ĐẠO PHẬT, KHOA HỌC, THIỀN PHÁP, SỨC KHỎE.
«Một trình bày khác» về TỨ VÔ LƯỢNG TÂM.
I- NGUỒN GỐC và ĐỊNH NGHĨA.
*Nguồn gốc = Phát xuất từ nền tảng thánh thiện.
<>Đó là PHẨM TÍNH (guṇa-lakkhaṇa) tỏa ra từ sự trong suốt (pasanna), vô nhiễm (sabbupekkhā=toàn xả), siêu thoát (lokuttara) của “TÂM PHẬT” (Buddha-citta), do tận phiền não (=vô tham-sân-si), -hay của một bậc «Đại Phạm Hạnh» (Mahā brāhmana) đang độ đời (=chưa tịch diệt). -Nói cách khác, ẤY (“sa”) cũng là HIỆN THÂN (punaravatāra) của giải cứu thanh cao (ariya-vimutti), hay ân đức của «TỊNH VIỆN» (Vsuddhi-vihāra).
-Đặc tính “SIÊU ĐỘ”(Lokuttara-pāramī) nầy là VÔ LƯỢNG (Appamāna), nên được tạm tượng trưng một cách qui ước “xuyên qua 4 mặt”…biểu lộ ý nghĩa “khắp phương đối đãi thuận hòa”, bao trùm cả 2 «pháp giới chính» là chiều đứng (trên/dưới),và chiều ngang (phải/trái, lẫn trước/sau), -tức là phối hợp toàn thể “tứ diện VÔ LƯỢNG”, để Phật hay Thánh nhân hành xử bình đẳng trọn vẹn không gian và thời gian…bất tận !
*Qui nạp theo qui ước, thì “định nghĩa” rằng :
<>Tứ Vô Lượng Tâm là “4 giác tánh rộng mênh mông”, hay 4 đức độ không biên giới, không thể đo lường được. -Nói rõ hơn, đó là 4 tâm chẳng lằn mức, -4 tâm vượt phân biệt trong ngoài, vượt phân biệt trên dưới, –4 tâm thường xuyên tinh khiết, thanh tịnh và bình đẳng.
II- Bốn tâm đó là :
TỪ (Mettà), BI (Karunā), HỶ (Muditā), và XẢ (Upekkhā).
Nói về nguồn gốc :
1/METTᾹ (tạm dịch là TỪ), do căn ngữ Pāḷī (hay chữ Phạn=Phạm) là “Mitra” có nghĩa thân thiện, lúc nào cũng xem đối tượng như đồng hành (sống chết với mình). -Căn “mitra” còn biến thành 1 dạng khác là “Mitta”, dịch là «bạn chí cốt». -Vì phẩm tính tâm giao, tận tình…xem như «người chung đường trung tín suốt đời» (=cùng chia xẻ sướng khổ, nhục vinh, thăng trầm), nên «2 phía» (=đôi bạn) lúc nào cũng muốn cho «sinh mạng cạnh mình» luôn luôn được an vui. Do đó, nội dung của chữ «TỪ» có nghĩa là ban vui.
2/KARUṆᾹ (tạm dịch là BI), do căn ngữ chữ Pāḷī (hay Phạn=Phạm) là “KR”, tức là chăm sóc, trắc ẩn, nên khi thấy «bạn đồng hành» gặp khó khăn, khổ sở, thì xót xa, tội nghiệp, sẵn sàng chia xẻ, gánh vát, giúp đỡ vô điều kiện. Vì đức tính ấy, nên BI có nghĩa cứu khổ.
3/MUDITᾹ (tạm dịch là HỶ), do căn ngữ chữ Phạn (hay Phạm : Pāḷī) là «Mudu» hay «MUD», có nghĩa là luôn luôn vui với cái hạnh phúc của người bên cạnh (và bất kể gần/xa). Vì đức tính ấy nên bậc phạm hạnh không bao giờ biết đố kỵ, phân biệt, so bì, khi thấy kẻ khác an vui hơn mình, -nên HỶ có nghĩa bao dung.
4/UPEKKHᾹ (tạm dịch là XẢ), do 2 ngữ căn chữ Phạn (=Phạm=pāḷī) hợp lại là «UPA» và «IKS», tức là thanh tịnh vượt lên tất cả trạng thái, thông thoáng…chẳng thấy mỗi thực tại khác nhau, không lằn mức, vô phân biệt thân sơ, xóa phê phán cao thấp, hay bất chấp chủ khách. Vì đức tính cao thượng ấy, nên bậc phạm hạnh dù biết đối tượng xung quanh đa tính thiện ác, tội phước chênh lệch, nhưng Ngài vẫn TOÀN XẢ, đối xử bình đẳng chẳng thiên vị, không dị ứng.
III- Hạng nào có TỨ VÔ LƯỢNG TÂM ?
-Chỉ có các bậc chân phạm hạnh hay Thánh Nhân (Ariya-puggala), thân tâm đã giải trừ tam độc (tham sân si), mới thực sự có đầy đủ Tứ Vô Lượng Tâm. «HỌ» là rất hiếm những bậc toàn tịnh, thoát khỏi mọi phiền não, tiêu biểu như Đức Phật.
Xin mô tả phẩm cách TÂM VÔ LƯỢNG ấy, qua ngụ ngôn như sau :
<>Giả sử có 2 người. -Một người buổi sáng đến trước Phật, nặng lời phỉ báng Ngài, rồi buổi trưa, buổi chiều cũng như vậy. -Còn người kia làm ngược lại, nghĩa là buổi sáng hân hoan tán dương Phật, buổi trưa sùng bái tán dương Phật, và buổi chiều ngưỡng mộ tán dương Phật.
-Khi 2 người gặp hoạn nạn, cùng ở trong một hoàn cảnh bất hạnh (vì lý do đặc biệt nào đó), chẳng hạn rơi vào tình trạng đói khát. Nếu khi ấy Đức Phật có mặt, Ngài sẽ tự nhiên đối xử bình đẳng với cả 2 đối tượng. -Chuyện nầy tuyệt đối không thể xảy ra giữa các hạng phàm phu, -ngoại trừ đóng kịch (mưu gian=đạo đức giả)…hay để đánh bóng cá nhân, tuyên truyền lừa gạt…lôi kéo quần chúng bình dân thực thà !
