Về cái tên Phật Giáo Nguyên Thủy.

 « Phật Giáo Nguyên Thủy » là cái tên được dịch thoát nghĩa của danh từ Pàlì Theravāda, một ngôn ngữ đã được xử dụng vào thời đức Phật còn tại tiền, và vẫn phổ thông trong các kỳ kết tập Tam Tạng Phật Giáo về sau, khi Phật không còn nữa.

Riêng trong lần kết tập Tam Tạng lần thứ II (Dutiya Sangīti), tại Tỳ-Xá-Ly (Vesālī), khoảng hơn 200 năm sau Phật nhập diệt, tức là hơn 300 năm trước Thiên Chúa giáng sinh, danh từ Theravāda đã được giới khảo cổ đặc biệt chú ý, vì có sự xuất hiện của danh từ Ācariyavāda, để khi nghiên cứu Phật Giáo, người ta không bị lẫn lộn giữa nội dung hai cách kết tập Phật Giáo từ đó về sau.

Số là, thời ấy có sự bất đồng tư tưởng giữa hai tăng đoàn nòng cốt trong Phật Giáo. Tăng đoàn thứ nhất ít người hơn, tiếng Phạn gọi là Cullavagga. -Không biết tại sao sau nầy 2 vần “Culla” biến thành “Hìna”, để trở thành Hìnavagga. “Culla” có nghĩa là nhỏ, ít người. Vagga là nhóm, hội, bọn. Nhưng chữ “Hìna” là hạ tiện, gồm những vị tôn túc hay trưởng lão (thera), nhỏ nhoi.

Tăng đoàn thứ nhất là hóm ít người (Cullavagga) gồm hầu hết là thánh tăng. Khi kết tập tam tạng (hay thuật lại những lời Phật day), các Ngài chủ trương lấy hành động nghiêm trì giới luậtsự tu chứng của sa môn, để làm gương độ đời, lưu truyền Phật Giáo. Các Ngài chẳng lấy hợp thời văn tự làm tiêu chuẩn truyền bá Phật pháp, nên các Ngài đồng lòng tâm nguyện giữ nguyên lời Phật dạy, không vô tình hay cố ý viện lẽ canh cải Phật ngôn.

Tăng đoàn thứ hai đông người hơn, Phạn ngữ gọi là Mahāvagga, tức là nhóm, hội, lớn.  (Mahā : lớn, vagga : nhóm, bọn). Tăng đoàn nầy tích cực viện dẫn rằng : « Các Như Lai Sứ Giả (Dhammaduta), hay còn gọi là « du tăng giảng sư » (Ācariya), phải bôn ba đây đó để truyền bá Phật Giáo. Họ không thể không giữ tiền bạc và một số vật dụng, như yếu phẩm đường, sữa, muối, y phục.v.v…để tùy thân và « bảo vệ sức khỏe » (?), nên họ chủ trương sửa đổi một số điều Phật dạy thuộc các phần luật Ưng Xả Ðối Trị, và « dễ dãi hóa » những điều Phật cấm mà họ xem là « ít quan trọng », để làm phương tiện (?), gọi là thích hợp với thời gian và hoàn cảnh địa phương, hầu dễ dàng trong việc truyền bá giáo lý nhà Phật. (?)

Lại nữa, các triều đại A Dục đỡ đầu cho các công cuộc Kết Tập Tam Tạng đó, thời bấy giờ là những triều đại hộ trì Phật Giáo, khi nghe đôi bên phát biểu ý kiến, Hoàng gia Hộ Pháp nhận thấy bên nào cũng « hợp lý », nên dốc lòng hộ trì cả hai tăng đoàn, trong việc kết tập tam tạng lần thứ 2 và về sau.

Kết quả, Tam Tạng Kinh Ðiển (Tipitaka), do các vị trưởng lão y nguyên tụng lại, được mệnh danh là Theravāda (Tôn Túc Thuyết).toàn thể Kinh Ðiển kia được Tăng đoàn số đông chủ trương « canh cải » lập thành, được gọi là Ācariyavāda (Giáo Sĩ Thuyết). (Chữ vāda có nghĩa là thuyết, chữ Thera ám chỉ các bậc tôn túc, trưởng lão, và chữ Ācariya có nghĩa là giáo sĩ, giáo thọ hay giảng sư).

