Archives pour la catégorie Biên sọan

Tất cả bài viết thuộc về biên soạn thì cho vào catégorie  » Biên soạn « 

Soạn phẩm liên đề :«Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe» Bài 2

———

Bài II

Đạo Phật qua nhận xét giới Khoa Học.

*Đặc biệt là phát biểu về đạo Phật của Cố Giáo sư Albert Einstein (1879-1955), người đã khám phá ra năng lượng hạt nhân (énergie nucléaire), chúng tôi xin nêu dưới đây nguyên văn Anh ngữ của ông, và thoát bản dịch Việt ngữ, để bước vào nội dung tập sách nầy :

The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual, as meaningful unity. If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism”.

Xin thoát dịch ra Việt ngữ như sau :

« Tôn giáo của tương lai sẽ là tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát 2 phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên tinh thần, đặt trên căn bản của ý thức luân lý đạo đức, phát xuất từ kinh nghiệm toàn vật, gồm mọi lĩnh vực vừa kể, trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng được các điều kiện kể trên».

(Đây là Ý KIẾN RẤT VÔ TƯ của một nhà Bác-học lừng danh).

***

-Và với phát biểu của Albert Einstein, chúng tôi xin vào “liên đề” :

ĐẠO PHẬT, KHOA HỌC, THIỀN PHÁP SỨC KHỎE.

<>Một trong bốn “lãnh vực” nầy là Đạo Phật, nhất là về “nhân cách” của vị “Giáo chủ”, tức Đức Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Muni Buddha), đã được chúng tôi mượn lời của những danh nhân thế giới bày tỏ ở “Bài I”. -Hiện tại là lúc soạn giả phải nói về nội dung tập sách. 

*ĐẠO PHẬT là 1 “tôn giáo” có THIỀN PHÁP là “khoa học thanh lọc tâm linh”. Nó không giống với “kỹ thuật” của “môn thần học” (théologie) của bất cứ đạo nào trên mặt đất. -Vả lại, thiền pháp” (bhāvanā) trong nhà Phật đã được nói đến từ lâu, chứ không phải đợi đến bây giờ chúng ta mới nêu ra. Nhưng “thiền pháp” trong soạn phẩm nầy lại là một “sự thật khác”. Còn KHOA HỌC đề cập ở đây, là trí tuệ được áp dụng tính khách quan trong đạo Phật, để khảo cứu về con người, về xã hội và về vũ trụ.

-Khoa học trong cái nhìn của đạo Phật, luôn luôn duy lý trong kiến thức, để ghi nhận rằng, con người hằng sống và sinh hoạt tuân lệnh “trí khôn”, -có sự phân tích theo tâm tư sáng suốtthích ứng với thực tại. Nghĩa là, khoa học càng tiến tới, thì mọi hình thứctrong vận hành lý hóa của đời sống vạn vật (-nhất là con người), càng cần đến sự phát triển quân bình (trung đạo) một cách liên tục, cụ thể và hiển nhiên (để được xác minh).

*Phật giáo quan niệm “sống là vận hành, là tạo nghiệp, là trở thành một cái gì đó”, nên đặt trọng tâm vào “năng lực thúc đẩy tiến hóa bên trong”, tạm gọi một cách qui ước là “giòng điện tâm chảy về phía trước” (-tạm gọi là hướng đến “tương lai”= kết quả). Từ đó, Phật giáo khuyến khích con người hướng vào “nội tâm” (citta-viññāna) để phát triển tinh thần, hầu làm cho cuộc đời nở hoa và tỏa hương thơm, -gặt hái HIỆU LỰC VĂN HÓA. –Nhựa sống của văn minh !

-Nếu khoa học bị “sự căn cứ trên tính hợp lý” đóng khung, thì Phật  giáo sẽ mở cái khung ấy (nhờ vô chấp), để giúp tư tưởng con người vượt qua “qui ước tương đối”. Đó là một đặc điểm tuyệt vời, đã đưa Đạo Phật đến tín dụng siêu việt, giải thoát cả đến các “vướng mắc vào thiện pháp”, dù cho hàm chứa “phẩm cách tích cực” nhưng ấy vẫn là một dạng của lòng tham (!), hầu có thể tiến hóa chung. -Nghĩa là Phật giáo vun xới tinh thần hợp trí, (ñānasampayutta) thiết lập tri thức thông thoáng…làm cho con người luôn luôn sống tỉnh thức, thấy rõ mọi ý nghĩ, hành động, cũng như cảm giác (thuận lẫn nghịch)…trong mục đích dấn thân vào sự thiết lập các sinh hoạt lý hóa toàn cầu, mang lại hạnh phúc cả THÂN lẫn TÂM cho mỗi cá nhân và cho tất cả.

<>Xuyên qua nghiên cứu các kinh sách nhà Phật, nhiều học giả đã “khám phá” một số lớn viễn ảnh tích cực, dưới dạng “những ẩn số”, nói về vũ trụ và các cõi có sinh linh…tương đương với các thống kê của quan sát không gian, đã được các nhà bác học thiết lập. -Dù cho nhìn bề ngoài, người ta chỉ thấy hầu hết kinh Phật luôn hướng đến cách tu tập, nhằm thoát khỏi các chịu đựng bất tiện (dukkha), liên quan đến đời sống…nhưng với một tâm thức sâu sắc, người ta vẫn thấy ấy là một giáo lý mô tả “bản sắc lý hóa” của thế gian và vũ trụ.

-Mặt khác, Phật giáo vẫn phát biểu rằng, mọi hiện tượng cụ thể hay trừu tượng (thấy được hay không thấy được), đang nằm trong tầm quan sát bắt đầu từ hình thức…đều chỉ là qui nạp của “hiện kiến”, dựa trên “luận cứ đã có”, -vốn hiển nhiên là “kết quả” của những yếu tố đã hoàn toàn tan rã, đến từ các CHU KỲ sống trước (hay nguyên nhân quá khứ), -nói theo nhà Phật !

-Đây là kiến thức vũ trụ, hằng thậtminh bạch trong sự sống thế gian, rằng hạt không thể mọc và nẩy nở, mà không có những điều kiện thích ứng tự nhiên (=trợ duyên), -dù cho ấy là hạt “rất tốt”! -Nghĩa là Phật giáo cũng như khoa học luôn luôn đặt ưu thế trên điều kiện tương tác trong hoàn cảnh thực tại. -Người học Phật không tùy thuộc vào sức mạnh “siêu nhiên”, mà phủ nhận thực nghiệm.

*Một khoa học gia vô tư, muốn tìm ra sự thật trong cuộc sống, chắc chắn sẽ được Phật học soi sáng. -Rằng mỗi khi con người có sự tỉnh thức thanh tịnh (đúng Phật pháp : dhammmena), thì niềm tin tôn giáo có thể sẽ không cần thiết trong tâm nữa, và “NÓ” cũng không phải là điều kiện tiên quyết. Họ sẽ khám phá ra nhiều điều mới lạ về sự Giác ngộ (bodhi), hơn là những giáo điều nhắm mắt tin mù. -Bậc trí thức chân chánh thì không tạo ra sự “cọ xát tư tưởng” một cách vô ích, với bất cứ tôn giác nào, vì lý do khác niềm tin. 

-Ngày nay, người Tây Phương có vẻ khá “say mê” tôn giáo Phương Đông, đặc biệt là đạo Phật. Hiện tượng nầy đang xảy ra với sự phát triển khoa học, và song song với sự nhàm chán các tôn giáo cổ truyền của họ. -Và khi khoa học tiến tới, thì “khủng hoảng tôn giáo” dường như gia tốc, không tránh được gây ra lủng củng giữa “tín ngưỡng” và “lý trí”. Lủng củng ấy không khéo sẽ làm cho tâm linh con người mất “điểm tựa”, nếu không có đạo Phật ngẫu nhiên đóng vai trò “xoa dịu” một số rạn nứt và chênh lệch…giữa vật chất và tinh thần !

-Xem ra sự có mặt của đạo Phật ở Phương Tây trong hiện tại, đang là kết luận của giai đoạn, gọi là “Hậu Darwin”, cần đến một tôn giáo có niềm tin dựa trên bản sắc khoa học.

<>Phải chăng tiến bộ lý hóa (bao gồm không gian) đã trở thành “tôn giáo” của Tây phương, -một “tiêu chuẩn có vẻ tuyệt đối” để khám phá sự thành lập vạn vật như thế nào. Và khoa học là cái “lãnh vực” quan trọng nhất, đối với cuộc sống ngày nay. Đồng thời Đạo Phật là một “giá trị khác” mà khoa học không thể bỏ qua, vì tính soi sáng đa chiều của giáo lý giác ngộ. Cùng lúc ấy, các khoa học gia còn thấy rằng, những ĐỐI CHIẾU giữa khám phá khoa học và “hệ thống các pháp” được Đức Phật thuyết minh, cũng rất “khế hợp” (=ăn khớp), -mặc dù trên bề mặt, ưu điểm ấy chưa nổi bật lắm, để cho số đông chú ý.

-Và đáng mừng thay, đã có không ít những nhà khoa học lỗi lạc, quan tâm đến “nhiều tiết lộ” trong Kinh Phật, nhất là trong văn bản nguyên Thủy (chữ Pāḷī). Từ đó, tư tưởng Phật giáo chợt trở thành quí báu (trong cái nghĩa thực dụng) trước những khảo cứu khách quan của giới trí thức, và không còn bị coi là “cổ điển” hay lỗi thời, -mà trái lại, “nếu trân trọng thì Phật giáo có thể là phân bón tốt nhất” cho khoa học, trên mọi phương diện !

<>Thử nhắc lại các công đoạn của khoa học, như quan sát, luận giải, kiểm chứng, và qui nạp (rút kinh nghiệm). Chúng ta thấy, QUAN SÁT cần đến 5 giác quan (mắt để thấy, tai để nghe, mũi để ngửi, miệng hay lưỡi để nếm, và tay hay làn da để sờ). Luận giảikiểm chứng là cân nhắc, đòi hỏi khả năng của tinh thần. Qui nạpkinh nghiệm cái cảm giác thực tế, khi kết thúc một công việc.

-Các vai trò của 5 giác quan và bộ óc khi đã tương tác rồi biến đổi ra thể dạng nào, vẫn tùy theo các nguyên tắc khoa học, Phật giáo gọi là “đúng pháp” (dhammena). Và trong khoa học thực nghiệm, sự quan sát của “tâm thức” xuyên qua 5 giác quan đóng vai trò then chốt, ngay trong giai đoạn đầu của mọi khám phá.

*Archimedes đã tìm ra tính đẩy của nước, Newton tìm ra sức hút của quả đất, và Franklin tìm ra điện trong không gian (biểu lộ bằng những tia chớp, trước con mắt của người quan sát, đồng thời xuyên qua “phản ứng của bộ óc”. Khoa học cho rằng, bộ óc đóng vai trò chủ yếu thành lập giả định lý thuyết, dẫn đến thí nghiệm và hành động. Và dù cho thoạt đầu người ta dựa trên “quan sát dây chuyền”, hay dựa trên “kinh nghiệm cũ”, nhưng trọng tâm của qui nạp khoa học, vẫn là tính khách quan, để có thể trình bày, kiểm chứng, và thực hiện một cách không thiên lệch. Vì khoa học không có sự tin tưởng như tín điều, mà chỉ là những giả định được thực nghiệm trực tiếp hay gián tiếp, -tương tự như PHÁP HÀNH (vô chấp) trong Đạo Phật.

-Các “qui nạp lý hóa” được kiểm chứng nhiều lần bởi những khoa học gia, vốn rất đa dạng và phức tạp trước khi chung kết. -Nhưng SỰ THẬT của một vật thể, khi đã được khoa học kiếm chứng và “nắm vững”, thì nó không còn phức tạp, và chỉ cần tượng trưng bằng một công thức đơn giản (simple formule) hay một định lý (théorème), trong vài câu nói. Phật giáo gọi đó là “thật pháp” (sacca-dhammā).