-Những ai học Phật, biết rõ phẩm cách của TỨ TÂM VÔ LƯỢNG nơi một vị Phật…thì không thắc mắc. Họ chẳng ngạc nhiên thấy «Phật đối xử với 2 người phỉ báng và tán dương kia như nhau, -tức là đầy đủ «4 thái độ đại hạnh» (siêu thế)…gồm TỪ (ban vui), BI (cứu khổ), HỶ (bao dung), và XẢ (bình đẳng, không phân biệt). -Ví như ngay lúc ấy Phật có một bát cơm và một ly nước, Ngài sẽ chia đều thành 2 phần ngang nhau, để cứu giúp 2 nạn nhân trước mặt.
-Ngài tuyệt đối không có cử chỉ do dự, thuộc về tâm cảnh phàm phu thiên vị, để «cho ai nhiều hoặc cho ai ít». -Hành động của Phật không phản ảnh những gì 2 người kia đã đối xử với ngài ! -TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (Catu mahāvihāra-citta) trong một bậc không còn tham sân si luôn luôn là thanh tịnh bình đẳng !
IV- Còn người phàm thì sao ?!
<>Phàm nhân nếu đã phát đại nguyện tu hành, noi gương Phật thì có thể thực hiện 4 tâm nầy. Nhưng theo Phật học, chúng ta không gọi đó là «TỨ VÔ LƯỢNG TÂM», mà là «4 tâm đại hạnh nhập thế» (lokiya mahaggata-citta), hay «4 tâm tịnh hảo» (sobhana-citta). Sách Giáo Khoa Phật Học còn mệnh danh là «4 thiện quang tâm», hay «4 tâm đại thiện» (Mahākusala-citta), -nói theo Vi Diệu Pháp (abhidhamma) !
Vì sao không gọi là vô lượng ?
*Vì khi chưa dứt tham sân si (kilesa=phiền não), và chấp ta (att’upādāna), thì phàm nhân (puthujjano) dù có công phu tu hành đáng kể, hay đang cố gắng thực hiện 4 hạnh từ-bi-hỷ-xả ấy đi nữa, thì họ vẫn còn bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt vi tế (gambhīr’ upādāna)…hằng tiềm ẩn rất sâu trong «tâm thức luân hồi», nên nó luôn luôn cản trở «tính vô lượng» cho đến khi họ đạt thánh quả !
-Ngoài ra, Kinh sách nhà Phật cũng nói «trong phàm nhân, thì cha mẹ là hạng người có thể có «tứ vô lượng tâm…đối với con cái». Nhưng do nghiệp quả mang thân người, cả «4 tâm quí báu» ấy tự động «phai dần theo tháng năm»…khi con cái trưởng thành. -Nói chính xác hơn, là «CƯỜNG ĐỘ tứ vô lượng tâm»nơi cha mẹ đối với con cái…kéo dài tùy theo nhân đức từ tiền kiếp. -Cũng có khi do nghịch duyên «nó» hết biểu lộ ! -Đó là lý do kinh Phật dạy, «nếu con cái bất hiếu, làm tổn hại đến sinh mạng của cha mẹ, thì phạm tội rất nặng, gọi là «đại tội», trả quả khổ cực kỳ lâu» !
***
V- Xin đề nghị vài nguồn suy tư.
-làm phát khởi tâm đại hạnh nơi phàm nhân.
a/Nếu ai có đức tin vào SỰ TÁI SINH (punabbhava), thì hãy thường xuyên suy nghĩ về vòng luân hồi tam giới, -nhất là thăng đọa giữa dục giới (kāmaloka). Vì tư duy đó (sa-saṅkappa) sẽ giúp chúng ta có thể thấy rằng «trong vô số lần luân hồi, hầu hết chúng sinh chắc chắn đã là thân nhân ruột thịt của nhau». Vậy chúng ta cần có 4 tâm từ bi hỷ xả, đối với chúng sinh, vì tất cả vốn vẫn là thân thuộc của mình, trong quá khứ lẫn trong tương lai. -Mà đã là thân thuộc thì họ đã từng làm điều tốt cho chúng ta. -Nhờ tiến hóa, chúng ta đang làm người có nhân tính…phải biết ơn họ, để không hành động bất nghĩa, dẫn đến oan trái và sa đọa thoái hóa về sau !
b/Nếu ai chưa có đức tin vào sự tái sinh luân hồi, thì hãy suy nghĩ về LIÊN ĐỚI HIỆN TẠI (Phật giáo gọi là cộng nghiệp). Vì rằng…trên đời, không ai có thể hoàn toàn độc lập, không nương nhờ xa hay gần vào người khác (=xã hội). -Tức là sự BÌNH AN của một cá nhân, vốn gián tiếp lẫn trực tiếp, là sự bình an của hầu hết còn lại.
-Ví như con đường dưới chân chúng ta đi, là kết quả của toàn dân đóng góp, trong đó có chúng ta. Nếu ta ít phước, nghèo nàn, thất nghiệp (chưa xin được việc làm), không đóng thuế, thì sự sống lành mạnh của chúng ta vẫn là một viên gạch, góp phần vào guồng máy sinh hoạt hòa thuận xã hội. -Nói rõ hơn, chúng ta có thể là «nhân tố hữu dụng» trong việc «tiêu thụ vật phẩm chế tạo», giữ cho thăng bằng các cân «cung/cầu», trong «mạch lao động sản xuất» của đa số còn lại. Theo đó, hạnh kiểm tốt đối với xung quanh, và tinh thần tôn trọng kỷ luật là hai yếu tố cần thiết, để vận hành tốt nền kinh tế cộng đồng, làm điều hòa nếp sống chung, bình an xã hội. -Ấy cũng là nền tảng để ổn định một quốc gia, trên đà phát triển mọi mặt…trong đời sống văn minh trên địa cầu. Rồi suy ra các lãnh vực khác, như chính trị, văn hóa, giáo dục, khoa học…v…v…thì hiệu lực của hạnh kiểm tốt cũng đều như thế !
