáiKHUNG CẢNH CŨ ấy. Đó là một khối kết hợp khổng lồ, gồm chất đặc, chất lỏng, chất nóng, và chất hơi), đang “giao thoa tồn tại” bằng cách quay tròn. -Từ đó, KHÔNG GIAN và THỜI GIAN đồng thời hiện hữu vận hành, gọi là “THƯỢNG HẠ KHÍ QUYỂN” (Loka=atmosphère) bao phủ địa cầu, với 4 mùa xoay vần Xuân Hạ Thu Đông, thích hợp cho sự xuất hiện và nẩy nở của vạn vật…

*“LUÂN HỒI” (hay quay lại hướng cũ) là một tuần hoàn tự nhiên của tất cả những gì thuộc về động,  như quả đất trong THÁI DƯƠNG HỆ. Sự LUÂN HỒI không phải là một giáo thuyết do Đức Phật đặt ra, mà là một QUI LUẬT thuần túy LÝ HÓA. Từ đó, hiện tượng “sinh tử luân hồi” thuộc về mặt đất, cộng với bầu khí quyển, và không gian vô tận, là “3 cõi” mà nhà Phật gọi là DỤC GIỚI (Kāmaloka), SẮC GIỚI (Rūpaloka), và VÔ SẮC GIỚI (Arūpaloka). -“Hễ có động, có xoay vòng…thì phải có luân hồi”…Ấy là SỰ THẬT muôn đời !

*Trong DỤC GIỚI (Kāma loka), thì có LUÂN HỒI HỢP THÂN (thể xác) và LUÂN HỒI HỢP TÂM (tinh thần). Luân hồi hợp thân là sự kết cấu và tái sinh của “vật chất” (rūpa), gồm đất, nước, lửa, và khí ở dạng thô kệch (hữu hình). Còn luân hồi hợp tâm là sự kết hợp và tái suất hiện của điện tâm dựa trên đất, nước, lửa, và khí ở dạng vi tế (vô hình).

*Trong SẮC GIỚI (Rūpa loka), thì có LUÂN HỒI LƯỢNG TỬ” và “LUÂN HỒI LƯỢNG ẢNH”. “Luân hồi lượng tử” là sự kết hợp và tái suất hiện của “siêu vật chất” (abhirūpa), gồm bạch hỏa, và thanh khí ở dạng hào quang (kết nối một vùng). Còn “luân hồi lượng ảnh” là sự kết hợp và tái suất hiện của khinh hỏa, và chân khí ở dạng triều quang (kết nối vô cùng).

*Trong VÔ SẮC GIỚI (Arūpa loka), thì có “LUÂN HỒI TỊNH QUANG” và “LUÂN HỒI TOÀN QUANG”. “Luân hồi tịnh quang” là sự kết hợp và tái suất hiện của “cực siêu quang phổ” (sabhirūpa), gồm chân hỏa, và chân khí ở dạng thanh tịnh (soi sáng khắp nơi). Còn “luân hồi toàn quang” là sự kết hợp và tái suất hiện của vô ảnh hỏa, và vô biên khí ở dạng nguyên tịnh (tương đương với “thần thông”).

<>Theo Phật học, trong mỗi chúng ta KHÔNG CÓ một linh hồn bất biến, trường cửu, , nhưng có một CÁI mà chúng ta chẳng thể dùng ngôn ngữ qui ước, đặt tên chính xác được. Chúng ta chỉ tạm gọi ẤY là “SIÊU NĂNG LƯỢNG” hay “CHÂN GIÁC” (Bud). “Siêu năng lượng” nầy biến hóa theo NGHIỆP TỐT (kusala kamma) hay NGHIỆP XẤU (akusala kamma), để “phản chiếu lên chính nó”, rồi TỰ TRỞ THÀNHkhinh thoát” (tiến hóa, thăng hoa, hạnh phúc) hay “nặng nề” (thoái hóa, sa đọa, bất hạnh).  

*Từ đó, NGHIỆP DUYÊN (kamma paccaya) trổ ra QUẢ DUYÊN (vipāka paccaya) tốt (kusala) hay xấu (akusala), là một “giải trình hoán vị 2 chiều” (paramètre alternatif parallèle = thông số song song tương tác), rất khoa học, gắn liền với KHÔNG GIAN và THỜI GIAN xoay vần (movement circulaire, spiral), chứ không phải là một “giáo điều tín ngưỡng” thuộc về “phán quyết toàn năng”. KHÔNG GIAN và THỜI GIAN ở đây chính là “2 yếu tố” làm “nguồn gốc không đầu không đuôi” cho LUÂN HỒI.

*Kết quả, tên gọi của 2 THỜIđã qua” và “chưa đến”, trong “TƯỞNG UẨN” (Sañña khandha=trí nhớ con người) đều KHÔNG THẬT, chúng luôn luôn tương đối. Thực tại trước mắt chỉ là kết quả của đã qua, và cũng là nguyên nhân của sắp đến. THỰC TẠI vốn THẬT và “đại diện” cho cả 2 bất định, nên Phật học khuyên chúng ta nên “sống trong hiện tại”, để may ra “nắm bắt” được CHÂN LÝ nơi chính mình !

Thử suy gẫm 3 dòng chữ liên quan đến thời gian sau đây :

Hôm nayTHỰC TẠI đang sống. Nó đến sau hôm qua, đồng thời cũng đi trước ngày mai.

Hôm qua THỰC TẠI của chính nó, nhưng đến sau ngày hôm kia, và đi trước hôm nay.

Ngày maiTHỰC TẠI của chính nó, nhưng đến sau hôm nay, và phải đi trước ngày mốt.