CÔNG THỨC tư duy vô tư, soi sáng trong kinh KᾹLᾹMA.

<>Khi nghiên cứu kinh Kālāma, chúng ta tự nhiên sẽ xác nhận rằng, 2 đặc điểm là hợp lý (takkasattha) và khách quan (kammavācaka) của Phật giáo rất khoa học. Đức Phật đã thấy trước sự lệch hướng sẽ xảy ra trong truyền thống tôn giáo về sau, nên Ngài đã chỉ cách để tránh cái “thói quen thiên lệch” ấy. -Kinh KᾹLᾹMA, còn có tên là lời Phật nói với dân chúng KᾹLᾹMA”, tại địa phương Kesaputta…như sau :

<>Nầy cư dân cư Kālāma, có 10 điều nên thận trọng trước khi tin, là : 1/nghe nhiều người thuật lại, 2/huyền thoại được chấp nhận, 3/truyền thống, 4/kinh văn, 5/vẻ hợp lý, 6/ tài liệu (=chứng cứ thư tịch), 7/nhận xét tương đồng, 8/luận điểm thịnh hành, 9/sự cố gần đúng, và 10/nhiều ưu thế (tiền bạc, địa vị, nổi danh).

<>Nầy cư dân Kālāma. -Chỉ khi nào chính quí vị biết rằng “những rao giảng ấy là thiện pháp, là không thể chê trách, là được những bậc phạm hạnh khuyến khích. Nhất là sau khi quí vị chấp nhận áp dụng rồi, quí vị tự nghiệm khách quan thấy xứng đángvô hại, chừng đó quí vị mới tin, hay ghi nhớ và chia xẻ, vì lợi ích chung !

*Kinh Kālāma (Kālāma Sutta) xác nhận ĐẠO PHẬT là tôn giáo của TÍNH KHÁCH QUAN (bāhiratta). Đó là nền tảng của một niềm tin thông thoáng, không đóng khung, và là phẩm cách của sự khai phóng. NÓ hoàn toàn khác với các tín ngưỡng đương thời. -Vì sao ? -Vì đạo Phật luôn luôn nhìn nhận sự ưu việt của tri thức, hay lương tâm của con người. -Khi một cá nhân bỏ mất lương tâm ấy, để cuối đầu vâng dạ, hay chấp nhận một điều gì, mà tự mình không hiểu biết, thì họ đã mất phẩm cách làm người

<>Phật giáo nhắc nhở mỗi cá nhân cái ÁNH SÁNG của kiến thức vô tư (sammā-diṭṭhi). Từ đó, con người có thể “bào mỏng” màng vô minh, đã từ lâu phủ lên tâm thức họ, và làm lệch lạc hiệu lực của nghiệp quả, đang ảnh hưởng kiếp luân hồi. Từ đó, mỗi cá nhân có thể “thấy gần đúng sự thật” một cách thông thoáng. -Nói cách khác, tâm thức mỗi sinh linh luôn cần những “ánh sáng thanh tịnh”.

-Bài kinh KᾹLᾹMA trong nhà Phật quả thật đã giới thiệu quan điểm tiến hóa của Phật giáo, mở đầu cho sự THỰC HÀNH và TRẢI NGHIỆM các đức hạnh GIỚI ĐỊNH TUỆ, “tiền thân” của TỪ BI và HỶ XẢ, hay vị tha, bao dung, và hướng về hạnh phúc chung…! (Cộng nghiệp). -Vì vậy, chúng ta mới xác nhận ra rằng, vì sao không có một giọt máu nào đổ ra, trong suốt thời gian hơn 2500 năm Phật giáo truyền thừa trên thế gian. Và với tính thông thoáng của kinh Kālāma, tất nhiên Phật giáo không thể gây ra “thánh chiến”, “truy sát ngoại giáo”, hay “tấn công bất cứ ai không theo đạo Phật”.

*Cụ thể hơn nữa, Phật giáo dứt khoát phủ nhận hệ thống giai cấp theo truyền thuyết Bà-la-môn (Brahmanism), ưu đãi một lớp người (gọi là “thầy tu”) độc tôn cai trị xã hội, dựa trên “ảo tưởng” cho rằng “giáo sĩ là hạng ưu tú” (?), có quyền giảng giải “thánh điển”, và đại diện cho “thần linh” ban phát “may mắn trong nhân gian.

-Theo Phật Giáo Bắc Truyền, có một kinh khác, gọi theo tàu âm là “Duy-ma-cật” (Vimālakirti Nirdesa), nêu tên một “cư sĩ phạm hạnh”, vượt hẳn những đồng đạo. Ông đề cao sự dấn thân cứu đời của Bồ-tát (Bodhisatvā). Nhưng trên thực tế, Vimalakirti không phải là nhân vật duy nhất, -mà trong số đông đảo người theo Phật thuở xưa, đã có nhiều bậc thiện trí thức, xứng đáng đóng vai gương mẫu, -chẳng hạn như Đại bá hộ “Tu-đà” (Sudatta), được dân nghèo xưng tụng là “Cấp-cô-độc” (Anāthapindika) hay nữ đại thí chủ “Thiện Chi” (Visākhā), có thể dịch là “Nguyệt trang đài”…v…v… -Và họ vẫn không tự xưng là giai cấp ưu tú, xứng đáng đóng vai trò gì cả, dù cho họ thực sự được coi trọng trong hạnh kiểm phục vụ nhân quần xã hội, chúng sanh. -Thế gian đề cao đức hạnh của họ vốn chỉ nói lên PHÁP tôn hiền đức trị, đầy ý nghĩa bác ái, dân chủ, bình đẳng.

<>Phật giáo vốn gắn liền với thật tế tương tác liên tục, quá khứ và tương lai nằm trong hiện tại. Nhưng vô số những hiện tượng thiện ác luân hồi, vượt khỏi tầm tri thức của người phàm…vẫn chi phối các nguyên tắc tu hành (=NHÂN), nhắm đến mục tiêu lành mạnh (=QUẢ), không khéo có thể làm lệch hướng con đường đưa đến SỰ THẬT, nên Phật pháp phải bao gồm các “chiều sâu giáo lý siêu hình”, kể cả những luận thuyết về vũ trụ, như “mặt trái triết học” của kinh tế, của văn hóa, của giáo dục…v…v… vốn vẫn chứa tham sân si, trong đời sống làm người. Đặc biệt là Phật giáo luôn luôn khuyến khích tiến bộ khoa học, tập trung năng lực trong sạch (THANH TỊNH) vào sự phát triển xã hội…cho cả 2 phương diện vật chất, và tinh thần.

-Tuy nhiên trên phương diện “siêu hình”, Phật giáo sau khi Phật tịch có vẻ nặng về “nghi thức cúng bái”, làm cho người ta hiểu lầm rằng, khuynh hướng của đạo Phật là “tất cả cho kiếp sau” hay “giải thoát trong tương lai” (?!), không chú trọng đến “vật chất hiện tại”, thậm chí quan niệm “kiếp nầy đi tu là phải khổ hạnh mới mau đạt cứu cánh”. “Sự hiểu lầm” vô cùng đáng tiếc nầy, sẽ mang lại 2 điều hại :

*Thứ nhất, tín đồ có thể in trí rằng, “tất cả tu sĩ trong chùa đều là những bậc thật sự ly gia cắt ái, xứng đáng với việc vái lạy, cúng dường”. Đây là một loại “ngu tín” tạo dịp cho những phần tử bất hảo, tìm cách gia nhập “tăng đoàn”, và làm bộ khổ hạnh để thu lợi.

*Thứ hai, “tăng lữ” thay mặt Phật để hướng dẫn tín đồ, sẽ chỉ lo tô điểm nghi lễ (hình thức) mà không nghiêm trì giới luật (nội dung), vốn là nguyên nhân suy đồi đạo giác ngộ, giải thoát. -Cũng xin phân biệt rằng, Sa-môn trong nhà Phật tự nguyện sống “đạm bạc và tri túc tối đa” (hay “hạnh đầu-đà=Dhutaṅga”) là để thanh tịnh huấn luyện thân tâm, chứ chẳng phải là “tu hành” với hậu ý thu hoạch lợi lộc! -Vì “hành hạ xác thân một cách đui mù với mục đíchđược trọng vọng”, là rơi vào tà mạng, VÔ MINH, bế tắt !”. -Người theo Phật không nên căn cứ vào bề ngoài có vẻ giống phạm hạnh mà dễ bị lầm lạc !

Sự phát quang của thức tánh khi đạt thanh tịnh (hay tuệ tâm).

<>PHẬT GIÁO và KHOA HỌC đã song hành phục vụ nhân loại, bằng nhiều cách…trong suốt quá trình có mặt. Tiến bộ khoa học mà nhân loại ngày nay đang thụ hưởng, tạm gọi là văn minh lý hóa, còn Phật giáo thì gọi là “tuệ quả tâm thức”. -Đó chỉ là “hoa trái của SỰ PHÁT QUANG trong THỨC TÁNH. Và khi sưu tầm những trạng thái “linh hoạt” của “tinh thần”, khoa học trước tiên chú ý đến các cấu trúc thuộc hệ thống thần kinh, và những vận hành sinh hóa của khối óc. -Nhưng ngoài những “vật chất” (hữu hình) ấy ra, khoa học đã không khám phá gì khác, đặc biệt là trong lãnh vực “siêu hình”.

*Còn Phật giáo thì khác, Đạo Phật xem những điều khoa học tìm ra, là kết quả tất nhiên của “trí thông minh con người”, và để “bổ túc” Phật giáo cũng tiết lộ xa hơn rằng, THỨC TÁNH là “kết tinh” của “ánh sáng đưa đến CÁI BIẾT trong giòng điện nghiệp” (thanh tịnh). Nói cách khác, KHỞI ĐIỂM của các khả năng phản chiếu kỳ diệu trong bộ óc con người, là tâm định tỉnh, hay là nguồn gốc của tri thức. Đây mới là chủ lực của tất cả khám phá và phát minh.

<>Theo Phật giáo, sự “linh động tương tác” giữa TÂM và VẬT, hay gọi là 2 YẾU TỐ DUYÊN KHỞI, không có nguyên nhân nhất định, để luôn luôn thành lập một “trạng thái lôi kéo, mất thăng bằng” (=BIẾN ĐỔI), và từ đó phát sinh giòng xung động, phóng túng, bấn loạn (hay tâm thức vọng ngoại, mang tính vô thường, đưa đến bạc nhược). Vì “bản chất nguyên thủy” của CẢ HAI (tâm vật) vốn vô động. -Ấy là một “bộ hạt nhân có năng lực kỳ diệu”, khi “cô đọng thì phát quang”. Và đó cũng là nguồn gốc của TUỆ TRI.

*“Bộ hạt nhân” (TÂM và VẬT) ấy khi về nguồn, tự có khả năngtái kết hợp” xuyên qua định tĩnh, đểdần dần trở thành hùng hậu, rồi chiêm nghiệm trong môi trường đối tượng (như tiến trình tu tập thiền pháp). -Nó có thể được diễn tả như một tiềm lực “khảo cứu”, hay theo dấu các biến thiên của mục đích nào đó. -“Dụng cụ” của nó là các “mạch điện lý hóa”, gồm cảm giác, suy nghĩ, và biểu lộ thói quen, tương đương với tư cách từng cá thể. Nó không phải GIẢ ĐỊNH như phân tích tâm lý triết học, dựa trên “hùng biện” từ nhu cầu tham sống của con người. -Chúng ta gọi ấy là “khoa tư duy”, do các “triết gia cố chấp” (phàm phu) lập ra. 