VI- Ứng dụng vào thực tế.
-Khi bốn tâm đại hạnh từ bi hỷ xả được sinh khởi, thì «chúng tự hiện thân» trong các trường hợp sau :
-Thứ nhất, TỪ BI HỶ XẢ để biết chia xẻ lợi lộc của mình đến người khác. (tức là Bố thí, hay làm việc thiện, giúp người khác an vui).
-Thứ hai, ứng dụng để giữ gìn 5 giới của người tu tại gia (theo nhà Phật). Nhờ khởi 4 tâm từ bi hỷ xả, mà ta không hiếu sát, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không say sưa (do rượu và các thứ nghiện ngập khác). -Đạo Phật gọi là trì giới.
-Thứ ba, từ bi hỷ xả (trong tâm hướng thiện) hiện thân qua thực hành 5 giới, thì tư cách của hành giả trở nên…hiền từ, thân thiện, nghiêm túc, có tinh thần tự tin, có thái độ bình tĩnh. Từ đó họ dễ dàng hướng dẫn tâm thức vào thiền pháp, an trụ và phát triển vững chắc hơn, các khả năng giải trừ tham sân si, xuyên qua pháp thiền.
*Trong một xã hội có nhiều người bắt chước Thánh nhân, thực hành «tứ đại hạnh tâm» (từ-bi-hỷ-xả), thì đời sống bớt đi những xung đột nhỏ nhặt khó tránh hằng ngày. -Tuổi trẻ nhờ đó được thấy các GƯƠNG SÁNG…để noi theo, có tâm thức bình tĩnh, ít bồng bột, ôn hòa, thân thiện, bao dung, và biết tương trợ lẫn nhau trong kỷ luật. Tuổi trẻ ấy tự nhiên sống hòa thuận, dồi dào sáng tạo, thông minh lẫn tích cực. Xã hội ngày mai sẽ trở nên tốt đẹp hơn.
VII- Lạc quan chân thật.
TỪ BI HỶ XẢ là nguồn gốc của LẠC QUAN CHÂN THẬT.
*Giáo lý do đức Phật để lại, thường bị hiểu lầm là giáo lý «bi quan». Nhưng trong chiều sâu, giáo lý ấy hằng làm cho con người «lạc quan CAO THƯỢNG». –Lạc quan ở đây không phải là lạc quan vị kỷ, đóng khung cứng ngắc trong hài lòng ngã mạng…-mà trái lại, TỪ BI HỶ XẢ là lạc quan vị tha, phát ra hành động thấm nhuần thiện pháp. -Lạc quan nầy là nét đẹp phạm hạnh, có nội tâm đối xử thông thoáng, trước mọi đối tượng trong cuộc đời. -LẠC QUAN ấy đủ khả năng hóa giải tất cả những khổ vui, thuận nghịch, chắc chắn sẽ xen kẽ xảy ra.
*Còn ý nghĩa của «lạc quan» theo thường tình, chỉ qui vào sự hài lòng (tạm có) đối với cá nhân, để «sung sướng» một thời gian, và người hưởng thụ thiếu hẳn can đảm nhìn vào tính ngắn hạn, hay phù du của thực tại (hướng về không) …-Ấy vốn chỉ là sự lạc quan (hữu hạn), hay thỏa mãn tham vọng nhất thời, chẳng thể kéo dài, để gieo mầm cho bi quan sau đó (=tận vui sinh khổ). -Nghĩa là cái vui khi chấm dứt, thì cái buồn tự đến. –Rồi sự chịu đựng, khao khát niềm vui mới tiếp theo, bao giờ cũng khe khắc…mạnh hơn trước rất nhiều !
<>Nhưng với tâm tự tại, người Phật tử sẽ không cực đoan, để phủ nhận niềm vui ngắn hạn trước mắt. Họ cũng không tiêu cực, để nhu nhược, sợ sệt…chạy trốn những nỗi khổ của nghiệp báo phải đến. Họ vốn không tự đánh lạc hướng, hay ngụy trang thái độ, để «xoa dịu thực tại», nhằm tự an ủi và lừa gạt mình, -mà họ quen với tính tỉnh thức không mắc dính vào các «vui» lẫn «buồn» vô thường ấy. -Khi «cái vui» chấm dứt, thì họ cho qua, và thản nhiên với hoàn cảnh, không ngại đối diện với thực tại thăng trầm…dù «thuận lợi» hay «không thích hợp» đến cỡ nào…bằng sự duy trì vững chắc 4 tâm cao thượng, thăng bằng ấy !
*Về ý nghĩa sâu sắc, ĐẦY MINH TRIẾT…liên quan đến TỪ BI HỶ XẢ, chúng ta thấy trong kinh Pháp Cú (Dhammapada) có nói :
Không làm mọi điều ác. (Tức là TỪ)
Làm tất cả điều lành. (Tức là BI)
Giữ tâm trong sạch. (Tức là HỶ và XẢ)
Đó là lời Phật dạy ! (Giáo ngôn của bậc Giác-Ngộ).
——-
Còn dịch ra «kinh hán việt» thì :
Chư ác mạc tác. (Tức là TỪ)
Chúng thiện phụng hành. (Tức là BI)
Tự tịnh kỳ ý. (Tức là HỶ và XẢ)
Thị chư Phật giáo !
————-
Xin lược giải :
<>Không làm nghiệp ác bằng thân, bằng khẩu và bằng ý, tức là
*BAN VUI CHO CHÚNG SANH,
-và đồng thời BAN VUI CHO CHÍNH MÌNH, hay TỪ (METTÀ)
<>Làm các nghiệp lành, không tạo oan trái, tức là
* CỨU KHỔ cho CHÚNG SANH,
-và đồng thời CỨU ĐỘ chính MÌNH, hay BI (KARUNÀ).
<>Hành thiền, chánh niệm và tỉnh thức, tức là nuôi dưỡng
NGUỒN VUI TƯƠI TRONG CHÍNH MÌNH,
-và đồng thời cũng dành cho CHÚNG SANH, hay HỶ (MUDITÀ).
