Bài 2
<>Đối với «pháp nghĩa bát-nhã» (prajña-pakāra), «PHẬT» (Buddha) nói chung…là một «hiện thân tinh khiết» (arahaṃ), hướng thượng và tuyệt đối trọn lành, -một phẩm cách giải thoát trong chuỗi đời hữu hạn, vượt vô thường (aniccā vimutti). -Hay «PHẬT» là một «biểu tượng cực kỳ thanh tịnh» (abhivisuddhi ciṇha) thuộc «3 phẩm cách chân-thiện-mỹ» (bhagavā), thù thắng các «hòa hợp lành mạnh» của tứ đại luân hồi, dưới dạng tập khí thanh không bị ô-nhiễm bởi với tập khí trược, trong thể xác và tinh thần (nāma-rūpa khandha), hằng chịu đựng sinh-lão-bệnh-tử (jāti-jarā-byādhi-maraṇa => dukkha), để chấm dứt thăng trầm kéo dài bất tận (akkheyya saṃsāra vimokkha), mà thế nhân thường gọi là cõi «ta-bà» (sahagata).
*Và «PHẬT» (Buddha) trong «MINH TRIẾT» (vijjā vibhajana) cũng không nhất thiết là «một đối tượng toàn năng linh thiêng» trên mặt đất, hay là đấng tối thượng trong “tam giới vũ trụ”…-mà «PHẬT» là chân thật muôn đời, với cái nghĩa đã biết trọn vẹn sự thật (Sammāsambuddha), và là “MỘT ANH MINH duy nhất”, -một “TINH HOA KHOA HỌC”, của phương pháp sống thanh tịnh, cụ thể lẫn trừu tượng, phàm phu lẫn siêu việt (vijjā cāloko udapādica) !
-Do đó, «Phật» có thể ví như «ánh sáng trắng tinh» (=hoàn toàn không màu => vô khung, vượt chấp), hướng về triệt tiêu sa đọa và luân hồi, phá khổ cho nhân loại và tất cả chúng sinh. -Nói một cách tuyệt giải (=đó là tôn chỉ cứu đời). -«PHẬT» là LINH DƯỢC VÔ GIÁ «vừa dinh dưỡng vừa cải thiện thân tâm nhân loại», THÔ cũng như TẾ, -còn nói một cách chân pháp, Phật là phẩm cách luôn luôn tiếp độ…đối với tam giới sinh linh, vô tình lẫn hữu tình !
*Về phương diện lịch sử, «ĐỨC PHẬT» là một nhân vật có thật, đã ra đời bằng xương bằng thịt, trước đây hơn 2500 năm, tại một vương quốc ở Đông-Bắc Ấn-độ, nhưng giáo lý giải thoát của Ngài vẫn không trực tiếp hay gián tiếp bị qui nạp, rằng Ngài thuộc về văn hóa bản địa, -như tôn giáo của các giai cấp cầm đầu thuở ấy (gồm đạo Bà-la-môn, Kỳ-na giáo, hay nói chung là “Ấn giáo” ngày nay…v…v…). *Và người đương thời cũng chẳng xem Ngài là «cứu tinh» của một dân tộc riêng biệt nào, đang bị áp bức, bởi một thế lực xâm lược nào. Vì đức hạnh của Phật vốn là GƯƠNG SÁNG (=thân giáo) cho tất cả những tâm linh hằng chịu khổ (dukkha) bởi tham sân si. -«Nền tảng minh triết» ở đây, là Phật không cứu khổ bằng lý thuyết (triết học), mà là bằng thực hành, -hay PHẠM HẠNH (Brhamacariya) !