*Nhưng THIỀN HỌC trong Phật giáo (gồm chánh địnhminh sát) thì khác. NÓ là MẶC KHẢI, đưa dần tâm thức đến “HOÀN TOÀN TỰ DO”, một mặt tương đồng với “khoa học lý hóa”, mặt kia có “hoạt trường vô biên”, bao gồm cả động (saṅkhāra-niyāma) và tĩnh (acalavatthu-niyāma). -ĐỘNG thì tiến hóa hữu lậu, duyên theo chu kỳ “nhân quả hoán vị”, nhập xuất xoay vòng, luôn luôn bị ràng buộc bởi chênh lệch thiệnác, hay xấu tốt lẫn lộn. -TĨNH thì phát quang, tiến hóa vô lậu, để chấm dứt chu kỳ, GIẢI THOÁT, triệt tiêu mọi vướng mắc thiện ác, Niết-bàn (nibbāna).

-TÂM THỨC (citta-viññāna) trong THIỀN HỌC Phật giáo, là nhận diện sự thật, một cách trải nghiệm có hệ thống, hết bị che mờ bởi tham sân si. Mục đích để đạt “kiến tánh tịch không” (vô chấp), hay “tuệ thức toàn xả”, không đóng khung tinh thần, không nhằm ấn định nó phải hoạt động như thế nầy hay như thế khác…mà chính xác hơn, nhận diện đúng các “NGUYÊN NHÂN” (xung đột), để cải thiệnhóa giải hậu quả, -tức là giảm thiểu sự chịu đựng(=đau khổ), nhất là “các loại cảm giác biến thiên” (vô thường), đồng thời thanh lọc nó.

*Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), “Tâm” (citta), “tâm sở” (cetasika), và các vận hành vật chất (rūpasaṅkhāra) vốn có nền tảng cũng như khởi điểm tương duyên (paccaya). Tâmtâm sở thuộc về TINH THẦN hay danh pháp (nāma-dhammā). THỂ XÁC gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thuộc về thể VẬT CHẤT hay sắc pháp (rūpa-dhammā). Chúng luôn luôn tùy thuộc lẫn nhau (paṭicca samuppāda). Nói một cách đầy đủ hơn, Vi Diệu Pháp (abhidhamma) đặc biệt khảo sát cái gọi là “tiến trình nhân duyên”, của rất nhiều cảm giáctình trạng tinh thần khác nhau, là những trải nghiệm chủ quan, và những ảnh hưởng của nó trên mọi ý nghĩ, cũng như tư cách của mỗi cá nhân. -Vi Diệu Pháp ở đây, là khoa học tinh thần (maṇo-vịjjā), phối hợp kỳ diệu của “tâm lý chủ quan” (ajjhattavijjā mānasika) và “hiện tượng khách quan” (acchariyāvaha kammavācaka).

<>Ngoài ra, “Triết học Phật giáo” (nói chung) cũng là một “khoa nghiên cứu” và “phân tích bản chất của hiểu biết”, có “hổ trợ” của các khía cạnh nhận thức, để “phối hợp với khả năng phát triển tri kiến”, xuyên qua cái gọi là “tâm thức”…, -và sau cùng qui nạp ra “cấu kết” dưới dạng tư tưởng (=ý nghĩ) hay tình cảm.

-Đồng thời Vi Diệu Pháp vẫn xử dụng cái thấy tâm lý ấy, vào những kỷ thuật đào luyện (cải thiện hiện hữu, kể cả thực hành YOGA) trong những khóa tu thiền nghiêm túc, để hóa giải “tính cố chấp trước khi nhập vào đạo đức” của phàm phu…hầu “chuyển hóa” các khổ não và sự bất lực mang thân người, xác nhận nó là một thực tại không trường tồn, không độc lập…đối với “tinh thần vọng động”. -Nghĩa là cần đạt tới một TRI KIẾN THĂNG BẰNG ở mọi tình trạng bình thường, và trong hiệu lực cải thiện (=tốt hơn), để trải nghiệm và chịu đựng dễ dàng các “bất tiện” trong thể xác cũng như trong tinh thần !

*Hơn nữa, sự đóng góp của VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) nhà Phật, là một nghiên cứu phân tích tâm thức, đặt nền tảng trên TU TẬP (hay áp dụng=āyācanā), để nắm vững các vận hành của thân tâm thực tại, là “phương pháp” giảm thiểu những đau khổ, mà tâm thức chúng sanh đang chịu đựng. -Đó chính là lãnh vực, mà “Trí Tuệ trong nhà Phật”, khi  phát triển đến đỉnh điểm (bát-nhã=prajña), có thể biến thành đắc dụng để đồng hành với khoa học…hầu phục vụ loài người hữu hiệu hơn, trong việc xây dựng cuộc sống nhân sinh, là bình an tinh thầnsức khỏe thể xác, -giống như mục đích chung đã không hẹn mà đề ra của khoa học và Phật giáo !  

-Nhưng đáng tiếc, xưa nay khoa học, vẫn nghiêng hẳn về vật chất, còn Phật giáo thì chú trọng cả hai mặt (vật chất và tinh thần) – Đặc biệt là phải dựa trên kết quả trải nghiệm, không dùng lý thuyết để ĐỘ ĐỜI !

<>Chữ PHÁP (Dhamma) trong VI DIỆU PHÁP còn ám chỉ “hướng dẫn cách thực hành” (hay ứng dụng lành mạnh, cụ thể), chứ không phải là “luận thuyết hợp lý”, (thuận với khuynh hướng suy tư),nghe để thõa mãn tự ngã, hay thảo luận nhằm trang trí “văn chương trí thức”. Do đó, mỗi “PHÁP” trong nhà Phật là một loại thuốc, một “chất liệu” đặc trị “bệnh nội tâm”, nhất là tinh thần con người đang bạc nhược, tối tăm, phiền não…hoặc khi TƯƠNG TÁC THÂN TÂM rơi vào bế tắc, TIÊU CỰC.

-Có lẽ ngay từ đầu, Đức Phật đã biết rằng “bệnh thể xác hành hạ tinh thần con người như thế nào, thì bênh tinh thần cũng dày vò thể xác con người như thế ấy”, nên Phật đã hiến trọn phần đời còn lại của mình, để soi sáng hạt giống tỉnh thức, tự lực giải khổ, dưới dạng PHÁP GIÁC NGỘ, nhằm đưa đến “khai trí” cho mỗi cá nhân, để tự khám phá nguyên nhân của thân bệnh cũng như của tâm bệnh, một cách không nhầm lẫn, và không trông cậy vào ngoại năng.

-Tuy hiên, khi Đức Phật nêu ra cách chữa “bệnh thân lẫn tâm” cho con người, Ngài đã đặt sức khỏe tinh thần lên hàng đầu. Và chính Ngài cũng đã thực hành Pháp Bảo ấy, để hóa giải các xung đột,do tham sân si gây ra trong vô lượng quá khứ, và trong kiếp chót (hiện tại) một cách triệt để ! -Vì xung đột tinh thần cũng là nguyên nhân chính phát sinh thân bệnh. -Và “pháp dược” (dhamma osadha) của Đức Phật là thứ “đánh thẳng vào gốc rễ” của THAM SÂN SI, bổ túc vào sự thiếu sót trong cách trị liệu của các bác sĩ phân tâm học, ngành “y khoa tâm lý” ngày nay. Nhưng đáng tiếc là “mục tiêu” của Phật giáo và của “phân tâm học” lại khác hướng, nếu không muốn nói là “chủ ý phân kỳ”!

-Một bên kỷ luật cái tôi (=thanh lọc tâm thức), để vi trùng tham sân si không có môi trường tồn tại. Còn bên kia nuông chiều cái tôi (an ủi), gián tiếp giúp điều kiện để cho vi trùng có đất mầu mỡ mà phát triển, ngay trong tinh thần ! -Môn phân tâm học nếu may mắn “trị hết bệnh” thì đó chỉ là “ngẫu nhiên”, và quaẢO GIÁC !

<>Theo Phật giáo, sức mạnh tâm linh con người rất quan trọng, và thân thể chỉ là dụng cụ để thực hành thiện pháp, tiến hóa. Cả hai tinh thần và thể xác luôn luôn tùy thuộc lẫn nhau một cách cơ cấu, giống như tất cả những tương tác sinh hoạt khác trên thế gian. -Tinh thần là “dòng điện” của thể xác. -Thể xác là “bình điện” của tinh thần. Nghiệp là “điều kiện cơ bản” để thể xác hiện hữu và “tương tác với tinh thần. Sự ảnh hưởng song phương xuyên qua vận hành của NGHIỆP, là một điều chắc chắn. -Và chỉ với một thân tâm lành mạnh, THIỆN THỤC, con người mới có thể phát triển tâm lành, và có một đời sống ít bệnh hoạn, đầy văn hóa, bình an.

-Nghĩa là khi tâm thức được nuôi dưỡng đầy đủ bằng sự THANH TỊNH, thì tinh thần con người mới “phát quang” để nhu nhuyễn, “hòa thuận dễ dàng” với thân thể chính mình, thấy rõ bản chất của mọi vấn đề, đồng thời có hành động xứng đáng…nhằm giải quyết trở ngại, từ đó làm nhẹ đi đau khổ vật chất cũng như tinh thần, và có đời sống khỏe mạnh THỰC !

Soạn phẩm liên đề :«Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe» Bài 1

Bài I

TƯ CÁCH ĐỨC THÍCH-CA và PHẬT GIÁO.

(Qua cái nhìn của những Trí thức, Danh Nhân Thế Giới) :

*Nếu tôi lấy những kết quả triết học của tôi như là một thước đo chân lý, tôi phải thừa nhận rằng Phật Giáo đứng trên mọi tôn giáo thế giới. -Ở đó, bạn có thể ghi nhận là đức tin và kiến thức thì liên hệ với nhau như hai cán cân, khi cán cân bên này lên thì cán cân kia xuống

(Arthur Schopenhauer : 1788-1860, Triết gia Đức)

Continuer à lire Soạn phẩm liên đề :«Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe» Bài 1

Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa Học, Thiền Pháp, Sức Khỏe » Lời Nói Đầu

LỜI NÓI ĐẦU

<>NỘI DUNG tập “biên khảo liên đề” nầy, tuy khiêm nhượng đề cập đến “4 lãnh vực đặc biệt”, là Phật giáo (buddhasāsana), Khoa học (vịjjā), Thiền Pháp (bhāvanā), và Sức khỏe (ārogya). -Nhưng theo thiển kiến của chúng tôi, thì tốt đẹp nhất đối với chúng sanh nói chung, và đối với nhân loại nói riêng, là SỨC KHỎE. -Đó là “BIỂU TƯỢNG THỰC TẠI đầy ý nghĩa (tacchatta yathābhūta viññāpaka), so với “3 lãnh vực” kia, là Phật giáo, Khoa học, và Thiền Pháp.

Continuer à lire Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa Học, Thiền Pháp, Sức Khỏe » Lời Nói Đầu

BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 5

*Liên quan đến DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa).

<>DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakarana) là sách thứ 7 trong VI DIỆU TẠNG (Abhidhamma piṭaka), sắp đứng sau các cuốn 1/PHÁP TỤ (Dammasaṅganī), 2/PHÂN TÍCH (Vibhaṅga), 3/CHẤT NGỮ (Dhātukathā), 4/NHÂN CHẾ ĐỊNH (Puggalapaññatti), 5/GIẢI TÔNG (Kathāvatthu), và 6/ SONG ĐỐI (Yamaka).

*Mới đọc qua “DUYÊN HỆ”, chúng ta thấy đó là một “KỶ YẾU” theo dạng “danh sách chú giải”, gồm “24 TRƯỜNG HỢP” (avatthā) hay “điều kiện” (paṭicca samuppāda), liên quan (paccaya) đến “trợ tố” (dhatu) hay “chi tiết” (vitthāra), đóng góp vào thực tại KHÔNG GIAN lẫn THỜI GIAN, còn gọi nôm na là “HOÀN CẢNH”, để hình thành những “tâm thức”(citta) dẫn đầu các pháp hành, và tùy theo “năng lực” (mạnh hoặc yếu) của nó, mà phát sinh ba nghiệp, “THÂN” (kāya), “KHẨU” (vacī), và “Ý” (maṇo).

