I – Hoàng Ðịa : Suvannabhūmi.
Nước Việt có điểm may mắn, là nằm giữa hai cái nôi phát triển Phật Giáo, đã một thời cực thịnh, là Trung Hoa và Hoàng Ðịa. Ngày xưa Ấn Ðộ bao gồm trung tâm văn hóa Hoàng Ðịa (Suvannabhūmi). Nếu cái nôi Trung Hoa được gọi là « trọng điểm » của Phật Giáo Bắc Truyền, thì cái nôi Hoàng Địa phải được gọi là « mệnh mạch » của toàn thể Phật Giáo nói chung, và của Phật Giáo Nam Truyền, hay Phật Giáo Nguyên Thủy nói riêng.
Vậy chúng ta thử tìm hiểu hai « cái nôi » phát triển Phật Giáo vừa nói :
Phật Giáo Bắc Truyền thì đã được nhiều sách vở Hán-Việt, hay ngoại ngữ nói đến. Nhưng Phật Giáo Hoàng Ðịa (hay dịch đúng là « Phật Giáo Ðất Vàng« ), thì chưa được nhiều nhà học Phật, dùng quốc ngữ Việt Nam sưu tầm, phổ biến. (Hoàng Địa là dịch nghĩa ra Hán-Việt) của danh từ Nam Phạn Suvannabhūmi, dựa theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy
« Phật Giáo Hoàng Địa », bao gồm một vùng văn hóa rộng lớn, với văn minh Gandhara, kéo dài từ đất Lưỡng Hà (Mésopatamie), cựu nước Ba Tư (Perse), qua A Phú Hãn, Hồi Quốc, Ấn Ðộ, Tích lan, Miến Ðiện, Xiêm la, Cao Miên, cổ Thủy Chân Lạp (tức cựu Phù Nam), Chiêm Thành…. ra đến các quần đảo Mã Lai và Nam Dương.
Phía Phật Giáo Bắc Truyền thì duyên theo con đường Tơ Lụa (route de la Soie), ở nguồn xa từ cổ Ấn Độ (Bharatta), nằm về phía Tây Bắc Việt Nam, xuyên qua Tây Tạng, mà người học Phật thuở bấy giờ gọi là Phật Giáo gọi là gốc « Thiên Trúc », cách sau Phật tịch khoảng hơn bốn trăm năm, mới lần lượt truyền sang Trung Hoa, Mông Cổ, Cao Ly, Nhật Bản, rồi vào Bắc Việt Nam, do những du tăng Ấn Độ gốc Bà La Môn giáo, đã để lại cho các quốc gia nầy nhiều nét văn hóa siêu hình, duy thức, khá hợp với niềm tin thuở trước, mà đến nay ảnh hưởng vẫn còn ăn sâu, làm cho thế giới chú ý.
Nhưng nhìn vào thực tế, chúng ta thấy hệ thống Phật Giáo Bắc Truyền, hay hệ thống Phật Giáo lấy Trung Hoa làm giao lưu chính, (với các dòng tổ, trước từ Ấn Độ sang, sau kế thừa tự bản xứ), chẳng những đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi nhiều tín điều Bà la Môn, -như phân chia giai tầng tín đồ, dưới dạng xếp loại thượng căn, trung căn, hạ căn, -như tại VN đặt ra các giáo phẩm bốn năm cấp, từ Hòa Thượng thượng thủ, Hòa Thượng trưởng lão, rồi Hoà Thượng vừa « tấn phong », xuống đến Thượng Tọa, Đại Đức, tăng ni, cho chí chú tiểu.v.v….mà trầm trọng hơn hết, là hệ thống Phật Giáo Bắc Truyền còn bị địa phương hóa theo chiều thần thoại, bằng lắm lễ nghi, hình thức phức tạp, đặt nặng tính tha lực, mê tín, hơn là dùng phương tiện dẫn dắt, lấy cụ thể để soi sáng trừu tượng tâm linh, xuyên qua dòng thời gian, và được gọi với một cái tên khá xưng tụng là Phật Giáo « đại thừa ».
Tín ngưỡng « Đại Phạm Thiên » (Mahā Brahmanisme) trong Bà-la-Môn giáo có thể liên quan rất nhiều đến hệ thống « Phật Giáo Bắc Truyền ». Tiêu biểu nhất là « Phật Chuẩn Đề » trong Phật Giáo Bắc Truyền, gốc là một vị thần của đạo Bà-la-Môn. Đó là chưa kể những hình tượng thờ phượng trong các cổ tự « đại thừa » tại Việt Nam trước đây hơn 50 năm, có thể nói là đếm từ số 10 trở lên, tương đương với toàn bộ linh tượng của Ấn Độ đa thần giáo.