<>Bình đẳng (Vô ngã chấp) tức là
*TỰ TẠI NƠI CHÍNH MÌNH, -và đồng thời CHAN HÒA VỚI
TẤT CẢ CHÚNG SANH, hay XẢ (UPEKKHÀ).
Chúng ta hãy nhớ gương xưa :
<>Thuở sinh tiền, đức Phật nhờ tứ vô lượng tâm (catu mahāvihāra), mà hằng ngày sống trong «an lạc giải thoát». Ngài luôn luôn có đôi mắt tỏa sáng sóng từ bi, và nụ cười đầy hỷ xả trên môi…làm cho bất cứ ai nhìn thấy cũng hoan hỷ…-tiêu biểu qua các “hình tượng” mà chúng ta từng gặp khắp nơi ngày nay, dù cho các hình hay tượng ấy được hội họa, điêu khắc, hoặc nắn đúc, tuân theo khuynh hướng nghệ thuật riêng, của bất cứ quốc gia nào.
—————–
“Vì sao” TỪ BI HỶ XẢ cần được “phụ lục” ở đây !
<>Do câu hỏi “Vậy TỨ VÔ LƯỢNG TÂM liên quan thế nào đến “Soạn Phẩm Liên Đề”, mà phải nêu ra trong loạt bài “Đạo Phật, Khoa Học, Thiền Pháp, và Sức Khỏe” ?!
Chỉ vì “mấy điểm tham chiếu” sau đây :
<>Trong “Tuyệt đỉnh Thiền Học” Đạo Phật (Buddhasāsana bhāvanā), có phần pháp trình bày «bốn phẩm cách cực tịnh vô sắc» (catu arūpa-jhānāni suvisuddhiyā) “khá trừu tượng”, tương đối rất khó hiểu, gồm : 1/«không vô biên xứ» (ākāsā-nañcāyatana), 2/«thức vô biên xứ» (viññā-nañcāyatana), 3/«vô sở hữu xứ» (ākiñcaññāyatana), và 4/«phi tưởng phi phi tưởng xứ» (nevasaññā-nāsaññāyatana).
<>Các «bậc thiền» nầy nói lên «4 phẩm tánh thoát ly» (cao siêu), có thể xem tương đương với 2 LÃNH VỰC VÔ HẠN (dimension infinite), trong “khoa học vũ trụ” ngày nay. -Như…
I-“Khái niệm bao quát” về «KHÔNG GIAN TOÀN BIẾN» (“perpetuel-trans-espace” tương đương với “sukhuma rūpa” = tế sắc trong sách Phật), -có thể tạm gọi là “tĩnh vật qua dạng chuyển động vô tỷ cực vi và bất định” (micro-infini).
II-“Khái niệm bao quát” về “THỜI GIAN VƯỢT THỦY CHUNG” (“immeasurably continuous time” tương đương với “avicchinna kāla visaṅkhārā” = vô thời tánh không trong Phật học), -có thể tạm xem là “siêu việt sát-na”, -chỉ có trong thiền tâm nào đã tuyệt độ tinh khiết” và thoát động §.
<>“Thiền tâm” tinh khiết và thoát động § ở đây ám chỉ năng lượng (=thuần túy) của TỪ-BI-HỶ-XẢ, đã triệt tiêu tham sân si…có 2 phẩm cách bất khả thuyết bất khả tư nghì :
*Không còn bị hạn chế bởi mọi thứ vận hành của bất cứ sức hút nào thuộc vật chất biến dạng (có trọng lực), và…
*Không còn bị ảnh hưởng bởi chu kỳ xoay vòng của bất cứ năng lượng tinh thần nào, ở tất cả trình độ ấn tượng, do SẮC PHÁP (thô/tế, hợp tan (rūpa dhammā)* gây ra.
-“SẮC PHÁP hợp tan”* ở đây ám chỉ vật chất luân hồi THÔ hay TẾ (olāriaka/sukhuma rūpa-saṃsāra), vừa vô hình vừa hữu hình…trong 2 cõi dục giới (kāma-loka) và sắc giới (arūpa-loka).
<>Xin nhắc lại rằng, thân thể chúng sanh (sống trên và dưới mặt đất), -gọi chung là tất cả sinh động vật, -nói riêng là con người…vốn thuộc về vật chất lý hóa, vô cơ lẫn hữu cơ, hằng sinh-trụ-hoại-diệt. -Phật học gọi là tứ đại thô tế vô thường (anicc’olārika ca sukhumaca rūpa) trong «dục giới» và trong «sắc giới».
-“Xác thân” ấy khi vận hành theo dục vọng (taṅhā-saṅkhārā), tức là với tâm sa đọa (akusala citta), thì «nó» sẽ biến thành ô-trược, rữa mục do thường xuyên bị tràn ngập bởi “3 cấu hợp” tham sân si (lobha, dosa, moha). -Kết quả, «khối thân» ấy phải chịu sức hút tương tác (hay trọng lực lôi cuốn từ mọi đối tượng lớn hoặc nhỏ). Đồng thời nó đã nằm hẳn trong tình trạng trì trệ, cột trói, vướng mắc…bởi “vòng tròn thời gian” !
<>Phần sâu sắc nầy trong “Phật học gọi là pháp vận hành hiệp thế”, đã được trình bày qua các bài “nghiên cứu” trước rồi. Đó là «những chu kỳ thăng đọa» của NGHIỆP (saṃsāra kamma) giữa tam giới (tilokā), nhất là DỤC GIỚI (kāmaloka)và SẮC GIỚI (rūpaloka)…thô lẫn tế (sukhumapi-olārikapi) “rất trừu tượng”, dĩ nhiên là khó hiểu…!
-Về phía “đắc pháp thanh tịnh” gồm «các bậc thiền hữu sắc» (rūpa jhānāni), vốn “đặt nền tảng” trên “các đề mục” thô hay tế (olāriko-sukhuma rūpa kammaṭṭhāna) thích hợp với 5 căn môn, và ý môn (tức là 5 giác quan và giác quan thứ 6)…thì “biến hiên thăng hoa” là thoát từ cõi DỤC (kāma) tái sinh lên cõi SẮC (rūpa). -Riêng các «đề mục thuộc về niệm tưởng», thì vì “tính tương ứng”…nên đương nhiên thường dành cho ý-môn, (hay giác quan thứ 6) mà thôi !