-Nói chung, BA NGHIỆP bao gồm tất cả những hành vi “ngấm ngầm bên trong” hay “bộc lộ ra bên ngoài” (bằng hành động), trong đời sống của mỗi động vật hữu tình, nhất là con người.

*Và khi xét qua “ý nghĩa” từng trường hợp hay “điều kiện”, chúng ta còn thấy DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa) là toàn bộ những TIN TỨC “vừa hiển nhiên vừa tinh vi, đối vớiBIẾN TRÌNH của tâm thức. Chúng tôi dùng 2 chữ “biến trình”, vì DUYÊN HỆ là “cái khung tùy cảnh” để “tâm thức thay đổi” rồi trở thành “LOẠI NÀO” (thiện=kusala, ác=akusala, hay trung tính=abyākata), trong suốt thời gian TẠO NGHIỆP (kammakāra), tức là trước, trong, và sau khi hành động…-rồi “ghi nhận đầy đủ” (tadālambana) ấn tượng việc đã làm…nơi dòng sinh mệnh, còn gọi là mạng căn (bhavaṅga).

*Thực ra, hai “đoạn viết” khiêm nhượng trên đây, chỉ là để “mở đầu” đề tài hôm nay. Nó quá “ngắn”, và không thể trình bày ngay cả “phần tóm tắt tổng quát” của DUYÊN HỆ, chứ đừng nói là việc gì khác, nên nó chẳng giúp cho độc giả có một “khái niệm” nào cả. Quí vị nào muốn tìm hiểu DUYÊN HỆ đầy đủ, yêu cầu đọc các tài liệu Phật hoc A-tỳ-đạt-ma (Abhidhamma), hay tham khảo qua các thư viện văn hóa. -Mục đích của chúng tôi ở đây, với bài viết số 5 nầy, là cố gắng nói lên cái “bản sắc khoa học” trong nhà Phật, liên quan đến DUYÊN HỆ, chứ không nhằm “diễn giảng” DUYÊN HỆ.

<>Có thể quí vị đang thắc mắc : -“Vai trò của DUYÊN HỆ là đóng góp tin tức cần thiết vào sự “hình thành” của tâm thức, xuyên qua biến hóa theo từng THỰC TẠI(tốt, xấu hay trung tính) trước khi NÓ bộc phát ra hành động(=tạo NGHIỆP).”. Nhưng sự “BIẾN HÓA” (vô hình) thuộc về TÂM THỨC và “BIẾN ĐỔI” (hữu hình) thuộc về KHOA HỌC là 2 vấn đề khác nhau, -một bên để phân tíchqui nạp VẬT cụ thể, -một bên là phân biệttư duy VẬT trừu tượng (phản chiếu tinh thần)…thì “mối liên quan” (hay DUYÊN HỆ) như thế nào !(?) 

-Xin thưa…KHOA HỌC ngày nay là gì, nếu không muốn nói một cách tổng quát, là phương pháp GIẢI TRỪ LẠC HẬU, làm cho đời sống VẬT CHẤT lẫn TINH THẦN của con người, mỗi ngày một tốt hơn, TÂN TIẾN ?!  -Và tiến trình “BIẾN HÓA tâm thức” theo nhà Phật…là “phương pháp” cải thiện cả thân lẫn tâm…thì tựu trung cũng chẳng khác, nhưng nó còn bao hàm cả HÌNH THỨC (cụ thể), và NỘI DUNG (trừu tượng) !

*HÌNH THỨC là THÂN và NỘI DUNG là TÂM.

THÂN cải thiện ở đây là mạch sống lành mạnh, ám chỉ cái DỤNG của “thay đổi vật chất”.

TÂM cải thiện ở đây là ‘thức tánh thanh cao”, ám chỉ cái DỤNG của “thay đổi tinh thần”.

*Thức tánhmạch sống TỐT ấy, kết hợp thành một con người ĐẠO ĐỨC, gọi tắc là THÂN TÂM văn minh. -Và khi đã cải thiện cả THÂN lẫn TÂM thì đời sống TIẾN HÓA, thuận theo Bát-nhã (prajña), KHAI TRÍ.

-Nói cách khác, “tiến hóa thức tánh mạch sống” chính là “phẩm giá thực tại” của THÂN và TÂM”, hay của thể xáctinh thần. NÓ (=sự “tiến hóa thức tánh mạch sống) chính là “NỘI DUNG văn hóa THẬT” của sự sống, luôn luôn vận hành một cách tương quan, qua 2 tình trạng CỤ THỂ và TRỪU TƯỢNG gọi là DUYÊN HỆ. -Tức là cái THỰC TẠI SỐNG nếu không THUẬN với KHOA HỌC (Vijjā), thì phải NGHỊCH với KHOA HỌC (Avijjā)…nên cần phải định hướng.

-Sự TIẾN HÓA luôn luôn đòi hỏi các “BIẾN HÓA THỨC TÁNH” phải CẢI THIỆN, và cần được hướng dẫn một cách QUÂN BÌNH bỡi “ÁNH SÁNG GIÁC NGỘ”. Vì sao ? -Vì cái gọi là KHOA HỌC ngày nay đang rất PHIẾN DIỆN, chỉ chú trọng đến “canh tân tiện nghi cho thể xác”, mà không đóng góp thiết thực cho “cải thiện tinh thần”.

<>Chúng ta có thể gọi phương pháp “CẢI THIỆN TINH THẦN” là “KHOA HỌC TÂM LINH”, hay cái DỤNG tuyệt vời của TRÍ TUỆ (Prajña), nói theo nhà Phật là “BÁT-NHÔ. Đó là PHẨM CÁCH duy nhất giải trừ được sự PHIẾN DIỆN tiến bộ vật chất.

*Trên thực tế, dù cho “đời sống tân tiến” vào thế kỷ thứ 21 nầy, đã đạt đến mức khá cao, nhưng con người vẫn cảm thấy bất an…-nếu không muốn nói là thường xuyên bị đe dọa thiếu thốn lẫn THÈM KHÁT hưởng thụ VẬT CHẤT. Trước tình trạng nầy, “KHOA HỌC TÂM LINH” (Vijjā) rất cần thiết cho nhân loại. Và đó chính là sự ĐÓNG GÓP của “Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo”, mà chúng tôi chân thành nhắc đến, kể từ bài 1 đến nay.

-Xin minh bạch ngay rằng, mục đích của “KHOA HỌC TÂM LINH” là để “quân bình đời sống” một cách tương tác với KHOA HỌC HIỆN ĐẠI (=lý hóa), để giải trừ các ÁC TẬT say mê hưởng thụ, do lòng tham không đáy gây ra, chứ “KHOA HỌC TÂM LINH” không phải để đối trị KHOA HỌC VẬT CHẤT. Phật giáo, khuyến khích hai phẩm cách văn minh TÂM-VẬT (=thể xác và tinh thần), cần được phát triển song song, nhằm “bổ túc lẫn nhau”.

<>Như vậy, thành quả tiến bộ của trí tuệ nhân loại mới được trọn vẹn. Trái lại, khi một trong hai PHẨM CÁCH (vật chất hay tinh thần) mà “bị bỏ quên” hay “bị chà đạp”, thì hậu quả của “tân tiến” sẽ tai hại vô cùng, và là nguyên nhân dẫn đến ích kỷ, sa đọa, suy đồi, khổ đau, chiến tranh…mất phẩm giá.

*Chúng ta biết rằng, trong lịch sử nhân loại, có những giai đoạn mà quan niệm xã hội đã “nghịch chiều” vớingày nay. Thời xưa, người ta đã quá nặng về “giá trị tinh thần”, mà trở thành cuồng tín duy linh, ruồng rẫy vật chất một cách cực đoan, ngu muội, xem “tha lực” và  khổ hạnh thân xác là con đường “hạnh phúc”. Chính Bồ-tát Sĩ-đạt-ta (Bodhisattva Siddhatta), vì ảnh hưởng “tư tưởng Bà-ma-môn” (Brahamanisme) mà đã hành xác cùng cực, suốt 6 năm trường một cách vô ích, trước khi thực nghiệm TRUNG ĐẠO (Majjhimamagga), và đắc GIẢI THOÁT TRÍ (Prajña hay Bát-nhã), thanh tịnh thành Phật, để chúng ta ngày nay, được thừa hưởng đạo Phật, có “Bản Sắc Khoa Học”.

<>Khi quan sát KHOA HỌC và nghiên cứu sâu sắc vào PHẬT GIÁO, chúng ta không thể không chú ý đến những điểm “tương đồng” giữa DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa) và KHOA HỌC (Vijjā), như sau :

1/Nếu KHOA HỌC HIỆN ĐẠI khám phá ra các phản ứng hóa học (thô cũng như tế) và các chuyển động vật lý (chiều thẳng cũng như đường cong), trong dòng điện, hay qua trọng lực(tức “sức hút giữa 2 động tử với nhau, hay giữa một vật và quả đất)…thì DUYÊN HỆ trong PHẬT GIÁO lại “chỉ ra” sự phản chiếu xuyên qua nhân điện trong thân thể con người, và sự kích thích tâm vật (tinh thần trước thế xác) xuyên qua tạo nghiệp (hành động trong CÁC CHIỀU không gian và thời gian (dimensions, space-temps). -Như thế, KHOA HỌC HIỆN ĐẠI DUYÊN HỆ trong  PHẬT GIÁO vẫn có nét tương đồng sâu sắc, trong cả 2 lãnh vực “phản ứng HÓA HỌC” (Réaction chimique) và “chuyển động VẬT LÝ (Mouvement physique) !

2/Theo KHOA HỌC HIỆN ĐẠI, thì giữa 2 phản ứng vật chất (hóa học) và giữa 2 nguyên tắc vận chuyển (vật lý), luôn luôn có một “từ trường xung động”…thì theo DUYÊN HỆ PHẬT GIÁO, giữa một hành động bỡi THÂN và dấu ấn được ghi nhận bỡi TÂM, luôn luôn có “kích thích song phương” và “liên quan tương tác” (THÂN<=>TÂM), mà nhà Phật gọi là “PHẢN ẢNH NGHIỆP QUẢ”, hay hai chiều trả vay, không thể phủ nhận…hay né tránh được !

<>Và như chúng tôi đã nói ở bài 4 (“GIÁO LÝ NGHIỆP QUẢ”), -rằng qui trình của toàn bộ “đại vũ trụ” (gồm Tinh tú cũng như Thái dương hệ) lẫn qui trình của mỗi “tiểu vũ trụ” (=thân thể động vật, nhất là con người), hằng có “định hình CONG” (circulaire). -Nghĩa là tất cả vận hành thuộc tam giới (trong hay ngoài bầu khí quyển bao quanh quả đất) đều tạo ra “QUỶ ĐẠO” (orbit), và CHÚNG nằm hẳn trong hướng (vecteur) “tìm tới những điều kiện cũ”, hay “quay lại duyên khởi đã trải qua”.

<>Như vậy, LUÂN HỒI là một điều TẤT NHIÊN, -chứ không phải là giáo thuyết nhà Phật !

*Nếu các CÔNG THỨC lý-hóa trong KHOA HỌC cần đến sự chính xác (techniques de points), của vật chất và của giòng điện (hay từ trường) để cho “diễn tiếnqui nạp được nghiệm đúng” như thế nào, -thì trong DUYÊN HỆ PHẬT GIÁO (Paṭṭhāna), các “chi tiết” (dhatu, vitthāna) liên quan tới không gian (=thân thể) và thời gian (=tinh thần), cũng phải ứng hợp tương tác, để hiện tượng của NGHIỆP QUẢ tự phô bày một cách hợp lý như thế ấy.