« Đại thừa Phật Giáo » đã chỉ bắt đầu làm giống Phật Giáo Nguyên Thủy (mà họ gọi là « tiểu thừa »), chừng bốn năm chục năm nay mà thôi. Nghĩa là hiện tại phần đông (chứ không phải tất cả) các chùa Bắc Tông VN đã bắt đầu thờ duy nhất một Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, ở trung ương Phật đài trong chính điện. Còn chư Bồ-Tát thì họ chưa tượng trưng bằng Hoa Sen như « tiểu thừa », hay Phật Giáo Nam Truyền.
Riêng ngày chào đời của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, mà họ gọi là lễ « Phật Đản » mùng tám tháng tư, « Đại Thừa Phật Giáo » cũng đã dần dần « điều chỉnh » thành rằm tháng Tư, cho « thống nhất » với đại lễ « Tam Hợp », của truyền thống quốc tế Phật Giáo « Nguyên Thủy ».
Tất nhiên, điều đáng khích lệ trong hiện tại, là hằng năm toàn thể tín đồ Phật giáo VN (bất kể Nam hay Bắc tông) đều đón mừng ngày Đại Lễ Tam Hợp (Đản Sinh, Thành Đạo, và Nhập Niết Bàn) của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, vào rằm tháng Tư Âm Lịch, cùng lúc với các dân tộc tin Phật khác trên thế giới.
Lại nữa, lá cờ Phật Giáo với năm màu rất tươi đẹp và phổ biến ngày nay, cũng phát nguồn từ kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy, hay Nam Truyền (tiểu thừa), dựa trên các hạnh tối thượng Ba La Mật (Pàramì), mà tiền thân Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, đã muôn kiếp thực hiện viên tròn. Lá cờ ấy còn tượng trưng cho hào quang ngũ sắc của đức Phật. Người đúc kết ra lá cờ Phật giáo là một học giả gốc người Nga, đã tu học tại Tích Lan, vào đầu thế kỷ 20.
Bằng thái độ nghiên cứu Phật Giáo khách quan và trong tinh thần lục hòa, khó ai có thể phủ nhận rằng : Tam Tạng Kinh Điển chữ Phạn của Phật Giáo Nguyên Thủy đã, đang, và sẽ là nền tảng của toàn thể Phật Giáo nói chung, và của Phật Giáo Nam Truyền nói riêng, chúng tôi không hiểu tại sao người ta lại tiếp tục « chia chẻ » mệnh mạch của đạo Phật, thành « tiểu thừa », « đại thừa », hay gì gì thêm nữa, như thế ?
Mặt khác, truyền thống Bắc Truyền vốn « thừa hưởng » những kinh điển, khi Phật Giáo tại Ấn Độ bị phân kỳ, chia rẽ, và khuynh hướng đạo hạnh nghiên theo phổ thông thế tục được thắng thế (?). Sự thật, chỉ có một phần kinh điển Phật giáo được dịch ra Hán văn, nằm trong Phật học của Phật Giáo « đại thừa ». Phần còn lại đã không được diễn nghĩa, mà chỉ « chú tự » chữ Sanskrit (Bắc Phạn) ra giọng Hán văn, vốn có một số dị âm, nghe rất thần bí, khó hiểu. (Tiêu biểu là các bài « chú », tụng theo tiếng mõ).
Nếu nói về thời gian, thì hầu hết kinh điển Phật Giáo Bắc Truyền, xuất hiện từ trước lẫn sau học giả Huyền Trang, đời nhà Ðường bên Tàu, khoảng thế kỷ thứ 7 sau Tây lịch, tức là cách đức Phật khá xa (trên dưới 1000 năm), nên cơ sở luận cứ của giáo lý không tránh khỏi bị pha trộn.
Nói rõ hơn, là trước Huyền Trang cũng có một ít du tăng Trung Hoa sang Ấn Ðộ « học Phật » rồi mang Giáo Lý về nước, chẳng hạng như Phổ Hiền vào thế kỷ thứ 4 sau TL. Nhưng những thu thập chỉ là tài liệu nghiên cứu cá biệt của dật sĩ, du tăng, chưa được chính thức hệ thống hóa, như từ Huyền Trang về sau.
Phía Phật Giáo Hoàng Ðịa (Suvannabhūmi Buddhasāsana), hay « Phật Giáo Nguyên Thủy » (Nam Truyền), cũng một thời được hưng thịnh, huy hoàng không kém. Nhất là dưới các triều đại, từ Maurijan đến Asoka (A Dục), bắt đầu vào thế kỷ thứ ba trước tây lịch. Thời ấy đã có rất nhiều tăng đoàn truyền giáo đạo Phật (người Ấn), gọi là « Như Lai Sứ Giả » (Dhammaduta), theo thương thuyền đường biển Đông Bắc, đem Phật Giáo gieo rắc tại những địa phương giao thông với các bến tàu dọc duyên hải các nước Miến Điện, Xiêm La, Cao Miên, Phù Nam, Chiêm Thành, nhất là Giao Châu, trước khi thấu đến Trung Hoa, Nhật Bản.