<>Nói đến «PHẬT», chúng ta không thể dùng óc tưởng tượng (vốn do tham sân si manh nha, thúc đẩy), để «nghĩ ra» NGÀI như một «đấng chủ thể tạo hóa», có thể «ban phước xá tội» dựa trên qui ước thế gian. -Nghĩa là, Đức Phật càng không phải là “Bậc Toàn Năng” đóng vai ông tòa tối thượng, để “thưởng phạt” theo “luật lệ luân hồi” trong CỘNG NGHIỆP (sādhāraṇa kamma)…-mặc dù tiềm lực ba-la-mật (paramitā iṅdriya-bala) hay “kết tinh đức độ tuyệt vời” (phaḷika lokuttara), hội tụ một cách vượt trội nơi Ngài, chứa đựng tất cả những “năng lực siêu nhiên” ấy !
<>Nghĩa là, “phẩm cách phi thường” (trên cả linh thiêng) của một vị “PHẬT” không thể nào có thể diễn tả bằng ngôn ngữ “triết học nhân sinh”. -Vì “lãnh vực nầy chỉ chia chẻ (chiết=triết) một cách tinh vi, cầu kỳ…các vấn đề suy luận trong trí thức con người phàm phu…thuần lý thuyết” ! -Và “triết học thế gian” vốn luôn luôn đóng khung, vào 1 trong “2 chấp kiến”, đối nghịch nhau…cũng như “trung tính” ba phải ở giữa…-tiêu biểu nhất là những “CẶP” có/không, cao/thấp, sâu/cạn, hữu/vô, hoặc hòa hài với cả 2 phía(tương đối) v.v…). -Ngay cả cái “ý thức trung dung”, nếu con người quá say mê, ôm cứng nó (=lý tưởng cực đoan)…thì vẫn là một loại cố chấp…đối với MINH TRIẾT, -đặc biệt là trong Đạo Phật !
-Và cũng xin được minh bạch ở đây rằng, TÍNH DỨT KHOÁT tận diệt mọi bất thiện (bao gồm toàn bộ ác tật và sự vướng mắc hạnh phúc), không phải là “sự đóng khung”, mà đó là phẩm cách cần thiết để thăng hoa…siêu thoát ! Vì “sống chung” với các pháp bất thiện dưới bất cứ lý do gì, vẫn luôn luôn dẫn đến sa đọa, và đồng thời “hậu quả” của vướng mắc (hay cố chấp trong thiện) cũng là tiền thân (hetu) của tham vọng, cực đoan, và vô minh (tù ngục). -Còn “PHẨM HẠNH” của sự dứt khoát diệt tận tham sân si, ác nghiệp…là thanh lọc cả thân lẫn tâm, để thông thoáng vận hành…anh minh, giải thoát !
<>Vả như đã nói về 2 chữ “GIÁO” và “ĐẠO” trong ngôn ngữ Phật học. -Xin nhắc lại một lần nữa, “giáo” (sāsana-bhāsitaṃ) là lời dạy, còn “đạo” (magga) là con đường, tức sự thực hành Phật ngôn, hay tiến bước trên lối đi hướng thượng…gọi là “thiện lành” cụ thể (sundara kuasala magga), của Chư Phật. -Điều nầy lưu ý rằng “Phật ngôn” hay “giáo lý” dù chân chánh triết học đến đâu, mà không được áp dụng nghiêm túc, thì tất cả chỉ là khẩu thuyết suông !
-Nhưng khi đã hành động đúng theo những lời hướng thiện ấy (-hay SỐNG ĐẠO), người ta mới nhận ra được hiệu quả thăng hoa (thoát khỏi tham sân si) của Pháp Phật (Buddhadhammā), một cách có “cứu độ” và không nghi ngờ…-nên 2 chữ THỰC HÀNH (cariya) ấy mới luôn luôn chứa trọn phẩm cách của “MINH TRIẾT” (tattañāṇa vijjā) !