*Nghĩa là…khi các điều kiện hay DUYÊN HỆ không hội đủ, thì hiện tượng NGHIỆP QUẢ VAY TRẢ (luân hồi) không thể chứng minh. -Ví như trong một bộ máy, hay trong một hợp chất (hóa học), mà mọi thành phần “vận hành chungthiếu thích ứng lẫn nhau, thì bộ máy hay hợp chất ấy, sẽ không thể tiến xa,không thể “biểu hiện” đúng kết quả mong đợi, trong một cuộc thí nghiệm (trên mặt đất hay giữa không gian) !

*Sở dĩ DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa) trong nhà Phật không đưa ra những “kiến thức” nghiên hẳn về vật chất, như “KHOA HỌC” ngày nay, vì Bậc Toàn Giác biết trước rằng, với Ý CHÍ CẢI TIẾN của nhân loại, do mưu cầu đời sống mai sau tốt hơn, thì một “kiến thức vật chất” như thế tất nhiên sẽ “tự thành hình”. -Bù lại, Đức Phật đã “tặng” cho loài người một GIÁO LÝ rất giáo dục và rất thực nghiệm, mà chúng ta phải gọi là “KHÁM PHÁ TÂM VẬT” hay“khoa học tâm linh”. -Gọi tên như thế …là dựa theo cái nhìn của một “thiền giả”, hoặc của các chuyên gia về VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma=A-tỳ-đạt-ma) trong đạo Phật.

<>Phật giáo là TRUNG ĐẠO, do đó hai phẩm cách “GIÁO DỤC” và “THỰC NGHIỆM” vừa nêu trên, vốn cũng để bao gồm lẫn bổ túc cho cả 2 lãnh vực “KHOA HỌC TÂM LINH” và “KHOA HỌC VẬT CHẤT”. Khoa học tâm linh ám chỉ sự giáo dục sinh thức (=tinh thần). Khoa học vật chất ám chỉ thực nghiệm đời sống. -Tức là những tiện nghi tân tiến ngày nay, chẳng hạn như…chuyển vận nhanh, thực phẩm tốt, y phục đẹp, thuốc men hữu hiệu, chỗ ở rộng, truyền thông đa chiều…v…v…-Nói chung là xã hội được THẮP SÁNG nhờ KHOA HỌC !

*Theo đạo Phật, KHOA HỌC (vijjā) là NĂNG LỰC của TRÍ TUỆ (paññiṅdriyaṃ), là BÁT-NHÃ (prajña), là phẩm cách diệt độ (nirodha) đối với VÔ MINH (avijjā), chứ không phải cái gì khác. -Còn VÔ MINH (Avijjā) chính là “duyên đầu” tạo ra tối tăm, lẫn lộn, xung đột, đau khổ, luân hồi bất tận. (Nguyên văn kinh Pāḷī : “Avijjā paccayā saṅkhārā…”). -Đến đây, thiết tưởng không cần nhắc lại, chắc quí vị cũng nhớ trong một bài trước, chúng tôi đã nêu rằng :

<>“Chỉ có ANH MINHmới Triệt tiêu VÔ MINH”.

*Và ý nghĩa của cặp từ ngữ Pāḷī “Vijjā” và “vijjā”, mà Đức Phật đã dùng trong bài kinh “Thập Nhị Nhân Duyên” (Paṭicca Samuppāda) có thể trình bày như sau :

VÔ MINH (Avijjā) là phản khoa học, hay vô pháp (adhammena=vippaññāya).

ANH MINH (Vijjā) là có khoa học hay đúng pháp (dhammena=paññāya).

————-

<>Dưới đây là lược ghi 24 «chi tiết» trong “DUYÊN HỆ tạo NGHIỆP”, theo đạo Phật :

1-NHÂN DUYÊN (Hetu paccaya) : Yếu tố NGUỒN GỐC (Hetu), gồm các “động cơTHÚC ĐẨY tâm thức hành động, TẠO NGHIỆP. (-Ám chỉ tham, sân, si hay ngược lại).

2-CẢNH DUYÊN (Ᾱrammaṇa pccaya) : Yếu tố ĐỐI TƯỢNG (Ᾱrammaṇa), gồm 5 cảnh bên ngoài (sắc, thinh, hương, vị, xúc = ngũ trần) và 1 cảnh bên trong (=pháp), hằng KÍCH THÍCH tâm thức hành động, TẠO NGHIỆP. -Ám chỉ “đầu mối khởi phát lục dục”.

3-TRƯỞNG DUYÊN (Aḍhipati paccaya) : Yếu tố ƯU THẾ (Aḍhipati), gồm “nội tâm ưu thế” (Ajjhatta) hay “ngoại cảnh ưu thế” (Bahiddha) LÔI KÉO tâm thức hành động, TẠO NGHIỆP (kammakāra). -Ám chỉ “khởi động ai, hỷ, nộ, ái, ố, lạc, dục”, và tập khí bên trong, lẫn cộng nghiệp bên ngoài.

4-BẤT ĐOẠN DUYÊN (Anantara paccaya) : Yếu tố TIẾP DIỄN (Anantara), gồm tình trạng đồng cách với “đối tượng đi trước” (đã qua), và “đối tượng đi sau” (sắp đến), -nghĩa là VÔ GIÁN ĐOẠN VẬT CHẤT (cụ thể), đối với tâm thức khi hành động hay TẠO NGHIỆP (kammakāra). (-Ám chỉ không có trở lực khác đối với đối tượng từ bên ngoài).

5-BẤT LY DUYÊN (Samantara paccaya) : Yếu tố LIÊN TỤC (Samantara), gồm đồng tánh (nội dung) với “đối tượng đi trước” (đã qua) và “đối tượng đi sau” (sắp đến), -nghĩa là VÔ GIÁN ĐOẠN TINH THẦN (trừu tượng) trong tâm thức khi hành động, hay TẠO NGHIỆP (kammakara). -Ám chỉ không không trở lực ngăn trí nhớ từ bên trong.

6-ĐỒNG SINH DUYÊN (Sahajāta paccaya) : Yếu tố SINH RA CÙNG THỜI (Sahajāta), bao gồm 3 giai đoạn “đồng phát khởi”, “đồng hiện hữu”, và “đồng kết thúc”, -nghĩa là SONG HÀNH suốt thời gian hiện hữu, trên cả 2 phương diện vật chất (rūpa) và tinh thần (nāma), đối với tâm thức (cittaviññāna) khi hành động, hay TẠO NGHIỆP (kammakāra).

7-A-NHÃ DUYÊN (Aññamañña paccaya) : Yếu tố “TÙY CẬN KHÁC” (Aññamñña), bao gồm sức tương tác của các “phần tử tiếp giáp”. -Ví như “3 chiếc đũa chụm vào nhau để đứng vững, mỗi chiếc đũa “làm” 2 việc, là “tự đứng” và “hổ trợ sự đứng”. -Nếu 1 chiếc đũa không như thế, thì tất cả cùng ngã. Ý nói “hành động TẠO NGHIỆP phải hội đủ tính đồng sự quân bình”.

8-Y CHỈ DUYÊN (Nissaya paccaya) : Yếu tố NƯƠNG TỰA ĐA PHẦN (Nissaya), gồm căn gốc rắn chắcxung quanh giữ vững. Ví như rễ cây lâu năm của đại thọsự che chở xung quanh, -hay ví như “bức tranh khó phai màu khi nền tranh hút đủ nước mực” (hay sơn). –Ý nói “tập khí hay ngũ uẩn khi ĐỦ DÀY, thì tâm thức phát ra hành động”, hay TẠO NGHIỆP. -Duyên hệ thứ 8 nầy liên quan đến duyên hệ thứ 6 và thứ 7.

9-ĐẠI Y CHỈ DUYÊN (Upanissaya paccaya) : Yếu tố có NƯƠNG TỰA TOÀN PHẦN (Upanissaya), gồm đối tượng vững mạnh thích hợp (ārammaṇūpanissaya), không gián đoạn (anantarūpanissaya), hợp với bẩm sinh (pakatūpanissaya). -Ý nói “hội đủ chỗ dựa tốt nhất để tâm thức phát ra hành động”, hay TẠO NGHIỆP. -Duyên hệ thứ 8 nầy liên quan đến duyên hệ thứ 3 và thứ 4 nói trên.

10-TIỀN LỆ DUYÊN (Pụrejāta paccaya) : Yếu tố ĐÃ CÓ TRƯỚC (Purejāta), gồm những vận hành huân tập từ kiếp quá khứ (atīta jīva), ám chỉ tâm vương (citta), tâm sở (cdetasika), lục căn (cha indriyāni), và lục trần (chārammaṇāni). -Ý nói di sản luân hồi hay thân tâm nầy vốn có pháp hành tạo NGHIỆP, hướng dẫn do QUẢ chín muồi của nghiệp trước.

11-HẬU LỆ DUYÊN (Paccājāta paccaya) : Yếu tố ĐẾN SAU (Paccājāta), gồm những khuynh hướng vận hành huân tập trong kiếp nầy (anāgata jīva), cũng ám chỉ tâm vương (citta), tâm sở (cdetasika), lục căn (cha indriyāni), và lục trần (chārammaṇāni) như trên. -Ý nói hành động sắp tới, là di sản của pháp hành tạo NGHIỆP, hướng dẫn do QUẢ của nghiệp hiện tại.

12-TÁI DIỄN DUYÊN (Ᾱsevana paccaya) : Yếu tố LẬP LẠI (Ᾱsevana), gồm những thói quen đã làm rất nhiều lần …đầy khả năng tương tác với 47 mẫu tâm phàm, một số tìm thấy trong 12 tâm bất thiện, trong 8 tâm thiện, trong 9 tâm đại hạnh, và trong 18 tâm duy tác). -Ý nói tập khí lập lại, gia tăng…là “động cơ” thúc đẩy pháp hành tạo NGHIỆP.

13-TÙY NGHIỆP DUYÊN (Kamma paccaya) : Yếu tố NGHIỆP (Kamma), gồm toàn bộ ngũ uẩn (pañca khandha), gồm nguồn gốc của tâm bẩm sinh (ahetukacitta), hay nguyên nhân của tác ý (cetanā). -Ý nói “TẬT tiền khiên là tiện nghi để tâm thức bị lôi kéo trong khi tạo NGHIỆP”.

14-TÙY QUẢ DUYÊN (Vipāka paccaya) : Yếu tố kết thành (Vipāka), gồm tất cả tâm vương (sabbacitta), tất cả tâm sở (sabbacetasika), và tất cả sắc pháp (rūpa), hay ngũ uẩn (pañcakkhandha), luôn luôn tích cực trong mọi vận hành tương tác, qua các dạng ưu thế. -Ý nói “kết quả nghiệp cũ ảnh hưởng đến hành động tạo NGHIỆP mới một cách chắc chắn”.

15-DINH DƯỠNG DUYÊN (Ᾱhāra paccaya) : Yếu tố thực phẩm (Ᾱhāra), gồm a/đồ ăn uống (āhāra), b/cảm xúc (phassa), c/tư niệm (maṇo-sañcetanā, suy nghĩ), và d/kiến thức thu vào (viññāna), đó là “4 nguồn dinh dưỡng” cần thiết cho sự tiến hóa một cách quân bình của thân tâm con người. -Ý nói sự hội đủ dinh dưỡng đóng vai trò căn bản cho hành động tạo NGHIỆP.

16-CĂN DUYÊN (Iṅdriya paccaya) : Yếu tố căn quyền (Iṅdriya), gồm “năng lực” của 6 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý chí), đồng vận hành (upasaṅkhāra) dưới dạng “ba đóng góp”, là a/“đã hữu hiệu”, b/“đang hữu hiệu”, và c/“thuận sinh hoạt vật lý”. -Ý nói “quyền năng của các căn môn có vai trò chính” trong hành động tạo NGHIỆP.