*Cả 3 thời đều chứa THỰC TẠI (Saṭipaṭṭhāna paccuppanna), vì ở đâu cũng có 2 chữ “BÂY GIỜ” (idāni). Nói cách khác KHÔNG GIAN và THỜI GIAN chỉ là “một chuỗi” những “thực tại nối tiếp nhau” không ngừng. “Thánh nhân” hay “phàm nhân” vốn khác nhau ở chỗ ẤY, -một bên “giác ngộ sự thật, và thanh tịnh, sáng suốt, biết dừng lại để nhận thức đúng THỰC TẠI”, -còn bên kia “say mê ảo ảnh, rồi hiếu động tiếp tục đi mãi”, phiêu lưu trong RỪNG TẠO NGHIỆP, bị tràn ngập (ogha) bỡi ánh sáng bóng tối, bỡi tốt xấu, bỡi thăng đọa, mất định hướng…luân hồi !

<>Thử nhắc lại câu nói thường nghe “không ai có thể kéo lùi thời gian”. Câu nầy chỉ đúng nếu nói về “nhan sắc”, nhưng NÓ không chính xác khi ám chỉ “việc gì đã làm thì không thể sửa lại được”. -Vì theo Vi Diệu Pháp trong Phật giáo, “cải thiện cái QUẢ cũng có nghĩa là cải thiện cái NHÂN”. -Mà cải thiện THỰC TẠI là cải thiện CÁI QUẢ. Từ đó, người tin Phật không bi quan cho rằng “nghiệp quá khứ không thể điều chỉnh”.

*Như trên vừa nói, “THỰC TẠI hiện hữu trong cả 3 THỜI”. “Làm thiện để tiến hóa trong thực tại chính là chỉnh lại sự lạc hậu trong quá khứ”. Một chiếc xe hơi đã được chế tạo VỤNG VỀ trước đây nhiều trăm năm, nhưng nhà sản xuất, từ đời nầy qua đời khác…không ngừng cải thiện THỰC TẠI, nên ngày nay chiếc xe TỐT HƠN trước kia rất xa. THỨC TÁNH (hay thân tâm) nếu tu hành cũng THĂNG HOA như thế !

Quay lại chữ DUYÊN (Paccaya) :

<>Theo Phật học, hiện tại là DUYÊN, quá khứ cũng là DUYÊN, tương lai vẫn là DUYÊN. Cả ba thời đều là DUYÊN, tức là trần cảnh bên ngoài (=KHÔNG GIAN), lẫn tâm cảnh bên trong (=THỜI GIAN) hằng làm thay đổi THỰC TẠI, và thiết lập “hiện hữu liên tục, một cách tạm thời. -Nếu “duyên tốt ở thực tại” có thể “hóa giải” được cái QUẢ TRƯỚC MẮT của NGHIỆP quá khứ, thì duyên tốt (kusala paccaya) ấy cũng có thể “hóa giải” được HẬU QUẢ cộng nghiệp, SẼ ĐẾN trong tương lai.

-DUYÊN TỐT nói chunglà ĐẠO ĐỨC, hay kết tinh của chánh kiến (sammā diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā saṅkappo). Nếu duyên tốt thường phối hợp với thiện pháp (kusala dhammā), do HIỆU LƯC của GIÁC NGỘ và GIÁO DỤC thúc đẩy, có thể làm cho thực tại thăng hoa, thì DUYÊN XẤU hay PHẢN ĐẠO ĐỨC, tức HIỆU LỰC của tà kiếntà tư duy, chẳng những đã không bồi bổ gì  cho HIỆN QUẢ, mà còn làm “thực tại” xấu đi, suy đồi và bị lạc hướng, rơi vào xung đột, đắm chìm trong u-minh, si mêsa đọa.  

*Đức Phật là một nhà giáo dục siêu việt, Ngài đã đạt đến “hạnh sống toàn xả và quân bình thanh tịnh”, trên cả 2 phương diện vật chất và tinh thần. Ngài hằng dùng TRUNG ĐẠO (Majjhimapaṭipadā) như một “khoa học thực nghiệm”, để “thăng hoa” nhân cách của chính Ngài, xuyên qua vô số kiếp, rồi sau cùng cống hiến GIẢI PHÁP đến tam giới chúng sanh, đào tạo nếp sống lành mạnh cho con người. Chúng ta có thể xem “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ” của Phật như “cẩm nang” để vững vàng sống THIỆN”.

<>Theo Phật giáo, THÂN nầy KHÔNG phải “ngẫu nhiên” mà có. Đó là “sản phẩm” của NGHIỆP LỰC (kammabāla) trong từng cá nhân. NGHIỆP LỰC ấy có “sức mạnh tổng kết” của NHÂN phối hợp với QUẢ, “thông qua” những RÀNG BUỘC từ các điều kiện sống, gọi là DUYÊN. Và sự VẬN HÀNH của “bộ ba” nhân duyên quả sẽ biểu lộ ra hiện tượng, một cách vừa hợp lý vừa vô lý, nên người đời không thể diễn giải bằng “qui trình lý lẽ” được, -nhất là đối với những kẻ “thuần túy duy vật”, thì càng không thể chấp nhận !

-Thử nêu rằng, “cái gì người ta thích thì người ta nắm giữ, ôm ấp” (=ưu ái), Phật học gọi là THỦ (upādāna), -hay “cái gì người ta không thích thì người ta ruồng bỏ, vất đi, quên mất” (=đố kỵ) cần gọi là BẤT THỦ (nupādāna).  Nhưng VẬN HÀNH của NGHIỆPtrong một người, thì hoàn toàn khác biệt. Nó không bị chi phối bỡi “thuận” hay “nghịch”, THƯƠNG hay GHÉT, mà tùy thuộc vào “độ dày” của “sự lập lại” (tức là UẨN=tích tụ thói quen=tập khí) do chính nó. Trước “VẬN HÀNH của NGHIỆP”, người ta không thể dựa vào qui ước thế gian để “kết luận vấn đề” nên phải gọi là “vừa hợp lý vừa bất hợp lý”.