-Ở đây, chúng tôi thiết nghĩ không cần nhắc lại dài dòng. -Soạn giả chỉ xin gợi lại, bằng mấy đoạn trên…«như một chiếc cầu» thôi…rồi “nối thẳng” vào THIỀN VÔ SẮC (arūpa-jhāna), -vì lẽ “TINH HOA của thiền vô sắc là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM, hằng có liên quan rất ý nghĩa và đầy xây dựng…đến «soạn phẩm liên đề» Phật học, Khoa học, Thiền pháp, và Súc khỏe !
*Nói cách khác, TỨ VÔ LƯỢNG TÂM là cần thiết cho SỨC KHỎE, hay «tứ vô lượng tâm là pháp bảo vệ sức khỏe tốt nhất» ! -TỨ VÔ LƯỢNG TÂM cũng là hiệu lực vô song của vận hành bát-nhã, -mà “BÁT-NHÔ (prajña) chính là đại dương, chứa tất cả những làn sóng trí thức, -động cơ chính của khoa học trong mọi thời đại văn minh !
<>Nói tóm lại, Đạo Phật và Thiền học luôn luôn phục vụ chúng sanh, -nhất là cõi người…vượt qua mọi thực trạng sinh lão bệnh tử. -Khi tâm thức nhân loại còn bị cột trói bởi hưởng thụ thân mạng (jīvit’upādāna) thì Đạo Phật và Thiền học giúp họ GIẢM KHỔ tham sân si, để tiến hóa trong hạn chế. -Nhưng khi con người đã thanh tịnh, hết vướng mắc, thì ấy chính là động cơ GIẢI THOÁT (nibbāna) !
———-
Nhắc lại một số phát biểu đẹp :
*Hiệu lực (hay quả lành) của sự giữ giới (sīla), là không phải chỉ riêng cho mình, mà còn cho tất cả chúng sinh. Dĩ nhiên trong đó có mình, là người tình nguyện giữ giới !
*Không thể chẳng giữ giới mà có thể sống hướng về chúng sinh được, vì biệt nghiệp và cộng nghiệp hợp lại, mới có thể làm “xung quanh” và “mình” được thường xuyên an vui.
*Biệt nghiệp và cộng nghiệp không thể tách rời nhau. Hành giả ít nói, «vào rừng tu tập» không phải là «tạo biệt công», để chỉ tốt cho riêng cá nhân, mà là cống hiến «thân giáo», hay tạo «tạo nghiệp chung» trên dương thế…đóng góp hạnh kiểm tốt cho xã hội lẫn cho nhân quần. Vì hành động nào cũng có người khách quan nhìn thấy, xem như một đối tượng tự nhiên, đóng vai “tấm gương” xấu hay tốt, -xấu thì bị chê trách, ghê tởm, lánh xa, -tốt thì người ta khen ngợi, gần gũi, kính trọng…bắt chước ! –Nó có khả năng thuyết phục quần chúng noi theo, hơn là hùng hồn diễn thuyết.
*Theo quán chiếu…trong chiều sâu tinh thần Phật giáo, cái áo nằm trên thân chúng ta, không phải là “kết quả của biệt nghiệp”, chỉ do ta mua được. Mà nó rất liên quan đến “khá nhiều cộng nghiệp” giữa xã hội…-từ người trồng bông vải cho đến người thợ cắt may, -từ người tiểu thương (mua đi bán lại các vật liệu chế tạo, hay toàn bộ hoàng hóa đã làm ra), -từ ông chủ kinh doanh cho đến trưởng phòng phát lương hằng tháng cho nhân viên…v…v…-để sau cùng dẫn đến thực tại, là chúng ta và những người lãnh lương, có tiền mua áo.
*Tất cả hợp lại thành…những chu kỳ cộng nghiệp. Nghĩa là, vui khổ (cực nhọc rồi được đền bù) của số người nầy, luôn luôn liên hệ (nếu không muốn nói là tùy thuộc) vào một số người kia. Nhưng ít ai thường xuyên ý thức rõ điều ấy. -Đó là lý do «các hàng con phật» (=thực hành giáo lý) luôn luôn sống cuộc đời biết ơn xã hội (=mọi người), chúng sanh, và yêu chuộng hòa bình.
*Hai chữ «chánh pháp» (Sammà dhammo) trong Phật giáo vốn chứa đầy ý nghĩa hướng về trung đạo. Nó rất ôn hòa, thanh nhã….-vì vậy, không nên hiểu «chánh pháp là để tiêu diệt tà pháp», mà «chánh pháp để hóa giải tà pháp». Và TRUNG ĐẠO cũng không phải là cái khung để cố chấp, -mà là một cách sống giải ác, tích thiện…dứt tội khai thông, lành mạnh…-đồng thời cũng cởi mở, sáng suốt, hướng thượng, hòa đồng, trong từ bi hỷ xả…đối với tất cả đối tượng (hữu tình lẫn vô tình), thích hợp hay không thích hợp !
*Khi VƯỚNG MẮC (=cố chấp), thì “sống” và “chết” là «2 vấn đề» rất khó khăn, đáng sợ…của một thực tại. Nhưng khi từ bi hỷ xả thì SỐNG và CHẾT là hai “đánh dấu” của một chu kỳ, trên con đường biến hoá, tiến đến lành mạnh, giải thoát. -Ai chưa thực sự CÓ từ bi hỷ xả trong tâm, mà bàn đến “vô ngã”, hay về “chấm dứt sinh tử”, thì chỉ là nói chuyện lý thuyết, “hoang đường” !