Nếu dịch sát nghĩa thì danh từ Theravāda phải được dịch ra Việt ngữ là Tôn Túc Thuyết, (=Thượng Tọa Thuyết) hay Tôn Túc Bộ, (=Thượng Tọa Bộ). Và tương tự như thế, danh từ Ācariyavāda cũng được dịch đúng là Giáo Thọ Thuyết hay Giáo Thọ Bộ. Riêng chữ Ācariya còn được người Tàu phiên âm là A Xà Lê, nên danh từ Ācariyavāda cũng được chuyển ra Hán Việt là A Xà Lê thuyết hay A Xà Lê Bộ nữa.

Tưởng cũng nên nói thêm rằng chữ «v» (dạng Roman), trong hai danh từ kép «Culla-vagga» (có nghĩa đoàn nhỏ, ít người) và «Mahā-vagga (hay đoàn lớn, đông người), ngày xưa ở Ấn Độ người ta đã dùng mẫu viết Devanāgarī có nghĩa là « thiên tự » của đạo Bà-La-Môn), thì chữ “v” trong cả hai chữ ấy trông khá giống với chữ « y« . Chúng chỉ khác ở chỗ hai nét phía trên của phụ âm V=«  » thì khép gần lại, còn hai nét tương tự ấy của phụ âm Y=« «  thì hở ra. (Hãy nhìn kỹ và so sánh 2 dạng viết sau đây để thấy : «  » và «  » ).

Nếu hai chữ « v »= » » và « y »= » » (dạng Bà La Môn tự) nầy được khắc trên gỗ hay đá, và thời gian hàng ngàn năm trôi qua, thăng trầm biến hoại, vật đổi sao dời, thì chúng phải bị lu mờ, và chắc chắn có thể bị người đời sau đọc nhầm chữ nầy ra chữ khác. Nhất là « sự đọc nhầm » ấy chỉ có hại cho Phật Giáo Nguyên Thủy trong lúc suy yếu tại Ấn Độ, chứ chẳng thiệt thòi gì đến ai, mà không khéo nó còn giúp « ích » cho những kẻ chủ trương tiêu diệt tinh thần độc lập (đặc tính của Phật Giáo Nguyên Thủy), hầu chia rẽ văn hóa của một đối lực chính trị nào đó, hầu thuận lợi cho việc xưng tụng một dạng Phật Giáo mới, do các luận sư gốc Bà La Môn, đội lốp « thinh văn » hay « bồ tát » Phật giáo, có thể khai thác cho việc thừa dịp bành trướng uy thế của mình.

Trùng hợp hơn nữa, là phụ âm « V » trong từ « Vagga« , lại được theo sau bỡi nguyên âm ngắn « a« , và nhị trùng phụ âm « gg+a », nên hình thức của nó dưới dạng Devanāgarī, trông giống như chữ « yana« , có nghĩa là « thừa« , « thặng« , hay « cổ xe« .

Nói tóm lại, mẫu viết Devanāgarī (Bà-La-Môn tự) nếu đem khắc thành chữ « Mahāvagga » (vốn có nghĩa là đoàn lớn hay nhóm đông) khi đã lu mờ, có thể bị đọc lầm là « Mahāyana », có nghĩa là xe to, đại thặng, hay đại thừa.

Tương tự như thế : Cũng mẫu tự Bà La Môn ấy, nếu dùng khắc chữ « Cullavagga » (đoàn nhỏ hay nhóm nhỏ) thì khi đã bị lu mờ, nó cũng có thể bị đọc lầm là Cullayana, nghĩa là xe nhỏ, tiểu thặng, hay tiểu thừa. Điều tệ hại hơn hết, mà chúng tôi muốn lưu ý ở đây, là chữ “Cullavagga” không biết từ lúc nào, đã bị những kẻ phá hoại bí mật biến thành “Hìnavagga”, có nghĩa là “hạ tiện thừa”. Nhưng những người học Phật đứng đắn xưa nay, dù biết nghĩa đen của nó là “Hạ Tiện Thừa”, họ vì tự trọng, vẫn xem chữ Hìnayana có nghĩa là “Tiểu Thừa” !

Từ những dòng sưu tầm nghiêm chỉnh trên đây, chúng tôi thiết nghĩ : Các danh từ « đại thừa », đại thặng, hay cổ xe lớn, và « tiểu thừa », tiểu thặng, hay cổ xe nhỏ, hẳn chỉ là dịch nghĩa lầm lẫn của các chữ Phạn “Cullavagga” biến thành « Hīnavagga » và « Mahāvagga », đọc nhầm ra “Cullayana”(=>Hīnayana) và « Mahāyana ».