<>Nghĩa là, “CÁI” người ta THÍCH…rồi vì ưu ái mà người ta “THỦ” đã đành, nhưng cái người ta CHẲNG THÍCH, rồi vì đố kỵ…mà người ta cũng “THỦ” luôn, thành ra không còn “lý lẽ căn bản” để làm chuẩn. -Trong đời sống, nhiều khi người ta còn THỦ (hay ghi nhớ hình dạng của đối tượng đáng ghét), nhiều hơn là THỦ (hay ôm ấp hình ảnh của đối tượng đáng yêu !) Từ đó, bộ máy LUÂN HỒI không phải do “TÂM LÝ” thuận hay nghịch “điều động”, mà là do ĐỘ TỒN KHO của NGHIỆP LỰC (kammabāla) TỐT hay XẤU quyết định !

-Riêng “nghiệp lực TỐT” (hướng thiện), còn gọi là “công phu thăng hoa” cũng do con người tích tụ, nuôi dưỡng. -Chứ không phải do một “đấng toàn năng” nào ban cho cả !

-LUÂN HỒI có nghĩa là “tái hiện” trong một một kiếp sống khác (tốt hơn hay xấu hơn) ở tương lai. Nếu “sự tái hiện” ấy do TÂM LÝ tùy thích quyết định, mà không cần đến “công phu hướng thiện” (=tu tập vượt lên chính mình), thì không ai cần đến ĐẠO ĐỨC nữa. Và mọi sinh linh sẽ chọn “nhớ nghiệp tốt, quên nghiệp xấu” để được “HIỆN THÂN hoàn hảo”. -Và như thế thì mọi hiện tượng sống sẽ luôn là thiên đường, -chứ chẳng bao giờ khổ đau ! -Ham muốn phản khoa học !   

<>Hai chữ “HIỆN THÂN” trên đây ám chỉ TÁI SINH trong HỖN HỢP, gồm vật chất (=thể xác) và năng lượng (=tinh thần). Cũng xin thưa rằng, “thể xác” và “năng lượng” chỉ là 2 từ ngữ qui ước tạm dùng, để “tượng trưng” cho “2 kho tập khí”, là THÂN THỂ và TÂM THỨC. Phật học nói rõ : “Kho THÂN THỂ gồm đất, nước, lửa, và khí hay tứ đại, lập thành sắc uẩn”. Và “kho TÂM THỨC gồm thọ, tưởng, hành, và thức, lập thành bốn uẩn còn lại”. Tổng cọng 5 uẩn tạo ra con người là như thế.

*Sắc thân ví như “vật dẫn điện” và Tâm thức là “dòng điện”. VẬT DẪN ĐIỆN thì đến từ hỗn hợp tứ đại, tự nó có khối lượng cụ thể để “trình diện”, nhưng DÒNG ĐIỆN thì không có khối lượng tương tự (vốn hạn chế), không có hình thức, nên phải nhờ VẬT DẪN ĐIỆN làm điểm tựa…mới có thể “biểu lộ”.

-Trong khoa học nhân thể, thuần túy duy vậtngười ta cho rằng “thân xác là do cha mẹ sinh ra”, hoàn toàn thuộc về “sinh lý xác thịt”, xuyên qua phối hợp ngẫu nhiên của các hóa chất hữu cơ, dưới dạng “cấu kết lỏng”, trong đó “dưỡng khí” đóng vai chính. Còn TINH THẦN chỉ là tổng hợp của TRUNG KHU NÃO BỘ, vận hành với hệ thống thần kinh. (!?)

-Nhưng “hệ thống thần kinh” lại KHÔNG LUÔN LUÔN được “điều khiển” bỡi cái gọi là “TRUNG KHU NÃO BỘ” (trong xương sọ), mà NÓ còn rất thường bị “tác động” một cách “mầu nhiệm”, bỡi một TỪ TRƯỜNG HUYỀN BÍ khác, hoàn toàn VÔ HÌNH, người phàm không ai biết XUẤT XỨ. Các chuyên gia về “khoa học nhân thể”, xưa nay chỉ loay hoay “phân chia” NÃO BỘ hay khối óc, ra nhiều vùng phân biệt, để tìm hiểu những mối LIÊN LẠC MÁY MÓC điều khiển toàn thân”. Và mặc dù họ đã “xem xét vô cùng tỉ mỉ”, vẫn không khám phá ra được gì khác, ngoài những tuyến “dịch điện giải lý hóa”, tiếng Pháp gọi là “hormone”.

*Phải chăng các nhà khoa học nhân thể đã “không để ý” đến NỘI DUNG của chữ “NGHIỆP” (karma) trong Phật giáo !? -Họ tưởng lầm rằng, “nghiệp chỉ là phản ứng của hệ thống thần kinh phát ra hành động”. Đối với họ, NGHIỆP là “bản năng”, và con người “bất lực” trước “bản năng” hay NGHIỆP. Bản năng là “mệnh lệnh tuyệt đối”, con người không cưỡng được và cũng không có “trách nhiệm”!

Cụ Nguyễn Du nói :

«Đã mang lấy NGHIỆP vào thân,

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Thiện CĂN ở tại lòng ta,

Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI».

<>Thiện CĂN là gì, nếu không phải là cái «TỪ TRƯỜNG HUYỀN BÍ TỐT» nói trên ?!

(-Xin lỗi, 4 chữ NGHIỆP, CĂN, TÂM và TÀI…do chúng tôi mạn phép in hoa, để gây sự chú ý, -chứ trong nguyên bản Việt ngữ truyện Kiều thì không như thế. Mong thông cảm !)

<>Quay lại Phật học, NGHIỆP không phải là “qui nạp của suy luận dân gian”. Trong TÚC SINH TRUYỆN, Bồ-tát (Bodhisattva) tiền thân Phật, đã dùng vô số kiếp sống của “chính mình”, trong vòng luân hồi mênh mông, để kinh nghiệmbiết rõ NGHIỆP (Kamma, karma).