*Theo Phật giáo, «tâm linh» không phải là “biểu lộ tất nhiên” của thần kinh, -tức chẳng phải sản phẩm của vật chất ! Nó là «cái gì» người còn tham sân si, dù thông minh đến đâu cũng không thể nắm vững được. Chúng ta là người phàm, không thể biết nó là lẽ tự nhiên ! Nhiều người nói «Tôi hoàn toàn biết rõ tâm tính tôi!» Điều đó chưa chắc ! -Thuở đức Phật còn tại thế, đã có nhiều kẻ hỏi Ngài “tâm linh” là gì, Phật liền từ bi khuyên «hãy hành thiện, tiến hóa, trở thành bậc Toàn Giác, tự nhiên sẽ biết».
*Cái mà chúng ta cần loại trừ, là VÔ MINH (avijjā), nguồn cội của tham-sân-si, chứ không phải là “bản ngã” (=hiện thân của nghiệp : kammassatta), vì “bản ngã” tham sống hưởng thụ ấy (sa-atta) ấy…trong chừng mực nào đó, vốn là “nguyên nhân” (hetu) để “tâm thức” (=citta-viññāna) phát sinh “tinh thần trách nhiệm” (kamma-vipāka cetanā). Và luật nhân quả là một cách diễn tả «cái tôi có tinh thần trách nhiệm.
*Nói «Vô ngã» trong ý nghĩa là không có «thức tánh» gì hết, để không có CÁI CHI nhận biết vàchịu hiệu lực mọi việcMÌNH đã làm», thì rất mâu thuẫn với Phật giáo ! Vì không có «tôi tạo nhân» thì làm sao có «tôi nhận quả». -Nói «vô ngã» kiểu đó, dễ gây hiểu lầm rằng «làm gì cũng được, không sợ chính mình chắc chắn sẽ nhận quả báo, hay sẽ chịu trách nhiệm sau nầy». –Và KẾT QUẢ (tốt hay xấu) ấy dành cho kẻ tạo nghiệp…bao gồm…còn sống hay sau khi chết !
*Trong một xã hội mà mọi người CHẲNG CÓ «cái tôi xứng đáng», không biết tự trọng, luôn luôn độc đoán, tham ô, lừa đảo…không có tinh thần trách nhiệm, không xác nhận lý nhân quả nghiệm đúng, thì cuộc sống xã hội đó…sẽ vô cùng hỗn loạn, đau khổ. -Ngược hẳn với 4 đức từ bi hỷ xả mà các Bậc Phạm Hạnh đã lưu lại để cứu độ thế gian !
*Vả lại, mục đích trước mắt của đạo Phật không phải là gấp rút đạt đến «vô ngã» một cách ngu tín, mà là phát triển TINH THẦN TRÁCH NHIỆM (=soi sáng luật nghiệp quả=công bằng, an ninh), dù cho cứu cánh của người tu Phật vẫn là TÂM TOÀN XẢ (buông bỏ ngũ uẩn), không mắc dính vào cả 2 khái niệm đối nghịch là «ngã» và «vô ngã» (vốn hoàn toàn ảo giác !), để bình đẳng giải thoát !
*Sở dĩ đức Phật thuyết về “vô ngã” là vì loài người vướng sâu trong cố chấp sắc tướng hợp tan (ngũ uẩn), hằng chịu khổ…lầm cho đó là ta, là của ta, hay là nguồn hạnh phúc. -Phật vì từ bi cứu khổ, nên nói rằng «Sắc tướng hợp tan (hay năm uẩn) kia không phải là ta».
*Trong bài pháp thứ II (sau khi đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác), Phật thuyết đề tài “ANATTA-LAKKHAṆA”, phải dịch đầy đủ là «vô ngã tướng», chứ không nên dịch bỏ sót là «vô ngã». -Khi chuyển ngữ không nên bỏ quên chữ «tướng» rất quan trọng, vì nó ám chỉ “sự vận hành HOÀN KHÔNG” do tứ đại hợp tan. -Chỉ một nửa ý nghĩa của “đề tài kép” ấy, không chuyên chở hết nội dung của nó.
-Xin “phân tự” và chú thích “nghĩa gốc” tên bài kinh như sau :
*Anattalà vô ngã. *Lakkhanalà tướng, *Suttalà kinh. -Tổng hợp 3 phần vào 1 chữ…thành «anattalakkhanasutta», phải được dịch đủ là «Vô ngã tướng kinh». -Ngoài ra, khi xóa tiếp đầu ngữ phủ định «a», thì hình thức còn lại là “atta” cũng được dịch “ngã”.
*Nếu chúng ta hiểu một cách thanh tịnh rằng, “Sắc thân ngũ uẩn nầy không bền vững”, nó chẳng phải là ta hay VÔ NGÃ (anatta) ! –Nhưng cái “tâm thức tiến hóa”, chịu trách nhiệm trước mọi việc mình làm, thì VẪN Ở ĐÓ. –Nó rất kỳ diệu và biến hóa theo từng hoàn cảnh, từng cấp độ thiện ác, đểthành ma cũng nó, haythành Phật cũng lại nó. –Chính khả năng linh hoạt ấy xác nhận là…“NÓ CÓ” (bhava) !
*Hiểu như vậy…thì hành giả luôn giữ HẠNH VÔ NGÃ, không nuông chiều sắc tướng thô tế hay ngũ uẩn hợp tan, đầy ô-nhiễm dục vọng. -Đồng thời họ tinh tấn tỉnh thức…sống với TỊNH TÂM VÔ CHẤP. -Nghĩa là tôi không vì tôi mà làm khổ chúng sanh, không vì chỉ muốn người ta khen “MÌNH VÔ NGÔ, mà ngoài miệng thường xuyên nói “không có tôi”, nhưng trong «chiều sâu», cái TÔI ÍCH KỶ ấy vẫn «rất là quan trọng» !
-Nhờ “NÓ” đã tùy duyên biến hóa…từng nhiều phen thăng đọa trong bộ máy luân hồi, và hiện thân trong một số kiếp được hưởng quả tốt do những nghiệp thiện NÓ đã làm, hay hiện thân là quả xấu do những nghiệp ác NÓ đã phạm! -Chung qui, ấy vẫn ám chỉ cái trách nhiệm (resonsability=dhurandharatā), -như “hệ luận” (corollaire) của “định lý nhân quả” (cause/effet théorème), -nói theo toán học ! -Sống như thế là thực hiện vô ngã, chứ không phải «chỉ nói một cách cuồng tín», -nhất là không rơi vào đoạn kiến, tuyệt diệt (vô nhân quả), chà đạp nền tảng đạo đức !