17-THIỀN DUYÊN (Jhāna paccaya) : Yếu tố chăm chú ((Jhāna), đối với hạng phàm phu…gồm sự tập trung tinh thần, -hay đối với các bậc tu hành là đắc thiền (bhāvanā), -qua các “trình độ an chỉ” hoặc các chi thiền, như tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Ý nói “sự an trụ tinh thần” là sức mạnh soi sáng hành động tạo NGHIỆP.

18-ĐẠO DUYÊN (Magga paccaya) : Yếu tố đắc quả (Magga), gồm 12 pháp liên quan lập thành ĐẠO hay “nhân duyên xoay vòng”. 12 PHÁP LIÊN QUAN nầy, nếu tiến hóa gọi là THĂNG, -nếu thoái hóa gọi là ĐỌA. -Ý nói các pháp tương tác trong DUYÊN HỆ, như tâm vương (citta), tâm sở (cetasika), và các duy tác (kiriya)…nếu hành giả đắc đạo thì đó là những thành phần phối hợp, hướng dẫn hành động tạo NGHIỆP.

19-TÙY TÙNG DUYÊN (Sampayutta paccaya) : Yếu tố đồng hành (Sampayutta), gồm 89 tâm vương (citta) đi chung (sahagata) với 52 tâm sở (cetasika) trong tất cả các dạng biến thiên của sắc pháp (rūpa), xuyên qua “tam đoạn” 1/thành 2/trụ 3/dứt, trong tất cả chu trình tâm (cittavīthi), làm “tiếp nối” (sandhi) cho hành động tạo NGHIỆP. -Lưu ý : “Có tùy tùng” cũng nhĩa là “Đứng đầu một đòan” hay “tạo nghiệp chung”.

20-CÔ DUYÊN (Vippayutta paccaya) : Yếu tố tách rời (Vippayutta), gồm các pháp “cách ly” lập thành “hệ triệt tiêu” (nāsana), cũng ám chỉ diệt đế (nirodha), có tính vô tương tác cả 2 chiều (apaccaya anuppanna). -Ý nói các pháp “ly duyên” (vippayutta dhamma) dẫn đến DUY TÁC NGHIỆP (kiriya kamma). -Lưu ý : “Cô độc” cũng có nghĩa là “biệt lập”, “tách rời”, hay “tạo nghiệp một mình”

<>Bốn DUYÊN HỆ sau cùng thì khá gỉan dị, nên xin nêu chung, ngắn gọn như sau :

21-HIỆN DIỆN DUYÊN (Aṭṭhi paccaya) : Yếu tố có mặt (Aṭṭhi), gồm các pháp hằng tương tác, bản chất xung động, luôn luôn đóng góp vào vận hành tạo NGHIỆP.

22-KHIẾM DIỆN DUYÊN (Naṭṭhi paccaya) : Yếu tố vắng mặt (Naṭṭhi), gồm các pháp bất tương tác, vô xung động, không đóng góp vào vận hành tạo NGHIỆP.

23-TRƯỜNG HIỆN DUYÊN (Vigata paccaya) : Yếu tố hiện diện lâu dài (Vigata), gồm khả năng duy trì sự có mặt, không biến mất sau đó. Ý nói “có mặt là góp phần” vào tạo NGHIỆP.

24-ĐOÃN HIỆN DUYÊN (Avigata paccaya) : Yếu tố hiện ra rồi biến mất (Avigata), gồm không năng lực duy trì sự có mặt, biến mất ngay sau đó. Ý nói “khiếm diện là chẳng góp phần” vào tạo NGHIỆP (kammakara).

Chú ý

<>Bốn “DUYÊN HỆ TẠO NGHIỆP” sau cùng, chúng ta có thể “phối hợp” thành “2 cặp” :

-“Cặp thứ I” gồm duyên hệ 21duyên hê 24, phát biểu rằng khi “pháp liên quan (paccaya dhammā) có mặt”, thì đồng thời “pháp tương tác (paccuppanna dhamma) cũng có mặt (atthi), và không biến mất” (avigata).

-“Cặp thứ II” gồm duyên hệ 22duyên hê 23, nêu ra rằng khi “pháp liên quan (paccaya dhammā) vắng mặt” (natthi), thì đồng thời “pháp tương tác (paccuppanna dhamma) tuy có mặt trước đó, nhưng tiếp theo lại biến mất”.

Ngoài ra :

<>Nếu chúng ta “phân loại” NHỮNG GÌ dự phần vào HÀNH ĐỘNG tạo nghiệp (hay còn gọi là DUYÊN HỆ=nghiệm chứng), theo 3 “ĐẶC TÍNH” là :

1/Ưu thế bỡi tinh thần (vận hành nặng về các dòng điện XẤU tham sân si, hay ngược lại vận hành nặng về các dòng điện TỐT vô tham, vô sân, vô si).

2/Ưu thế bỡi vật chất (ám chỉ ”hỗn hợp tứ đại” đa số bất lực, tương đương với cách điện tâm, ngang sức hay tương đương với trung tính), và

3/Ưu thế bỡi bất định, nghĩa là vừa tinh thần vừa vật chất (ám chỉ thân tâm hữu tình hay ngũ uẩn, gồm “5 tập khí” sắc, thọ, tưởng, hành, thức)…thì chúng ta sẽ thấy DUYÊN HỆ giống như toàn bộ các vật liệu thí nghiệm trong KHOA HỌC.

*Tức là một HÀNH ĐỘNG tạo nghiệp từ THÂN và TÂM của con người có thể xem TƯƠNG ĐƯƠNG với một XÁC NGHIỆM LÝ HÓA trong KHOA HỌC. -Khác chăng chỉ là…KHOA HỌC không dùng những từ ngữ thuộc về TÂM THỨC (hay TINH THẦN), mà KHOA HỌC lại nêu tên của NHỮNG CHẤT “dẫn điện” hay “không dẫn điện”, của NHỮNG VẬT LÝ “có từ trường” hay “không từ trường”, của các PHÂN TỬ LƯỢNG hoặc NGUYÊN TỬ LƯỢNG, và của các TỪ TRƯỜNG “hữu hạn” lẫn “vô hạn”.

-Nghĩa là ngôn ngữ trong KHOA HỌC LÝ HÓA, không giống như cách nói của KHOA HỌC TÂM LINH, nhưng tất cả cùng “diễn đạt” cái công việc THỰC NGHIỆM, gồm phân tích, gia giảm, và kết thúc thành một HIỆN VẬT (ở dạng nầy hay dạng khác), bằng cách “liên quan tối đa” những yếu tố tương tác, góp mặt trong «CHẾ TẠO».

*Xin nhắc lại rằng, trong DUYÊN HỆ nhà Phật, không có “tình trạng HOÀN TOÀN”, nên duyên hệ phải luôn luôn tương đối. -KHÔNG CÓ tính thuần túy !

-Từ đó suy ra, chúng ta có…

*Những DUYÊN HỆ số 1,17,18,19,20 (tức là NGUYÊN NHÂN, THIỀN PHÁP, ĐẮC ĐẠO, HỮU KẾT, VÔ KẾT) thì thuộc về “ưu thế tinh thần”.

*Riêng các DUYÊN HỆ số 2,21,22,23,24 (tức là CẢNH SẮC, HIỆN DIỆN, KHIẾM DIỆN, ĐOÃN HIỆN, TRƯỜNG HIỆN ) thì thuộc về “ưu thế vật chất”.

*Chỉ có DUYÊN HỆ số 3 (TRƯỞNG LỰC) là thuộc về “ưu thế vượt trội”.

*Nhưng những DUYÊN HỆ số 4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16 (tức là BẤT ĐOẠN, BẤT LY, ĐỒNG SINH, A-NHÃ, Y CHỈ, ĐẠI Y CHỈ, TIỀN LỆ, HẬU LỆ, TÁI DIỄN, NGHIỆP TRƯỚC, QUẢ SAU, DINH DƯỠNG, CĂN MÔN), thì thuộc về cả tinh thần vật chất.

-Và những DUYÊN HỆ số 17,18,19,20 (tức là THIỀN PHÁP, ĐẮC ĐẠO, CẤU KẾT, VÔ KẾT) thì thuộc về “ưu thế vừa tinh thần vừa vật chất”.

<>DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa) ở đây cũng có thể xem như toàn bộ VẬN HÀNH lý hóa trong KHOA HỌC “hiện đại”. Nhưng KHOA HỌC cụ thể chỉ “trưng ra” những YẾU TỐ vật chất “đang góp mặt”, vào sự VẬN HÀNH, và “SINH HOẠT” cần “diễn ra” với điều kiện nào, -chứ KHOA HỌC không nói đến việc “các yếu tố kia phải được ấn địnhphân bổ bỡi NĂNG LỰC gì” từ “SÁNG KIẾN” của các nhà khoa học…xuyên qua tiến trình “thí nghiệm”, “kiểm chứng”, và “đúc kết”.

*Vả lại…VẬT CHẤT CỤ THỂ (Kāyarūpa) luôn luôn mang TÍNH VÔ THƯỜNG (Aniccā=biến đổi), nên “ĐÚC KẾT” của KHOA HỌC CỤ THỂ cũng chỉ là những “qui nạp giai đoạn” (có tuổi thọ), chẳng bền vững, «tương đương» với KHÔNG THẬT (Anariya), nên KHOA HỌC TÂM LINH (trong Phật giáo) không dựa trên TIÊU CHUẨN MỘT THỜI của thế gian (Saṃsāra niyama=Principle relatif) để ấn định, -mà PHẬT HỌC chỉ nêu ra 1 từ ngữ qui ước là “DUYÊN HỆ”, đồng thời Phật học còn nói rõ rằng, “nguồn gốc của KHOA HỌC TRÍ TUỆ, là BÁT-NHÔ (Prajña=Paññā), là DỨT VÔ MINH (Vijjā).

*Từ đó, chúng ta có thể xem “DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna) là SIÊU CÔNG THỨC (Ariya niyama) trong «KHOA HỌC TÂM LINH», áp dụng qua ánh sáng TRÍ TUỆ, cho mọi vận hành liên quan đến «NGOẠI GIỚI» (Bahiddhabhūmi) cũng như «NỘI GIỚI» (Ajjhattabhūmi). NGOẠI GIỚI ám chỉ vật chất. NỘI GIỚI ám chỉ tinh thần. -Cả 2 hợp lại tạo thành tất cả sinh vật (hữu tình lẫn vô tình) trong vũ trụ nói chung, và trên quả đất nói riêng.

*Nhà Phật cũng gọi riêng «NGOẠI GIỚI» (Bahiddhabhūmi) là CẢNH DUYÊN (Ᾱrammaṇa paccaya), hay «môi trường hữu hình» chứa các «hỗn hợp cụ thể», phát xuất từ «TỨ ĐẠI» (Catu mahābhūta), với cặp đặc tính «NẶNG hay NHẸ», và dưới 4 dạng  là «chất đặc» (cứng và mềm), «chất lỏng» (kết và phân), «chất nóng» (phù và trầm), và «chất hơi» (động và tĩnh).

*Bốn DẠNG nầy đóng vai «TẠO HÓA» (Lokakara), hay nguồn gốc của tất cả HÌNH THỨC vật lý lẫn hóa học, được KHOA HỌC DUY VẬT đặc biệt chú ý.