*Cũng nhờ…“trải qua từng ấy kiếp sống, mà Ngài có thể “cô đọng được các nét chính” của những “chuyện tiền thân” (đa dạng), có ghi lại trong bộ TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka), thuộc Tam Tạng Kinh Điển tiếng Pālī. -Chúng tôi dùng nhóm chữ “TỪNG ẤY kiếp sống”, vốn không phải dám “phỏng định” CHỪNG ĐÓ với VÔ SỐ kiếp tu hành làm “tiền thân” của Ngài, tượng trưng khoảng “547” hay “550” chuyện (theo nguồn Phật học Miến-điện). Con số “trên 447 truyện” ấy, so sánh với VÔ SỐ KIẾP tu hành của Bồ-tát, thì chẳng khác nào là một giọt nước trong biển cả ! -Nhưng đó là “thời sự tạm đủ”, để mô tả một cách bình dân cái CÔNG PHU bất khả thuyết bất khả tư nghì (Phật học gọi là “Ba-la-mật”=Pāramitā) của Bồ-tát (Bodhisattvā) giúp cho người phàm hiểu về “hạnh kiểm” (HÀNH VI THIỆN) dễ dàng. -Chúng ta có thể xem bộ TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka), như một “cơ sở tài liệu” của GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ. Vì hầu hết những truyện trong sách, đều “đầu tiên nêu ra một thực tại”, rồi từ THỰC TẠI ấy “tiết lộ” NGUỒN GỐC xa xưa, hay nguyên nhân quá khứ.

*Chưa kể, trong tủ sách Phật học, chúng ta còn có quyển PHÁP CÚ, một “bảo thư” đi đôi với Túc Sinh Truyện. -PHÁP CÚ KINH (Dhammapada) gồm 423CHÂM NGÔN ngắn gọn, hàm súc. MỖI CHÂM NGÔN không dài quá 6 dòng, là một bài dạy, rút từ một câu chuyện của TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka).

<>Người chưa hiểu Phật giáo, có thể nghĩ rằng, “TÚC SINH TRUYỆN là những câu chuyện đặt ra để răn đời”, mà hầu hết các tôn giáo vẫn có, nhằm “hướng dẫn tinh thần” cho tín đồ (!?). -Kiểu như ngụ ngôn của La Fontaine trong văn học Pháp. -Nhưng chúng tôi xin thưa rằng, –đạo Phật không chủ trương tạo tín đồ, bằng nghệ thuật “tu từ học” (=dùng chữ nghĩa minh triết, bóng bẩy…để hùng biện “thuyết phục”).

*Đức Phật là “một nhà giáo dục thực tiễn”, Ngài đã chân thành chia xẻ kho kinh nghiệm bản thân lẫn cộng đồng (gồm sự “tái sinh” của Bồ-tát với một số sinh linh khác, mà về sau Ngài “tái ngộ” vào kiếp chót, như các đệ tử A-nan-đa (Ananda), Xá-lợi-phất (Sāriputta), Mục-kiền-kiên (Moggallāna)…v…v…), gồm thăng đọa rút từ vô số kiếp sống quá khứ, trao tặng đến những ai hữu duyên với Ngài. Nội dung TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka) là những kiếp sống xưa mà Ngài đã tự thân trải qua, và được làm đà để tiến hóa một cách thiết thực, chứ không phải là những điều học trong sách vở, hay “sáng tác”, rất khó kiểm chứng.

-Do đó, giáo lý Phật-đà ở đây là phải SOI SÁNG, cải hóa, làm phát sinh sự HIỂU BIẾT ĐÚNG (chánh kiến=sammādiṭṭhi), lẫn SUY NGHĨ ĐÚNG (chánh tư duy=sammā saṅkappo)…một cách KHOA HỌC (vijjāya) về NGHIỆP QUẢ (kamma vipāka) và LUÂN HỒI (saṃsāra).

*Hơn nữa, mục đích của “bài 4” nầy là để “đặc biệt trình bày” về BẢN SẮC KHOA HỌC trong ĐẠO PHẬT, liên quan đến GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ, nên những gì thuộc về Phật học phổ thông, đã được diễn giảng rộng rãi từ trước đến nay, chẳng hạn như “LỢI ÍCH” của “xuất gia”, “trì giới”, “hành thiền”, “tụng kinh”, “bố thí”, “phục vụ kẻ khác”…v…v… chúng tôi xin phép không lập lại. -Vì hầu hết quí vị đã biết qua rồi !

<>Ngoài ra, “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ” còn một “bản sắc khoa học” rất đáng quí. Đó là MẦM MÓNG của TINH THẦN TRÁCH NHIỆM. Người tin tưởng một cách trọn vẹn, và sống theo giáo lý nghiệp quả là người “vô hại” đối với xung quanh. Vì họ làm bất cứ điều gì, cũng nghĩ đến “hậu quả”, sẽ liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến TRÁCH NHIỆM của mình. Người không tin NGHIỆP QUẢ là người bất chấp thiệt hại do mình gây ra cho kẻ khác. Họ chỉ “ỷ vào” sức mạnh của đồng tiền, và sẵn sàng phục tùng quyền lực. Họ tin rằng “hối lộ có thể xóa hết những việc làm bất chánh”. -Khi mánh khóe và tiền bạc có thể “tẩy sạch” tội lỗi, thì sá gì quả báo sẽ trả trong kiếp sau một cách “mơ hồ” ! (?)

*Một xã hội mệnh danh là “có tổ chức” mà những KHỔ CẢNH (như bất công, hiếp đáp, cướp giật…) thường xảy ra, không thuộc về trách nhiệm (NGHIỆP QUẢ)của ai cả, là một xã hội hỗn loạn. “Hình thức tổ chức” chỉ là một “kỷ thuật”, để lừa bịp quần chúng.