*Theo Phật học, chính vô minh (avijjà=ignorance) đã che áng tâm linh, và làm cho tri thức đắm chìm trong dục vọng, rồi vướng mắc, ôm cứng «ngũ uẩn» (pañca khandha) một cách triền miên, liên tục xem những tập ấm giả hợp kia (aniccā khandha)…là «ngã» (atta), hay bản lai diện mục của mình. -Và nguy hiểm đáng sợ hơn nữa, là cũng chính vô minh đã «nhốt kín tinh thần», biến “tuệ căn” trong tri thức của một người trở thành «duy vật», không biết giá trị tâm linh là gì, nên họ chỉ sống với cảm giác đòi hỏi hưởng thụ, chẳng khác nào thú vật !
*Một danh nhân đã nói : «Tất cả các điều con người phàm tục có thể phát biểu, luôn luôn không chuyên chở hết sự thật».
<>Do đó, tất cả những gì đã xem là «cảm nghiệm thiêng liêng» (dù cho trực tiếp), mà con người chưa chứng minh cụ thể được…vẫn bị cho là «hoang đường», chỉ vì tri thức của họ chưa đạt tới…và không giác ngộ để biết chắc…-chứ ẤY không phải là không có». -Và xem ra, mọi vật (hay hầu hết vạn pháp) trên đời luôn luôn là như vậy.
-Nghĩa là “CHÚNG” luôn luôn «ở đó», mà không cần sự nhìn nhận của bất kỳ ai, hay quyền năng nào. -Còn con người thì hằng bị vô minh che áng, nên «đeo cứng cố chấp» (như con trâu và cái ách), trở thành cực đoan, tình nguyện rơi vào ngõ cụt, là duy vật (vô thần) hay duy tâm (hữu thần) một cách mù quáng !
*Không một lời dạy nào của đức Phật, hướng dẫn chúng sanh, nhất là loài người đi vào sự đóng khung cả (=bế tắc) ! Vì vậy, hàng «con Phật» không bao giờ chủ trương phiến diện (=một chiều), chỉ phát triển tâm linh, và bỏ rơi vật chất lành mạnh..! -Mà trái lại, chúng ta phải tỉnh táo, sáng suốt cải thiện cả hai, đồng thời không cố chấp, và chịu nô lệ cái nào cả !
*Theo tinh thần trung đạo, “KHÔNG” tức là “CÓ”, và “CÓ” cũng là “KHÔNG”. -Bởi lẽ nếu «không thật», thì chẳng gì sinh ra được. Cũng như nếu «có thật» thì dù tan rã chẳng biến mất. Như vậy, cái «đang có» trong thực tại, chỉ là tạm thời, để hợp tan xoay vòng, -chứ không đại diện cho cái hằng CÓ. -Còn ngược lại, cái KHÔNG thấy trước mắt chỉ là trạng thái biến hóa. -Tất cả tùy thuộc vào PHÁP (dhamma) gọi là “nhân duyên quá khứ, hiện tại, và vị lai…nối liền liên tục”. -Và chính sự biến đổi kỳ diệu đó xác nhận rằng :
*CÓ lẫn KHÔNG đều THẬT = Atthipi Natthipi Asatho !
Nghĩa là :
Cái nầy có thì cái kia có.
Cái nầy không thì cái kia không.
Hay như cổ đức đã nói :
“Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian nầy cũng không
Hãy xem bóng nguyệt dưới sông
Mới hay không có, có không là gì !
<>Nếu nghĩ rằng “cảm giác khổ đau hay vui sướng trong tinh thần lẫn vật chất…vốn là “2 giả lập” thuộc về “mộng tưởng”. -Vậy chỉ cần “tỉnh mộng”rồi xụi tay…buông trôi tất cả mộtcách đầu hàng, thụ động dựa trên “thuyết vô ngã”, thì phải chăng 2 trạng thái ấy(khổ hay vui)sẽ…tức khắc chấm dứt !?
-Câu trả lời chắc chắn là “không”! -Vì sao ? -Vì nếu “tỉnh mộng” do tự kỷ ám thị…bởi “thuyết vô ngã”, -theo kiểu chỉ xóa cái tôi của xung quanh, nhưng cái tôi chính mình hãy cho qua, thì lòng tham không đáy trong mỗi cá nhân vẫn còn nguyên vẹn.
-Kết quả, các “chiêu thức nguy hiểm” (tham sân si) của VÔ MINH sẽ có dịp được “tô điểm” để “tung hoành”, lôi kéo con người…khi chạy mãi không thõa mãn vật chất, thì liền“dệt mộng tinh thần” (-như ước mơ thiên đàng thất bảo chẳng hạn !), với “cảnh ngụy trang toàn màu”, gọi là “tịnh độ” hoàn toàn vui sướng, tuyệt đối không khổ đau !?
*Thiếu chi người đã tin tưởng, phát ngôn như cái máy, “tôi đã tỉnh mộng vì nhận thấy hưởng thụ vật chất đã làm cho tôi đau khổ”. Nhưng tiếp theo họ vẫn không giữ giới, không hành thiền, và không đủ sáng suốt để tự quán, -tiếp tục bị lòng tham đội lớp «giác ngộ», dẫn dắt tư tưởng đi vào ước mơ…xây dựng cực lạc. -Đó là “sự đánh lừa”, nếu không muốn nói là “rơi vào tà kiến !
<>Còn kẻ vô thần (=đoạn kiến) thì không ngần ngại chụp lấy cơ hội, ngụy biện rằng “VÔ NGà là không có tôi ở bất cứ kiếp trước sau nào cả”. Tội hay phước hiện tại và tương mà thế gian nêu ra trước và sau khi chết…chỉ là chuyện hoang đường”. –Vì“chết là hết” và “không cần tu hành…cũng siêu độ như thường !”. -Lý luận nầy phản ảnh tâm cảnh vô minh rất sâu, trong các bộ óc cực đoan, -một loại tư duy ngu si cực kỳ nguy hiểm. -Đó chính là phân bón tốt nhất cho hạt mầm của các loại cỏ hoang, như lười biếng, chán đời, tiêu cực…bỏ bê bản thân…v…v…-đương nhiên gián tiếp phá hoại cõi người, -nhất là từ chối bổn phận đối với đời sống trước mắt !