*Và «NỘI GIỚI» (Ajjhattabhūmi) thì bao gồm 23 DUYÊN HỆ còn lại, nói lên khái niệm thời gian và không gian, lẫn cái KHẢ NĂNG chuyên chở khái niệm THỜI GIAN KHÔNG GIAN ấy, lại được bậc TOÀN GIÁC (Sammāsambuddha) khám phá và tiết lộ, qua đạo Phật. -Nếu người học Phật giải trừ được mọi cố chấp, sẽ thấy rõ như sau  :

*«KHOA HỌC» khi thiên về HƯỞNG THỤ, thì làm gia tăng «giá trị hữu dụng» của VẬT CHẤT dành cho con người, từ đó có TƯ DUY BIÊN KIẾN (=cực đoan), và không ngừng làm cho «giá trị hữu dụng» hướng về TINH THẦN (đạo đức) giảm dần, một cách đáng ngại. Đó là tình trạng nguy hiểm đối với xã hội nhân loại ngày nay.

*Nhưng khi «qui nguyên» thì chúng ta thấy KHOA HỌC CỤ THỂ cũng đến từ BẢN SẮC của GIÁC NGỘ hay của BÁT-NHÃ trong nhà Phật, thì sự quân bình TIẾN HÓA vật chấttinh thần, sẽ «vô hiệu hóa» được các tổn hại do NGHIỆP ÁC gây ra, nói theo Phật học.

-Xuyên qua loạt bài nầy, chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần danh từ BÁT-NHà (hay SIÊU TRÍ TUỆ=Prajña=Paññā). –Vậy «BÁT NHû là gì ?

<>Trước khi bàn đến «BÁT-NHû, chúng ta hãy nhắc sơ qua VI DIỆU PHÁP hay A-TỲ-ĐẠT-MA (Abhidhamma) một chút. Theo BẢNG DANH MỤC(saṅgaha) của VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), thì cái gọi là «TINH THẦN» con người (Maṇo), tổng quát gồm «2 PHẦN» tạm đặt tên qui ước là «TÂM VƯƠNG» (Citta), và «TÂM SỞ» (Cetasika). -NÓ được xem như 2 mặt của một đồng tiền (không tách rời nhau, chẳng bao giờ có cái nầy mà không có cái kia).

-Lý do !? -Vì TÂM VƯƠNG và TÂM SỞ có 4 điểm chung ĐỒNG SANH (phát sinh cùng một lúc), ĐỒNG DIỆT (chấm dứt cùng một lúc), ĐỒNG CẢNH (=cùng nhận một đối tượng), và ĐỒNG CĂN (=có cùng giác quan hay căn quyền).

*Nói về «pháp hành» thì TÂM VƯƠNG là «tâm biết cảnh». Còn TÂM SỞ là «tâm vương bị nhiễm cảnh» (sau khi tiếp xúc). -Khi học bảng danh mục, chúng ta thấy 89 tâm vương, nhưng chỉ có 52 tâm sở, chúng ta nhận ra rằng «còn lại 37 tâm vương kia là những tâm không bị (hay quá ít bị)CẢNH ảnh hưởng». Chúng còn được gọi là TÂM QUẢ (Vipākacitta) hay TÂM VÔ NHÂN (Ahetukacitta), TÂM BẨM SINH.

*Rồi trong số «52 tâm sở» ấy, có một tâm sở đen tối nhất SI (moha). Nó «ĐỐI LẬP HẲN» với TUỆ CĂN (Paññiṅdriya), tâm sở trong sáng nhất (trong số những tâm sở thiện). -Chúng tôi trình bày tổng quát như vậy, để kính thưa với quí vị rằng «TUỆ CĂN MẦM MÓNG đầu tiên của BÁT NHû. -Khi các ô nhiễm trong tâm đã hoàn toàn tẩy sạch thì BÁT-NHà biểu lộ !

*Nghiên cứu xuyên qua DUYÊN HỆ, chúng ta thấy «THỜI GIAN» (hay «chiều dài chuyển động trong KHÔNG GIAN») là «Phật pháp sâu xa nhất», liên quan đến NGHIỆP (Kamma). «THỜI GIAN» (kāla) vừa là «TÂM THỨC» (Maṇo), vừa là «ĐỐI TƯỢNG của TÂM THỨC», còn gọi nôm na là tinh thần (Maṇārammaṇa), nên CẢNH DUYÊN (Ᾱrammaṇa paccaya), thô hay tế đối với THÂN THỂ VẬT CHẤT (Kāyarūpa) chỉ có một, nhưng đối với TÂM THỨC thì có đến 23 loại, -tổng cộng thành 24 là như vậy !

-Đa số phàm nhân (puthujjhana), hằng coi thường THỜI GIAN (kāla), xem các giây, phút, ngày, tháng, năm…v…v….chỉ là những «cái vô nghĩa», chẳng liên quan đến phẩm cách của sự sống (=LUÂN HỒI). Nhưng đối với BẬC có TUỆ CĂN (Paññiṇdriya) đã phát triển tối đa, trở thành «TRÍ BÁT-NHû (Prajña), thì THỜI GIAN (Kāla) chính là «TẠO HÓA» (Kappa). Đó là bộ máy «KHOA HỌC ĐA NĂNG» (Vijjā). -Hay THỜI GIAN chính là CÁI NỀN của vận hành tâm thức, tức là «TIÊU CHUẨN» hay «DUYÊN HỆ» để tạo nghiệp.

-«NGHIỆP» trong đạo Phật có «NỘI DUNG RẤT RỘNG», bao gồm tất cả VẬN HÀNH của mọi động tử HỮU TÌNHlẫn VÔ TÌNH….-ngay cả THÁI DƯƠNG HỆ, gồm mặt trời, quả đất, mặt trăng, và các hành tinh quay tròn với nhau…cũng là «tạo nghiệp». Và NGHIỆP ấy luôn luôn có HIỆU QUẢ là THỜI GIAN cùng các HIỆN TƯỢNG đi chung.

<>Ví như…trong một bộ máy tối tân, hay trong một phi thuyền…hoặc trong một công thức hóa học, mọi thành phần đều dựa trên THỜI GIAN mà «tương tác». Cái gì phải tiếp xúc với cái gì và vào lúc nào, rồi cái gì biến ra dạng khác, hay tách khỏi vị trí ra sao…Tất cả phải «đúng thời gian» (chuyển động), «đúng bộ phận» (đối tượng), và «đúng chỗ» (không gian)… thì VẬN HÀNH mới tốt được. -Ở đây…DUYÊN HỆ nói lên sự kết hợp tinh vi ấy, nên NÓ phải là nguyên tắc của KHOA HỌC, bao gồm TINH THẦN và VẬT CHẤT.

*Những cái «TÊN chuyên biệt»…như : 1/«NHÂN DUYÊN» (gốc từ bên trong), 2/«CẢNH DUYÊN» (ảnh hưởng từ bên ngoài), 3/«TRƯỞNG DUYÊN» (ưu thế từ trong hay ngoài), 4/«BẤT ĐOẠN DUYÊN» (liên tục hình thức), 5/«BẤT LY DUYÊN» (liên tục nội dung, «dòng điện tâm»), 6/«ĐỒNG SINH DUYÊN» (cùng hiện hữu), 7/«A-NHÃ-DUYÊN» (tương tác sinh hoạt), 8/«Y CHỈ DUYÊN» (nương tựa đa phần), 9/«ĐẠI Y CHỈ DUYÊN» (nương tựa toàn phần), 10/«TIỀN LỆ DUYÊN» (xảy ra trước), 11/«HẬU LỆ DUYÊN» (xảy ra sau), 12/«TÁI DIỄN DUYÊN» (có sự lập lại), 13/«TÙY NGHIỆP DUYÊN» (do hiếu động mà vận hành), 14/«TÙY QUẢ DUYÊN» (do thành tựu rồi vận hành), 15/«DINH DƯỠNG DUYÊN» (do có nuôi nấng mới vận hành), 16/«CĂN QUYỀN DUYÊN» (vận hành bỡi năng lực giác quan), 17/«THIỀN DUYÊN» (nhờ định tâm mà vận hành), 18/«ĐẠO DUYÊN» (do đã đạt được lộ trình tới đích), 19/«TÙY TÙNG DUYÊN» (do có sự phò trợ mói vận hành), 20/«CÔ DUYÊN» (do hoạt động đơn phương trong vận hành)…..

-Và «4 DUYÊN SAU CÙNG» (từ 21 đến 24), ám chỉ xung quanh việc…«DỰ PHẦN TẠO NGHIỆP» của 2 TÌNH TRẠNG «có mặt và tồn tại» hay «có mặt rồi biến mất».

<>Tất cả nhữngĐIỀU KIỆN (hay DUYÊN HỆ) kể trên, KHÔNG PHẢI chỉ liên quan «một cách đại khái» đến sự TẠO NGHIỆP, mà là chúng GÓP PHẦN đủ chi tiết CHÍNH XÁC cho TẠO NGHIỆP ! -Từ đó suy ra…-nếu 24 DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna) không thuộc về KHOA HỌC (Vijjā udapādi) thì chúng chẳng thể ở trong «lãnh vực» nào khác !

*-Chưa kể chữ «PHÁP» (Dhamma) trong nhà Phật, là một «từ ngữ» chuyên chở khá nhiều Ý NGHĨA rất sâu xa, nhất là khi nó «được ráp» với chữ DUYÊN (Paccaya) thành ra «PHÁP DUYÊN» (Dhamma paccaya), thì lại khó ai có thể diễn tả một cách tổng quát. -Nhưng «ý nghĩa trọng tâm» của chữ PHÁP ở đây, vẫn là ám chỉ «tất cả những gì làm duyên PHÁT SINH RA HÀNH ĐỘNG, rồi đưa đến kết quả…-trong đó có 3 đặc tính, gồm 1/THUẬN (tốt=thiện), 2/NGHỊCH (xấu=ác), và 3/VÔ TÍNH (trung hòa)… ».

*Ví như người có tâm hồn chân thật, thích sống hợp pháp, thường làm nhiều việc thiện…thì «THỜI GIAN» hay «TINH THẦN» của họ biến thànhTỐT, lành mạnh, không mang «ẤN TƯỢNG bị chê trách» (tương đương với tội lỗi, suy đồi). Đó là một «CẢM GÍAC rất lý hóa», và rất khoa học. Vì NÓ không phải bắt nguồn bằng «phán xét chủ quan» (một dạng ÍCH KỶ), mà chính là một «phản ứng hằng hữu bên trong TỰ TÁNH». Nhưng nếu TÂM THỨC bị VÔ MINH (Avijjā) che áng, thì «nạn nhân» không nhận ra SỰ THẬT ấy. Nghĩa là họ đui mù với chính họ, cứ để cho thân tâm bị lôi cuốn theo THAM SÂN SI, rồi trở thành VÔ MINH (Avijjā)…cứ ảo tưởng cho rằng, TA (hay TÔI=ngã) có thể dẫm lên «luật TỰ NHIÊN», và «tự mình tha thứ hành động xấu, một cách phản khoa học», gian lận nhằm «trốn tránh trách nhiệm» ! -Nhưng….họ càng tư duy bất chánh, thì sợi dây của NGHIỆP QUẢ, càng ràng buộc họ một cách vô hình, trong oan trái hai chiều».

*Hiện tượng người ta thường «phủ nhận VAY TRẢ nghiệp quả» còn gián tiếp nói lến rằng, đó là PHẢN ỨNG TÂM LÝ nằm sâu trong VÔ THỨC (non conscience) của phàm nhân» hằng rất sợ HẬU QUẢ của hành động xấu, nên «tự bộc lộ phản khoa học» như vậy. -PHẢN ỨNG nầy chính là «bộ mặt» của VÔ MINH (Avijjā) !

<>Nói cách khác, khi tinh thần bị VÔ MINH che áng, thì phàm nhân KHÔNG biết rằng, TIẾN TRÌNH NGHIỆP QUẢ (Kammavipāka pavatti) lôn luôn vận hành NHƯ THẾ (Tathāgata), tức là VÔ MINH hay PHẢN KHOA HỌC (Avijjā), thì Phật học gọi là NGHỊCH PHÁP (Adhammena), vốn không thể nào xóa được SỨC NẶNG của TRÁCH NHIỆM. -Nghĩa là LUẬT NGHIỆP QUẢ chẳng tùy theo ý muốn của bất cứ quyền năng nào cả.