Trong đó phải kể trước nhất là Luy Lâu, gần kinh đô Hoa Lư, thời Đinh Tiên Hoàng (Bắc Việt Nam ngày nay), là một trong những « trung tâm » Phật Giáo Nguyên Thủy đầu tiên, tại nước ta. Và thời gian du nhập sơ khởi theo đuờng biển ấy kéo dài đến khoảng thế kỷ thứ hai, thứ ba sau Tây lịch.
Dĩ nhiên, hệ thống Giáo Ðiển Hoàng Ðịa nầy đã được ghi lại bằng chữ Nam Phạn (Pāli) hay Bắc Phạn (Sanskrit), mà ngày nay nhiều nhà nghiên cứu Phật Giáo còn gọi một cách tổng quát hệ thống nầy là Phật Giáo Nam Truyền, để ám chỉ các nước Phật Giáo Tích Lan, Ấn Ðộ, Miến Ðiện, Thái Lan, Cao Miên, Ai Lao và một phần Tây Nam miền Nam Việt Nam, như các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Bình, Sa Ðéc, Sóc Trăng .v.v… (Chiêm Thành không kể vào đây vì hiện tại đã hoàn toàn là lãnh thổ Việt Nam).
Tuy nhiên, cả hai hướng phổ biến Phật Giáo là Bắc Truyền và Nam Truyền, cũng đã không tránh khỏi luật thăng trầm. Nếu Bắc Truyền Phật Giáo khi thất thế bị các triều đại cuồng Nho ngược đãi, hay bị các bạo chúa đốt sách, giết sư…, thì Nam Truyền Phật Giáo cũng từng bị một cuộc xâm lăng qui mô của Hồi Giáo, làm cho đổ nát, hoang tàn không kém.
Biết bao di sản vô giá của nền văn minh Phật Giáo Nam Truyền đã bị phá hủy, chôn vùi dưới lớp bụi vô thường, rồi « đổi chủ » một cách tang thương, mất mát trong khắp vùng Suvannabhūmi (Hoàng Ðịa). Chứng tích của nền văn minh hạn hữu ấy còn lại ngày nay, là tại vùng Bamiyan thuộc nước A Phú Hãn (Afghan) hiện có nhiều tượng Phật với tư thế thiền định, khắc sâu trong những hốc đá trên vách núi, mà các nhà khảo cổ khắp thế giới đã không ngừng nói đến.
Trong số đó có hai tượng Phật khổng lồ với tư thế đứng rất đẹp, cao đến hàng trăm thước, đã bị phe tu sĩ cuồng tín Hồi Giáo Talibans, cầm quyền tại Kaboul giật sập cách nay mấy năm, trước khi bị Liên Minh Hoa Kỳ chống khủng bố quốc tế đánh bại.
Theo đặc phái viên Bernard Henri Lévy, tiết lộ trên nhật báo Le Monde ngày 7-3-2002, thì hiện nay tại trung tâm Bamiyan, còn một tượng Phật khổng lồ thứ ba khác, với tư thế nằm, chôn sâu trong lòng đất, mà nhiều thế kỷ trước đã có những hiện tượng linh thiêng, khiến cho các đoàn hành hương Trung Hoa, hằng năm đến chiêm bái. Cũng may là tượng Phật nằm nầy đã chưa bị nhóm Talibans, khi cầm quyền hẹp hòi phản ứng, nên mới còn nguyên vẹn.
Theo sử liệu thì sau cuộc xâm lăng của Hồi Giáo, nhiều di sản vô giá thuộc văn minh Phật Gíáo Nguyên Thủy, như nghệ thuật điêu khắc Gandhara, trong vùng Hoàng Ðịa, đã bị Hồi Giáo (Islamisme) lẫn Ấn Ðộ Giáo (Hindouisme) tiếp theo, thừa cơ hội Phật Giáo yếu thế, đục đẽo, biến dạng thành những kiến trúc theo hình tượng của họ. Duy nhất chỉ có Miến Điện và quốc đảo Tích Lan (Sri Lanka hay Ceylan) thì may mắn không bị, hay ít bị sự phá hoại nầy.
Do đó, về sau người ta vẫn nói « cổ kinh chữ Phạn (Pāli) của Phật Giáo Miến Điện và Tích Lan là nguồn thánh điển gần với Phật Giáo thời đức Phật nhất« . Ðiều nầy cũng không lấy gì làm quá đáng. Và cũng để gợi ý trên khía cạnh đó, một số nhà viết sách Phật Giáo cận đại, với tinh thần vô tư, đã gọi 2 nền Phật Giáo Miến Điện và Tích Lan, là truyền thừa của Phật Giáo thời Phật. Hay Phật Giáo Nguyên Thủy của hai nước nầy, gần gũi với nguồn gốc hơn các nước Phật Giáo Nam Truyền khác, như Cao Miên, Thái Lan, và Lào..v.v….