<>Nói tóm lại, -“NGHIỆP” (kamma) theo Phật giáo, là một từ ngữ…-vừa nặng tính triết học, -vừa nặng tính thực nghiệm, -và vừa nặng tính giáo duc. -“QUẢ” (vipāka) là một danh từ ám chỉ sự kết thành của một qui trình hành động nào đó. Ý nghĩa của “QUẢ” tương đối dễ hiểu. Còn “GIÁO LÝ” là một “đặc ngữ”, nói chung thuộc về tín ngưỡng. Nhưng khi chúng ta “tập hợp” tất cả lại thành “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ”, thì NỘI DUNG là một “THUYẾT MINH” phát nguồn từ “Bản Sắc Khoa Học trong Đạo Phật”, và TRÍ BÁT-NHÃ (Prajña) là nguồn sáng.

*****

TÚC SINH TRUYỆN (I) và PHÁP CÚ KINH (II).

(Jātaka & Dhammapadasutta)

-I-

<>“TÚC SINH TRUYỆN” (Jātaka) là sách thứ 10, và “PHÁP CÚ” (Dhammapada) là sách thứ 2, trong số 15 quyển, thuộc TIỂU BỘ KINH (Khuddaka Nikāya) của TAM TẠNG PHÁP BẢO (Tipitaka Saradhamma) Phật giáo. TIỂU BỘ KINH là “tập kết” cuối cùng của “5 bộ” (hay “tập hợp”), lập thành TẠNG KINH (Sutta pitaka), gồm :

1/TRƯỜNG BỘ KINH (Dīgha Nikāya), 2/TRUNG BỘ KINH (Majjhima Nikāya), 3/TẬP BỘ KINH (Saṃyutta Nikāya), 4/CHI PHÁP BỘ KINH (Aṅguttara Nikāya), và 5/TIỂU BỘ KINH (Khuddaka Nikāya), đã được Ban tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh PG (Sàigòn), và nhiều học giả khác dịch ra tiếng Việt, trước năm 1975. -Quí vị có thể tìm đọc trên internet, kể cả các bản Anh ngữ hay Pháp ngữ !

*Nói chung, TRÚC SINH TRUYỆN thuật lại khoảng trên 447 chuyện “Tiền thân Phật” (Jātaka), với những “bố cục” gần giống nhau. -Nghĩa là…trong thuở xa xưa ấy, Bồ-tát tiền thân Phật đã sinh ra ở đâu, thân phận như thế nào, nam hay nữ, sang hay hèn, mạnh hay yếu, đẹp hay xấu, sướng hay khổ…v…v….Tiếp theo, truyện “tiết lộ”, thực tại ấy là quả báo của NGHIỆP gì trong quá khứ. -Ngoài ra, cũng có một số kiếp (rất hiếm), Bồ-tát (Bodhisattva) còn tái sinh làm “thú vật” trong vai trò “đầu đàn”, có đặc tính thông minh, biết cứu nguy, và giúp đỡ đồng loại.

*Đọc TÚC SINH TRUYỆN, một người sẽ khó cảm thấy “hứng thú” và cho là “hoang đường”, nếu họ không có quan niệm rằng, cuộc đời là một sân khấu. Vì sao ? -Vì TÚC SINH TRUYỆN luôn luôn nhắc đến kiếp trước, là nguồn gốc hay “nguyên nhân” của “hiện quả” (thực tại). -Mà “kiếp trước” thì chẳng bao giờ “kiểm tra” được.

-Nhưng nếu cá nhân nào tỉnh ngộ, biết xem “cuộc đời là một sân khấu”, thì thay vì là độc giả họ sẽ tự nhiên biến thành “khán giả”, trước những “tích truyện đậm nét nhân quả” trong sách. Khi một truyện chấm dứt, cũng là “một vở kịch kết thúc”. Sân khấu được “hạ màn”, và diễn viên cuối cùng phải tự mình “xóa sổ” vai trò, để lui vào hậu trường, giống như các đồng nghiệp khác, đã làm trước đó…. Tiếp theo cả bọn phải thay đổi y phục, cải trang mặt mũi, theo vở tuồng kế tiếp, rồi thứ tự trở ra sân khấu…đóng vai trò mới, đúng với khả năng diễn xuất.

-“KHẢ NĂNG” ấy ví như “hiệu lực” của “NGHIỆP”, hay “tập khí” đã thuần thục nghề đóng kịch. Nghĩa là bắt chước cung cách kẻ khác, nhưng “đóng nhuần nhuyễn như thiệt”. Qui nạp các “vai trò khác nhau” trong một đời đóng kịch, xem ra chẳng khác những kiếp luân hồi !

*Ngoài ra, biết đâu khán giả cũng gặp một số “cá nhân đặc biệt” là những nghệ sĩ nổi tiếng đã “bỏ nghề đóng kịch”. Họ dứt khoát rời bỏ SÂN KHẤU và ung dung ở đó, chứ không phải “biến mất”. Hiện tại họ KHÔNG tiếp tục NGHIỆP đóng kịch nữa, vì muốn được thảnh thơi, đứng ngoài vòng quay cuồng, của những vai trò khác nhau. Việc lập lại cung cách, và thay hành đổi dạng không còn trong đời sống họ nữa.

*Tất nhiên, ở đây chỉ chúng ta chỉ mượn “SÂN KHẤU” như cái SỰ (có hình thức=VỌNG ĐỘNG), để “phản ảnh” “TÍNH THẢNH THƠI” như cái (với nội dung BÌNH AN) mà thôi.

Nhưng Bậc Giác Ngộ nhìn toàn cảnh, thì thấy 2 phương diện LÝ và SỰ, đều “cụ thể”, dưới dạng 2 hạng phàm phu : –Hạng thứ nhất gồm QUẦN CHÚNG thích xem kịch (chen lấn nhau để giành chỗ tốt trong “vở kịch đời”). Và hạng thứ nhất là các DIỄN VIÊN say mê đóng kịch (xoay vòng tạo nghiệp) trên sân khấu thu hẹp. -Còn người giác ngộ sống thảnh thơi, “dứt đóng kịch” (=ngừng tạo nghiệp), không lên không xuống sân khấu (luân hồi) nữa.