Công tác soi sáng danh xưng ở đây, chỉ để tránh cho chúng ta sự nghiên cứu phiến diện, tắc trách, quen dựa theo những gì đã rồi, chứ không phải để thiên lệch, biện hộ cho một tông phái bị xem là « tiểu », phản đối một tông phái khác, tự xưng tụng là « đại ». Vì “tiểu” hay “đại”, nhỏ hay lớn đối với Phật Giáo đều vô nghĩa, và chấp vào đó thì không còn xứng đáng là người học Phật  nữa.

Mặt khác, hai danh xưng tập thể « tiểu thừa » và « đại thừa », xưa nay càng dùng càng xa lìa tôn chỉ của đạo Phật. Hai danh từ ấy cũng không xứng đáng với tinh thần của hai khuynh hướng kết tập Tam Tạng Kinh Điển Phật Giáo lần thứ hai nữa. Vì Thượng Tọa Thuyết và Giáo Thọ Thuyết (=A-Xà-Lê Thuyết) thuở xưa, tuy có bất đồng một số « điểm phụ », nhưng những giáo lý chính vẫn tôn nguyên, không có đặc tính tạo ra hai loại Phật Giáo khinh trọng, một đàng tự kiêu cho là mình « thượng căn », quảng đại, thuận thời, và đàng kia bị xem là đóng khung, bảo thủ, hẹp hòi, chấp cũ. Nên chúng ta có thể nói : Tật xưng tụng và phân biệt trong tăng sĩ từ nhiều thế kỷ nay, đã gây hàng loạt mâu thuẫn vô lý, phơi bày không ít nhược điểm, hẹp hòi trong các sinh hoạt gọi là « xiểng dương » giáo lý nhà Phật, để mâu thuẩn với sứ mạng gieo rắc « ánh sáng » độ sinh, dẹp bỏ ranh giới.

 « Thượng Tọa Thuyết » và « Giáo Thọ Bộ » ghi trên đây, chỉ để nói rõ rằng kinh điển đã được thuật lại « bởi ai ». Và trong hoàn cảnh nào những lời Phật dạy được kết tập. Rồi từ đó, có sự canh cải đầu tiên, để cho toàn thể các thế hệ Phật tử về sau biết rõ sự thật mà nghiên cứu, hầu thích ứng với khả năng tu tập của mình.

Chúng tôi thiết nghĩ những dữ kiện ấy càng không phải là nguyên nhân để hợp thức hóa việc phân biệt tông phái sau nầy. Vì theo tinh thần Phật Giáo, phân biệt là chấp trước và chia rẽ. Mà chấp trước và chia rẽ, chính là tạo duyên cho nhiều ác pháp phát sinh, sẽ đưa đến mắc dính và đố kỵ, khởi đầu của mọi hẹp hòi tự tâm linh và suy đồi trong đạo Phật.

Vả lại, giáo lý trọn lành của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni, là một giáo lý « siêu » (hay bao trùm khoa học), phi thời gian, phi không gian. Giáo lý ấy dùng duy tuệ thị nghiệp vô biên hỷ xả làm căn bản. Nên ở thời kỳ nào, ở môi trường nào, nó cũng dung thông, khả hợp, không cần phải « khế lý », « khế cơ » để thay đổi chi cả. Càng không cần phải canh cải cho xứng với cái khung thế sự nầy, hay tiện dụng với cái khung thế sự khác, để thuận với trào lưu nhân tâm, vì Phật Giáo Nguyên Thủy tự nó chính là nguồn « cam lộ » hướng về tất cả chúng sinh, trong đó nhân loại là thành phần được hưởng ơn ích nhiều nhất.

Nói cách khác, coi trọng cái gọi là  « phương tiện hoằng pháp », dựa trên văn tự, tư tưởng ước định, để canh cải Phật ngôn, thì hưnớg đến suy đồi, chỉ có hành trì đúng lời Phật dạy, và chứng đắc được quả lành, rồi luôn luôn sống bằng tinh thần bình đẳng, hy sinh phục vụ, không câu chấp, thì đó chính là “phương tiện” độ sinh hữu hiệu nhất.