*Do đó, chỉ “tỉnh mộng vật chất thôi” thì…hoàn toàn không đủ, mà cần cả “tỉnh mộng tinh thần nữa” ! -Muốn tiến hóa, chúng ta phải tình nguyện phát triển thân tâm qua hạnh tri túc,-nhất là tích cực, siêng năng, -không nên nhu nhược viện dẫn “thuận lẽ tự nhiên” (?), -tương đương với “sống theo bản năng” (như thú vật!). -Vì như thế “công phu thanh tịnh và trí tuệ” của một người hướng thiện…mới có thể giúp hành giả thực sự thăng hoa, biểu lộ các đức tính bình đẳng, hòa đồng, và vô chấp…đúng Khoa Học và Trung Đạo.
*Phật ngôn khuyên…-thay vì trốn tránh cái khổ, hành giả cần đối diện, hóa giải nghịch cảnh, và nhất là cố gắng vẹt vô minh, một cách có chánh kiến. -Vì còn VÔ MINH, thì con người rơi và 2 lối bế tắc, -hoặc là say sưa xây dựng hưởng dục, DUY VẬT, -hoặc là phiêu lưu mơ ước thiên đàng, tưởng tượng một nơi nào đó, do THẦN QUYỀN tạo sẵn để “tiếp độ” những tâm hồn si mê…biếng nhác, coi thường công phu ! -Chưa kể “khối sở tri chướng” trong tư tưởng của những “trí thức phàm phu”, cho rằng «ta biết nhiều thuyết lý tôn giáo, và có trí tuệ» (?) thì “tất nhiên” ta biết lắm đường lên cõi siêu thăng !
<>Nhưng xét kỹ, theo thiển ý của chúng tôi, muốn tiến hóa trong đạo Phật, bước khởi đầu cần tùy tiện, không nhất thiết phải tuyệt dối dứt bỏ «lòng tham». Vì dù sao, “lòng tham cũng là động cơ của mọi hành động”. Hãy ngay thẳng nhìn nhận rằng «thích làm việc thiện cũng là tham lam vậy». -Không nên ngụy biện nói, «“tu phước” hay “làm việc thiện” chẳng phải là do “tham lam”, mà là do “tâm thiện”» (?!)
–Hành vi của thánh vô lậu, có tinh thần tinh khiết, toàn xả (upekkhā), luôn luôn sống với TÂM THIỆN (sobhaṇa citta) ấy…ngày nay rất hiếm. -Hiếm như đôi sừng…so với số lông trên da loài bò. Nếu tưởng nhớ công phu tự độ (ba-la-mật=pāramī) của chư Bồ-tát (Bodhisatvā), trước khi thành Phật (Buddha), chúng ta cũng biết rằng…các Ngài cũng đã tình nguyện vượt bao trở ngại, làm vô số việc lành, để chỉ nhắm đến một “lợi ích duy nhất”, đó là GIẢI KHỔ !
*Lời Phật dạy vốn nghiệm đúng một cách tự nhiên, trước các mối quan tâm sâu kín (=mong ước) của nhân loại…-ở bất cứ nơi nào có người phát tâm hướng thiện, tiến hóa ! Phật giáo là một «khoa học», nhắm đến sự phát triển quân bình tâm linh lẫn thể xác. -Vì giải thoát tinh thần cũng là giải thoát vật chất. -Và ngược lại, thể xác lành mạnh thì tinh thần mới bình an !
<>NIỀM TIN hướng thiện (kusala saddhā) dựa trên THÂN TÂM quân bình của mỗi cá nhân là một “năng lượng tích cực” để cùng nhau xây đựng con đường tiến hóa lâu dài (=ổn định xã hội). -Đồng thời cải thiện tật xấu của từng cá nhân, tức là sửa sai nếp sống thường xung đột…đem lại hòa bình cho mọi người.
*Và trong đời sống tân tiến, người ta có thể thiếu tín ngưỡng, thiếu tôn giáo, nhưng người ta không thể thiếu niềm tin. -Vì đó là một “nội lực cần thiết để duy trì hy vọng”. Nó luôn luôn có 2 phẩm cách, là xứng đáng và không xứng đáng (hay thiện và ác). -Niềm tin ấy có thể xem một cách “quan niệm bình dân”…là “tương đương” với “lòng tham sống”, và nó luôn luôn cũng là động cơ của mọi sinh hoạt !
*Đáng tiếc thay, “sự đa dạng” của “lòng tham sống” (jīvita taṅhā), lắm khi chính là mặt trái của “nền kinh tế”, nên “vận hành” trong 2 lĩnh vực “quốc phòng” và “đạo đức”, người ta không tránh khỏi “phải xuôi theo” 2 tính cách xứng đáng và không xứng đáng. -Rồi 2 tình trạng ấy đương nhiên trở thành mâu thuẫn, nhiễu nhương… giữa cuộc đời, bao gồm cả “bảo vệ tín ngưỡng và tôn giáo”, tức tham gia vào xung đột võ trang, mà tín đồ mỗi bên đều tin tưởng, gọi là “thánh chiến” (?!). -Thật là một cái bẩy vô cùng nguy hiểm, khiến cho khi đã vướng, người ta KHÔNG THỂ TRÁNH cái NGHIỆP XẤU, là…-vừa sản xuất hàng loạt võ khí cung cấp cho chiến tranh đầy tàn phá…-Vừa cũng chế tạo dụng cụ cứu thương lẫn tay chân giả…để gọi la cứu giúp nạn nhân sắp phải chết hay bị tàn tật…-và làm “việc thiện”!(?)
(Ghi lại hướng dẫn thảo luận Phật học tại Paris ngày 5/12/2010 của cư sĩ TL)
————————————————-