*Từ phản ảnh của “GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ” và “TÚC SINH TRUYỆN” ấy, chúng ta có thể suy gẫm  để ý thức được “KHẢ NĂNG hoàn toàn giải thoát, bình đẳng KHỔ lẫn VUI của Phật, siêu việt như thế nào”.

Nghĩa là Ngài vẫn Ở ĐÓ (không cần xác định “ngoài tam giới”, hay “trong tam giới”. Nhưng điều chắc chắn là “năng lượng tinh khiết của Phật”, KHÔNG bị thu hút, KHÔNG bị đồng hóa, KHÔNG bị xoay vần trong hiện tượng sinh tử. “NĂNG LƯỢNG” ấy chính là THANH TỊNH BÁT-NHÃ (Pañña Pārisuddhi) !  Như thế, ngoài “Bản sắc Khoa Học trong Phật giáo” ra, dù tri thức phàm phu trong văn minh vật chất có “cao xa” đến đâu, vẫn không thể nắm bắt được tiềm lực của NGHIỆP QUẢ ! -Vì sao ?! -Vì ở phàm nhân thiếu hẳn phẩm cách TOÀN XẢ của TRÍ BÁT NHÃ (Prajña), thì làm sao nhận ra NIẾT-BÀN, chân pháp triệt tiêu NGHIỆP ?!

-II-

<>PHÁP CÚ KINH (Dhammapadasutta) được xem là quyển sách Phật học phổ thông nhất, trong các giới trí thức Đông cũng như Tây, xưa cũng như nay. Tuy sách mang tên PHÁP CÚ, nhưng nó chính là “yếu văn” của TÚC SINH TRUYỆN. Đọc PHÁP CÚ KINH chúng ta không thể nào không đọc TÚC SINH TRUYỆN (Jātaka). Vì mỗi «luận đề» trong PHÁP CÚ, là một «định hướng đạo đức» cho con người, qui nạp từ một câu chuyện tỉm thấy trong TÚC SINH TRUYỆN. -Để không “xa đề chính” và quân bình bài viết, chúng tôi xin phép chỉ nêu ra một cách giản lược…Pháp cú thứ nhất, và Pháp cú cuối cùng, tượng trưng mà thôi.

-Quí độc giả có thể tìm đọc đầy đủ KINH PHÁP CÚ, bằng cách mượn sách trong các chùa có thư viện, hay trên internet, hoặc thậm chí có thể mua từ một số tiệm sách .

Pháp cú đầu tiên ấy là một cặp song đối, gồm 2 đoạn Pāli văn, như sau :

 a/ “Maṇo pubbaṃ gamā dhamma

Maṇoseṭṭhā maṇo mayā

Maṇasā ce paduṭṭhena

Bhāsati vā karotivā

Tato naṃ dukkhamanveti

Cakkaṃ vā vahato padan’ti”

Thoát dịch Việt :

“Mọi pháp hành do tâm dẫn đầu,

Tâm là “chủ”, tâm điều động tất cả,

Người hành động bằng ác tâm,

Thì quả khổ sẽ đi theo,

Như bánh xe lăn sau chân con bò”.

————–

b/ “Maṇo pubbaṃ gamā dhamma

Maṇoseṭṭhā maṇo mayā

Maṇasā ce pasannena

Bhāsati vā karoti vā

Tato naṃ sukkhamanveti

Chāyā’va anapāyinī”.

Thoát dịch Việt :

“Mọi pháp hành do tâm dẫn đầu,

Tâm là “chủ”, tâm điều động tất cả,

Người hành động bằng thiện tâm,

Thì quả lành sẽ đi theo,

Như bóng đen phía sau người”.

<>Hình ảnh QUẢ XẤU sẽ theo người tạo NGHIỆP ÁC (như bánh xe lăn theo chân con bò), hay QUẢ TỐT theo sát người tạo NGHIỆP LÀNH (như cái bóng đen bám sát nhân vật di động), là 2 khuyến cáo về hạnh kiểm, mô tả 2 phẩm cách trái nghịch (thiện><bất thiện), nên Phật học xếp đôi Pháp cú ấy trong “Phẩm Song đối” (Yamaka vagga).

<>Nhìn qua TÚC SINH TRUYỆN, chúng ta thấy cũng 2 Pháp cú (đầu tiên) ấy, nhưng ở đây được “quy nguyên”, nối với “nguồn gốc” bằng 2 câu chuyện “nghiệp nào quả nấy”, -một thuộc về kiếp nầy và…-một thuộc về kiếp trước, kể lại xuyên qua cái KHẢ NĂNG BÁT-NHÃ, hay “khoa học tâm linh” của đạo Phật, gọi là TÚC MẠNG THÔNG (Pubbe nivāsaññāna).

 Trong TÚC SINH TRUYỆN, dù Bồ-tát đóng vai chính, vai phụ hay là chứng nhân, thì cả 3 trường hợp, Ngài đều đã “trực tiếp trải qua” “thời sự” ấy, nên đó là “kinh nghiệm thực tiễn”, ghi lại một cách “khuyến thiện” cho đời sau, chứ không phải là một “lý thuyết đạo đức”, sáng tác nhờ đọc nhiều sách vở (gián tiếp).

***

<>Và PHÁP CÚ KINH sau cùng là câu số 423, -theo văn bản Phật ngữ Pālī thì như sau :

“Pubbe nivāsaṃ yo vedi

Saggāpāyañca passati

Atho jatikkhayaṃ patto

Abhiññā vosito muṇi

Sabbavosita vosānaṃ

Taṃ ahaṃ brūmi brahmanaṃ”.

Thoát dịch Việt :

“Người tịnh trí biết rõ…

Thân hiện tại khổ vui

 Do tiền nghiệp mà có

Và sống thiện không lùi

Phạm hạnh tự sáng tỏ”.