Phương tiện hữu hiệu nầy vốn có thể hội nhập với tất cả, không thấy mình là tân tiến hay bảo thủ, không thấy mình là xa đời hay gần đời, không thấy mình là nằm trong hay ngoài xã hội, thì thiết nghĩ còn phương tiện hoằng pháp nào cao thượng, thích ứng, lâu dài hơn ? Đó chính là sức mạnh triền miên của Phật Giáo Nguyên Thủy, để duy trì và hoằng dương đạo diệt khổ. Vì vậy, thiên về « tâm lý thời đại », và chủ trương tu chính kinh điển, là vô tình hay cố ý làm giảm phẩm giá của đạo Phật.

Danh từ Phật Giáo Nguyên Thủy vì vậy, chỉ có nghĩa là y cứ lời Phật dạy, không canh cải, chứ danh từ ấy chẳng phải để tự tôn, hay gây chia rẽ chi cả. Nam Tông hay Bắc Tông mà hành đúng theo lời Phật dạy, thì họ chính là tín đồ Phật Giáo Nguyên Thủy. Còn ai không tu hành vị tha như thế, là kẻ phá hoại, lai căn, dù họ có tự đề cao, xưng mình là gì gì đi nữa.

 Cũng nhờ còn Trưởng Lão Thuyết hay Trưởng Lão Bộ (bị gọi là « tiểu thừa ») được duy trì cho đến ngày nay, mà Phật Giáo đồ trên thế giới đã có một nguồn tư liệu đáng giá để truy cứu. Nếu không, có lẽ Phật Giáo trên thế giới hiện giờ, không biết nhận ngày nào có căn cứ, gần với nguồn gốc nhất, để tổ chức kỷ niệm ba biến cố lịch sử trong nhân loại, là Đản Sinh, Thành Đạo, và Nhập Niết Bàn của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni.

Như trên đã nói, Việt Nam có cái may mắn là nằm giữa hai « cái nôi«  Phật Giáo Bắc Truyền và Nam Truyền. Nhưng sự may mắn nầy chỉ có giá trị, nếu nền Phật học Việt Nam biết cởi mở, sáng suốt thu thập những cái hay do thời gian bổ túc của Bắc Truyền, lẫn gìn giữ những giá trị phi thời gian của Nam Truyền. Và nhất là can đãm loại bỏ những giáo điều hay tin tưởng sai lạc, lai căn, xâm nhập từ bất cứ dụng tâm địa phương, hay thế lực tham vọng nào, có thể đưa đến nhầm lẫn hay mê tín dị đoan cho dân tộc mình. Dù những giáo điều hay tin tưởng ấy đã có mặt trong tập tục chúng ta từ lâu, vì lý do nầy hay vì lý do khác.

Vả lại, một trong những pháp học hàng đầu của người Phật tử Việt Nam, là xác nhận ân đức Tam Bảo, tức Phật Bảo, Pháp Bảo, và Tăng Bảo, trong đó đứng đầu là Phật Bảo. Bất cứ một đức tính nào qui về đức Phật, dù thậm thâm vi diệu, hay thực tế dễ hiểu, dễ thấy đến đâu, đối với Phật Giáo cũng phải chính đáng, hợp lẽ, và có khả năng vẹt tận màng vô minh, khai sáng tuệ giác cho con người. Bởi đạo Phật là con đường dẫn đến trí tuệ giác ngộ, và người Phật tử chỉ có đức tin trong giới đức chân chánh, chứ không tin tưởng vào những thần linh, nghi lễ nào khác, dù cho những thứ đó đang có quyền lực hay đang được cao trào thế gian ca tụng.

 Chính đức Phật khi chưa nhập Niết Bàn cũng đã nhiều lần khuyên nhủ những người hữu duyên đến nghe Ngài thuyết pháp như sau :  « Chớ tin những điều không hợp lẽ đạo, những đức hạnh tuyên truyền, những phép lạ thuật lại, dù cho những điều ấy được phát ra từ cửa miệng của một nhân vật có rất nhiều uy quyền, có rất nhiều tiền bạc, có rất nhiều danh tiếng, nhiều bằng cấp, hay nhiều người theo ».

 Nghĩa là một sự việc chợt nghe qua có vẽ lộng lẫy, đẹp đẽ nhưng trong chiều sâu hàm chứa nhiều mâu thuẫn, nghịch lẽ đạo, ngu dân, dù nhất thời có được hàng ngàn, hàng vạn người xu phụ, cổ võ một chiều đi nữa, người theo Phật cũng không vì vậy mà tùy thuộc vào số đông, nhắm mắt tin càn, chỉ vì nghĩ rằng « nếu có lắm người tán trợ thì nó phải đúng ».

Trang trước                                                                                            Trang tiếp