*Nếu trong VÔ-MINH (Avijjā), THỜI GIAN có vẻ như «thụ động, vô nghĩa», thì trong ANH MINH (Vijjā) hay khoa học), THỜI GAN lại đóng vai quyết định, vì nó cũng là TINH THẦN (Maṇo), là «chủ tể của mọi hành vi», như 2 câu đầu trong sách PHÁP CÚ đã nói :

1/ “Maṇo pubbaṃ gamā dhamma

Maṇoseṭṭhā maṇo mayā

Maṇasā ce paduṭṭhena

Bhāsati vā karotivā

Tato naṃ dukkhamanveti

Cakkaṃ vā vahato padan’ti”

Thoát dịch Việt :

“Mọi pháp hành do tâm dẫn đầu,

Tâm là “chủ”, tâm điều động tất cả,

Người hành động bằng ác tâm,

Thì quả khổ sẽ đi theo,

Như bánh xe lăn sau chân con bò”.

————–

2/ “Maṇo pubbaṃ gamā dhamma

Maṇoseṭṭhā maṇo mayā

Maṇasā ce pasannena

Bhāsati vā karoti vā

Tato naṃ sukkhamanveti

Chāyā’va anapāyinī”.

Thoát dịch Việt :

“Mọi pháp hành do tâm dẫn đầu,

Tâm là “chủ”, tâm điều động tất cả,

Người hành động bằng thiện tâm,

Thì quả lành sẽ đi theo,

Như bóng đen phía sau người”.

-Cũng theo DUYÊN HỆ (Paṭṭhānapakaraṇa), THỜI GIAN (Kāla) là cái khuôn đúc ra 3 loại TÂM THỨC, là thiện (kusala) hay ác (akusala), và trung tính (kiriya). Nói rộng ra, «DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna) là NGUỒN GỐC của Vũ TRỤ», của «VẠN VẬT XUNG ĐỘNG». -Đây là một QUANG KIẾN được xác nhận, do «Bản Sắc Khoa Học trong GIÁC NGỘ».

<>Sau cùng, nói về  «HIỆN THÂN» (Punnaravatāra) của DUYÊN HỆ, chúng tôi xin phép được trình bày dưới dạng DẪN ĐẠO CỘNG NGHIỆP, của một số người có «ảnh hưởng lớn» đến quần chúng, trong các vai trò xã hội như sau :

*Đối với VĂN MINH VẬT CHẤT, thì những «cá nhân ưu tú», hay các «nhà thông thái» (còn gọi là «khoa học gia»), cần có «3 phẩm cách» để tiến bước và đóng góp vào «VĂN MINH LÝ HÓA» của nhân loại…là :

1/Phải có kiến thức cao thâm về toán học,

2/Phải có sức khỏe thân thể tốt, bao gồm hệ thống thần kinh quân bình», và

3/Phải có tinh thần rộng lượng, cải tiến… không cố chấp vào thành quả hiện tại.

*Đối với «VĂN MINH TÂM LINH» (nguồn gốc phát sinh ĐẠO ĐỨC), thì các «nhà hiền triết hằng SỐNG MỘT CÁCH KHOA HỌC, hướng đến giác ngộ», cũng phải có «3 phẩm cách tương đương» với trên. Nhưng về mặt tinh thần, họ chính là những gương sáng của một nền «VĂN MINH LÀNH MẠNH». Phẩm cách của họ là :

1/Ưa thích sự thanh tịnh (parisuddhi), và sinh hoạt hằng ngày trong PHÁP THIỀN (jhāna).  

2/Có sức khỏe thân thể tốt, quen sống với kỷ luật (không khó khăn trong việc giữ giới=sīla), bao gồm cả «CÁC PHÉP vệ sinh tinh thần» (chánh định, chánh kiến, chánh tư duy), và…

3/Có tâm thức khinh an (passaddhi)), không mắc dính vào bản ngã, và vào đạo quả hiện tại, tức là tâm thức thường xuyên VÔ CHẤP, hay HỶ XẢ (=upekkhā).

<>Tuy nhiên, những «PHẨM CÁCH» quí hiếm trên đây, rất khó hội đủ một cách dễ dàng, trong cuộc sống phàm tục. Nhưng «cộng đồng tin Phật» vẫn nghĩ rằng, khi những người đứng đầu xã hội ĐÃ THỨC TỈNH, tâm thức thoát khỏi các khung tư tưởng «duy vật» hay «duy tâm», hết cực đoan -chẳng còn tự mãn với bản ngã, và tự khai thị chính mình. Họ sẽ phối hợp kiến thức của chính mình với Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo, để tìm «GIẢI PHÁP CHUNG»….thì sự thiết lậpphát triển TÍNH QUÂN BÌNH giữa 2 phương diện khoa học (=cụ thể vật chấttrừu tượng tâm linh), sẽ giúp rất nhiều trong việc cải thiện đời sống, tô bồi đạo đức…đang mỗi ngày một suy đồi !  GIẢI PHÁP CHUNG nầy có thể gọi là «KHOA HỌC TÂM VẬT» (Rūpanāmasa Vịjjā).

<>Trong khi chờ đợi cái HIỆN TƯỢNG LÀNH MẠNH ấy xuất hiện, chỉ cần các nhà trí thức «khoa học duy vật» chịu khó nghiên cứunhận chân rằng, «DUYÊN HỆ trong Phật giáo» chính là NHỮNG QUI TẮC để cải thiện HÀNH ĐỘNG (=nghiệp), tức là cải thiện SỰ SỐNG (Jīvita niyamā) một cách CỤ THỂ và TRỪU TƯƠNG, -tương đương với các định luật hệ luận trong VẬT LÝ và HÓA HỌC, áp dụng trên những vật CÓ THỂ THẤY bằng mắt thường, và KHÔNG THỂ THẤY bằng mắt thường…

-Khi đó, sự ÁP DỤNG của KHOA HỌC THÂN TÂM vừa nêu trên đây, sẽ có cơ hội được THỂ HIỆN một cách minh bạch, xóa tan mọi hình thức «đội lớp Phật giáo truyền đạo ngu dân» (đầy mê tín dị đoan !), nhuộm đen tinh thần…do một số người đã làm, đối với quần chúng thật thà, khát khao đạo đức. -Theo VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), bất cứ hình thức mê dín dị đoan nào, cũng đều Ô NHIỄM, phản khoa học ! -Từ đó «PHẬT HỌC THUẦN TÍNH» sẽ có thể sẵn sàng phối hợp với KHOA HỌC CỤ THỂ, để cho CÁC TIẾN BỘ LÝ HÓA ngày nay được «phát triển đồng bộ một cách tương tác và hợp lý» trên cả hai phương diện VẬT CHẤT (cụ thể) cũng như TINH THẦN (trừu tượng) !

*Và để bổ túc cho SỰ SOI SÁNG tính cố chấp vào 2 tình trạng «NHÌN THẤY ĐƯỢC» (cụ thể) và «KHÔNG NHÌN THẤY ĐƯỢC» (trườu tượng), chúng tôi xin cống hiến quí vị «câu chuyện khai thị» sau đây :

«Buổi tối nọ, một thiền sư bảo đệ tử vào phòng mình, lấy cho ông cuốn sách. Người học trò ngoan ngoản vô phòng của thầy, sờ soạng thật kỹ trên mặt bàn nhỏ, kê cạnh giường…nhưng chẳng tìm ra gì hết. Học trò liền bước ra, thưa thầy «con mò mẫm tìm kiếm cẩn thận mà không có sách !». Vị thầy bèn bảo «hãy đốt đèn lên mà tìm». Học trò liền vâng lời thầy, đốt đèn sáng trưng và cầm đi…thì thấy cuốn sách nằm trên giường. -Khi nhận cuốn sách, vị thiền sư «khai thị» đệ tử rằng «CÓ NHỮNG THỨ KHÔNG NHÌN THẤY, NHƯNG NÓ VẪN TỒN TẠI Ở ĐÓ». Người học trò tỉnh ngộ vội «cám ơn thầy»…».

*Cái «THUẬN PHÁP» trong «câu chuyện khai thị» nầy, là việc dùng CÂY ĐÈN, sản phẩm tỏa ra ÁNH SÁNG ! Nhưng «ánh sáng» tự nó lại vừa «cụ thể » vừa «trừu tượng». -CỤ THỂ vì ngưới ta có thể thấy nó khá rõ ràng. -TRỪU TƯỢNG vì nó rất lung linh…xuyên qua mọi ngõ ngách lớn nhỏ…. -Người ta không thể cột ÁNH SÁNG ở một chỗ nhất định. Và NÓ đến hay đi thì tùy ĐIỀU KIỆN KHOA HỌC hay DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna) !

Chỉ cần đồng ý rằng :

-Nếu dụng cụ để phát ra ánh sáng cụ thểcây đèn hữu hình (thấy được), thì dụng cụ để làm ra «ánh sáng trừu tượng» là tinh thần vô hình (không thấy được), xuyên qua KHOA HỌC TU TẬP  thân tâm, hay DUYÊN HỆ thiền pháp ! -BÁT-NHà!

-Trên đây, chúng tôi nói «cái HIỆN TƯỢNG LÀNH MẠNH, khi xuất hiện sẽ «điều chỉnh nổi cuộc đời», được xã hội luôn luôn qui về các nhà trí thức trong «khoa học duy vật», quả thật chúng tôi không dám coi thường quần chúng bình dân, nhưng nói vậy chỉ để «nhấn mạnh» một cách có «đối tượng», rằng TRÍ THỨC là «thành phần ưu tú trong xã hội», mang nhiều yếu tố có thể đóng vai «hiện thân» trong việc «CẢI CÁCH VĂN HÓA» cực kỳ quan trọng. ĐỐI TƯỢNG ấy là lớp người tiên phong trong việctái lập QUÂN BÌNH TÂM VẬT (thể xác và tinh thần), nhằm mục đích cải thiện sự sống loài người trên địa cầu, cả 2 phương diện :

<>Hiệu lực của ĐẠO ĐỨC cụ thể, tượng trưng là tiện nghi VẬT CHẤT, và

<>Hiệu lực của ĐẠO ĐỨC trừu tượng, tượng trưng là hạnh phúc TINH THẦN.

-Trường hợp các GIỚI TRÍ THỨC nói chung, hay những KHOA HỌC GIA nói riêng, không thể hội đủ diều kiện, để «hiện thân» làm VIỆC CẦN THIẾT ấy… thì đa số quần chúng bất hạnh, sống triền miên trong BẾ TÁC VẬT CHẤT và MỜ MỊT TINH THẦN, tự nhiên sẽ PHẢN ỨNG một cách không tránh khỏi, theo «lô-gic cùng tắc biến…», thì…đó lại là CHUYỆN KHÁC, nhưng TẤT CẢ vẫn nằm trong luật NGHIỆP QUẢ…vay trả nghiệm đúng muôn đời !

*Hơn nữa, nếu những người có TRÁCH NHIỆM với VĂN HÓA dân tộc hay VĂN HÓA nhân loại, vẫn xem GIÁO LÝ KHOA HỌC (Vijjā udapādi) «ẩn tàng» trong nhà PHẬT, (do Ngài Thích-ca Mâu-ni cống hiến đến thế gian, đã nhiều phen thăng trầm, cho đến ngày nay), chỉ như «cái kinh điển thần khải của một Tín ngưỡng nói chung», với những ĐÓNG GÓP «đạo đức qua nghi lễ», thì ấy quả thật là một thiệt thòi rất lớn, đối với loài người nói riêng, và đối với toàn thẻ chúng sanh nói chung !

Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ) -Pháp quốc. Paris 08/09/2021.

(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ CHỈ QUÁN trong mùa «tịnh thất»)

———