<>Xin nhắc rằng, PHÁP CÚ KINH gồm nhiều phẩm (vagga), trong đó thì mở đầu bằng “phẩm song đối” (yamaka vagga) là có Phật ngôn được trình bày “từng cặp” (đối chiếu thiện ác), như 2 câu đầu tiên trên đây. Nhưng toàn bộ những câu tiếp theo, thì Phật ngôn “đơn” hay “kép” tùy “đề mục”, không nhất thiết như trước. Do đó, chúng ta tuy có 423 PHÁP CÚ, mà lại “tương quan” với khoảng từ 447 đến 550 TÚC SINH TRUYỆN thôi.

(-Các con số chúng tôi trình bày ở đây là dựa trên tài liệu Phật giáo Miến-điện).

Bài 4 đến đây tạm đủ. -Nếu có gi sơ sót, mong quí vị rộng lượng. Hẹn gặp lại trong bài 5.

———————

Phụ Lục :

“CHUYỂN ĐỘNG VẬT LÝ THEO ĐƯỜNG CONG”

hằng chứng minh “Luật Nghiệp Quả” (Luân hồi)

<>Chúng ta đang sống trong một thực tại “VŨ TRỤ TƯƠNG TÁC ĐỘNG” có thể thu hẹp và gọi là VẬN HÀNH THÁI DƯƠNG HỆ, trong đó mặt trời là “cơ lực chính”. Và vì mặt trời nằm ở “vị rí trung ương”, nên NÓ được xem là “định tinh” so với các “hành tinh” nhỏ hơn (trong đó có trái đất) lăn tròn trên quỉ đạo xung quanh NÓ. Nhưng đối với các “hệ tinh tú khác”, thì mặt trời cũng KHÔNG “đứng yên”.

*Khi quan sát những ngôi sao, xa hay gần…từ quả đất thuộc THÁI DƯƠNG HỆ, các nhà khoa học không gian tiết lộ rằng, “tinh tú vô số cũng không cố định”. Chúng luôn luôn thay đổi vị trí. Và nếu tinh tú di chuyển thì chúng phải “di chuyển” theo đường cong. Vì…nếu chúng “di chuyển” trên “đường thẳng” thì chắc chắc chúng sẽ va chạm vào nhau cực mạnh, và sự chấn động sẽ phá hủy vũ trụ kinh khủng. -Nếu như vậy thì…tổng số những  tinh tú (ngôi sao) sẽ phải mỗi ngày một ít đi trên “bầu trời”…do bị «phá hủy».

<>Chúng tôi nêu ra những “tiền đề” trên, để qui nạp 2 sự thật, liên quan đến những gì «quá nhỏ» như chúng ta, nằm trong THÁI DƯƠNG HỆ :

*Thứ nhất, toàn thể động vật nói chung, và con người nói riêng, dù chỉ là những phần tử cực vi, so với thái dương” và so với “tinh tú”. Nhưng con người lại có một điểm chung với 2 “CỰC ĐẠI” đó, là bên trong con người cũng “cháy ngầm” như “thái dương» và “tinh tú”. Sự «CHÁY NGẦM» ấy do «cấu kết» của 4 THỨ, gọitheo qui ướcchất đặc, chất lỏng, chất nóng, và chất khí (=thủy thổ hỏa phong), dưới dạng “thân thể hữu cơ biến hóa”.

*Thứ hai, tất cả vạn vật nói chung,động vật nói riêng (tiêu biểu là con người) đều SỐNG với “mạch tuần hoàn”, tức là “vận động xoay vòng”, do hấp thụ “dưỡng chất” khi còn điều kiện để «HIỆN HỮU» (=sống), và do luân tryền “năng lượng” khi hết điều kiện tồn tại để «BIẾN MẤT» (hay chết, tan rã). Quỷ đạo sinh hoạt của THỂ XÁC lúc sống, cũng như chiều hướng di tồn của TINH THẦN lúc chết, luôn luôn là hình CONG hay XOẮN (Cỉrculaire ou Spiral). -«Quỷ đạo» của BIẾN rồi HIỆN.

<>Kết quả, con người làm bất cứ việc gì, thì tinh thần (điện tâm) cũng không tách rời việc ấy”, nên NĂNG LƯỢNG “xoay vần tạo ra trí nhớ” phải «đi vòng» và «xoắn lại» (xoay vần), chồng chất lên nhau (TẬP KHÍ=UẨN). Phật học gọi “làm bất cứ việc gì” ấylà NGHIỆP” (karma), và NĂNG LƯỢNG di tồn tạo ra trí nhớ” kia làQUẢ” (Vipāka). Cả «2 hiện tượng» NGHIỆP và QUẢ đều đến từ “năng lượng xoay vòng”, nên chúng «cô đọng» thành 2 DẠNG…là “khối điện tử” và “sóng lượng tử”…tức là VẬT CHẤT và TINH THẦN, luôn luôn «vận hành» trong CHIỀU CONG, tạo ra CHU KỲ bao gồm SỐNG và CHẾT, luân hồi !

*Thử khảo sát HÀNH ĐỘNG sau đây, để chứng minh CHIỀU CONG (circulaire, spiral) trên phương diện vật lý (=thân thể) lẫn tâm lý (=thức tánh), để chứng minh “nguồn gốc” của «LUẬT NGHIỆP QUẢ» (Kamma Vipāka Niyama) :

<>Một người đi vòng ngôi nhà, xung quanh sạch sẽ…. Vì thiếu giáo dục (vô đạo đức), người ấy không biết tự trọng, ích kỷ…vất khá nhiều ĐỒ DƠ xuống đường, rồi dẫm lên ngang nhiên đi tới. Y bỏ mặc các VẬT XẤU sau lưng, xem là chuyện đã qua (=quá khứ bất cần), chẳng liên quan gì đến mình. Nhưng tiến bước trên lộ trình cong một thời gian, người ấy SẼ thấy VẬT XẤU kia nằm ngay trước mặt, như chờ đợi mình. Và y KHÔNG thể nghĩ rằng “vật xấu ấy là do kẻ khác bỏ xuống đất, chứ không phải mình” (!) , -và trong THỰC TẠI chính mình phải đi trên con đường có rác đó.

*Vất đồ dơ ở đây ám chỉ NGHIỆP ÁC. Con đường nhiều rác tượng trưng cho sự sống thực tại. Việc thấy lại đồ dơ đang chờ trước mắtphải đi trên con đường không sạch là QUẢ ÁC của người đã tạo NGHIỆP XẤU ! Rồi sau đó, nếu người ấy phục thiện, dọn dẹp con đường sạch sẽ thì TIẾN HÓA, ngược lại là THOÁI HÓA, và không ngừng tự làm sa đọa.

*Giả sử có một người khác, cũng đi vòng quanh ngôi nhà ấy. Người ấy dù bước cạnh ĐỒ DƠ, nhưng họ biết chắc rằng mình KHÔNG phải là kẻ đã vất nó, nên không tự trách. Người ấy sẽ có 2 thái độ. -Một là nhanh chóng rời khỏi nơi nầy, và quyết định không quay lại. -Hai là phát thiện tâm dọn dẹp, rồi khi nhìn thấy sự sạch sẽ cảm giác tự hào, tâm cơ sinh niềm vui !

*Ví dụ vừa cụ thể vừa đơn giản nêu trên, chứng minh rằng «di chuyển trên CHIỀU CONG», một “động tử” sẽ đối diện với toàn thể kết quả của những gì mình đã làm qua. Tất cả “di sản” của mình sẽ luôn luôn Ở ĐÓ để chờ mình, chứ không chờ ai khác”. -Và nếu trên mặt vật chất có sự vận hành như thế, thì trên mặt tâm linh cũng chẳng khác !

-Tất nhiên, chưa thành Phật thì KHÔNG THỂ RA NGOÀI CHIỀU CONG bắt buộc ấy được !

<>Khi THỜI GIAN và KHÔNG GIAN chính là “nguồn gốc” của VẬN HÀNH CONG (Saṃsāra), thì CHU TRÌNH NGHIỆP QUẢ phải nằm trong QUI LUẬT «vay trả» !

*Nói cách khác, LUÂN HỒI là “qui luật nhất định”. Nó hằng NGHIỆM ĐÚNG cho mọi “vận hành sống”, duyên theo KHÔNG GIAN (vật chất), và THỜI GIAN (tinh thần), biến đổi xoay vần qua  4 dạng THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG.

<>Theo Phật học, “SINH TỬ LUÂN HỒI” không phải là 1 “GIẢ THUYẾT”, để người ta TIN hay KHÔNG TIN, -mà ĐÓ là SỰ THẬT, một qui luật tự nhiên khi THÂN và TÂM con người còn tràn ngập bỡi THAM SÂN SI, hay VƯỚNG MẮC trong vận hành của KHÔNG GIAN phối hợp với THỜI GIAN ! -Nghĩa là người làm ác, dù không tin QUẢ BÁO của NGHIỆP, vẫn phải trả đủ, không ai có thể tránh khỏi nó ! -Ví như “một nắm tay đánh mạnh vào tường thì sức dội tương xứng, chỉ chấn động ở nắm tay ấy thôi, chứ không phải chỗ khác” ! Tin hay không tin chẳng thay đổi sự THẬT !

Cs.Tuệ Lạc

(Người viết ghi lại tri kiến, phát sinh nhờ “CHỈ QUÁN” trong mùa “tịnh thất” 2021 tại Pháp).

Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo Bài 3

Bài 3

*Liên quan đến TỨ DIỆU ĐẾ (Catu Ariya Saccāni)

<>Kỳ nầy, chúng tôi xin trình bày về những “đặc điểm KHOA HỌC” trong giáo lý nhà Phật, liên quan đến Tứ Diệu Đế, hay liên quan đến Bốn Sự Thật Siêu Việt. -TỨ DIỆU ĐẾ (-Tiếng Pāḷī “CATU ARIYA SACCᾹNI”) trước tiên là NỀN TẢNG TƯ DUY (Patiṭṭhānasassa saṅkappa) của người theo đạo Phật. -Cần nhấn mạnh rằng, Tứ Diệu Đế hay Bốn Sự Thật Siêu Việt (còn gọi là 4 CHÂN LÝ) không phải là những “GIÁO LÝ HUYỀN BÍ”, mà loài người không thể tìm hiểu, phân tích hay suy luận về NGUỒN gốc của THỰC TẠI.

Continuer à lire Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo Bài 3

Bản Sắc Khoa Học Trong Phật Giáo – Bài 2

Bài 2

*Liên quan đến «Trung đạo» (Majjhimapaṭipadà)

*Chu trình thực hành với 8 PHẨM TÍNH ấy còn gọi là bát chánh đạo, về sau cũng được xem như «một qui nạp thực nghiệm» cho đức hạnh toàn cầu, tương đương với phép «định hướng giải quyết» (hay thông số) trong khoa học.

Continuer à lire Bản Sắc Khoa Học Trong Phật Giáo – Bài 2

Bản Sắc Khoa Học Trong Phật Giáo – Bài 1

Bài 1

*Liên quan đến “Thập Nhị Nhân Duyên”.

(Paticcasamuppàda)

<>Xưa nay, ít ai ngờ rằng “tư tưởng khoa học rất có thể đã bắt nguồn từ Phật học”. Hay nói cách khác, “nội dung GIÁO LÝ của bậc GIÁC NGỘ” (Sammà Sambuddha), đã là NỀN TẢNG TỰ NHIÊN của phẩm cách THẤY ĐÚNG (chánh kiến) và SUY NGHĨ ĐÚNG (chánh tư duy), dẫn đến sự KHÁM PHÁ ra các THỰC TẠI sự sống, dựa trên LIÊN QUAN LÝ HÓA (=nhân quả) và những “BIẾN HÀNH TƯƠNG DUYÊN”, như khoa học đã và đang làm.

Continuer à lire Bản Sắc Khoa Học Trong Phật Giáo – Bài 1