*Và cũng nhờ làm đúng theo Phật ngôn vô lậu, và trải nghiệm được bản thân thanh tịnh tiến hóa…mà hành giả cũng “THẤY” chắc chắn rằng, “Phật là hiện thân của ánh sáng bát-nhã”, chỉ phát sinh do thực nghiệm đầy đủ…của khoa học tâm linh vô song, có khả năng cải thiện thân tâm, đủ hiệu lực soi đường thoát khổ. -Từ đó, ĐỨC PHẬT không phải là sản phẩm riêng của văn hóa hay triết học Ấn-độ, mà là bảo vật chung của an ninh nhân loại, hoặc của toàn thể chúng sanh, hữu tình lẫn vô tình, sống trong minh triết !
-Nhưng một điều đáng tiếc có thể xảy ra, là “bảo vật” (Phật giáo) ấy không khéo sẽ bị những kẻ ác (duy vật vô thần lẫn duy tâm cực đoan, tối tăm), nhất thời có quyền lực, cầm đầu một số quốc gia giàu có, khi đạt được ưu thế quân sự và kinh tế…thì độc quyền khai thác văn hóa, dùng mồm mép và tiền bạc, phối hợp với “kỷ thuật khoa học tân tiến” (!)…ngụy tạo đạo đức…khoe khoang, mua chuộc, rồi cám dỗ các quần chúng chậm tiến thật thà…lôi cuốn họ vào đời sống ngu dân, tôn thờ các chủ nghĩa bánh vẽ, đui mù đấu tranh giai cấp, gây hỗn loạn…giúp cho ác chính thủ lợi…-chưa kể tình trạng mê tín cũng là một “công cụ tốt” để cai trị ! -Hiện tượng đã xảy ra, như đế quốc Tàu ngày xưa…đã từng dựa vào “thần thoại bà-la-môn”, dựng lên nhiều vị “phật” khác, xuất hiện trong kinh điển của họ…để làm loãng giáo lý minh triết của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni Buddha).
*Cũng may, một số không nhỏ người tin Phật đủ duyên lành, có chánh kiến…ý thức được điều đó, nên khi càng SỐNG ĐẠO họ càng trân trọng và ghi khắc những gì là ân đức (guṇa) của Bậc Toàn Giác (sammāsambuddho) một cách cụ thể. -Họ luôn luôn bảo tồn phạm hạnh giải khổ bằng hành động lành mạnh, hướng thiện, dẫn đến CHÁNH TRÍ…như một nền tảng vững chắc, vừa thực tiễn vừa tinh khiết, để soi đường trước mắt, cho họ…và cho…toàn thể nhân loại !
<>PHẬT trong MINH TRIẾT không phải là một danh vị (kêu to, khoe khoang màu sắc quyền năng) theo CÁI nghĩa thế tục phàm phu. -Vì “phật” như thế không khéo sẽ trở thành “nhà sáng lập tôn giáo” (hữu lậu), khiến cho các thế hệ tăng sĩ vướng vào lợi quyền, cạnh tranh, xung đột lẩn quẩn ! -Mà PHẬT chính là hiện thân của đức hạnh sống và giải thoát (vô lậu). -Khi hiểu “PHẬT” một cách chân thật, thì NGÀI chính là hiện thân của phương pháp thoát tục, để áp dụng trong hiện tại…nhằm triệt tiêu mọi nguyên nhân đưa đến khổ thân lẫn khổ tâm, vượt thắng các vòng sanh tử luân hồi, dù thực tế một sinh linh đang còn nằm trong cõi nào(dục giới, sắc giới, hay vô sắc giới).
*Và “PHẬT” ở đây KHÔNG tùy theo duyên nghiệp xoay vần, thăng lẫn đọa, chẳng còn kẹt trong bất cứ KHUNG HẤP DẪN nào. –Ngài là “cứu cánh bồ-đề ”…hoàn toàn tự do (sambodhāya-nibbānāya saṃvattati) đồng thời…bao la hội nhập vào “TỊCH TỊNH SIÊU VIỆT” (visuddhi niccā prajñā), chứ không phải là “thần tượng trung tâm” của một tập đoàn giáo điều chủ nghĩa !
-Sau đây là những ÂN ĐỨC “khả chứng” (nirākaraṇīvajja guṇa) của Phật Tổ Thích-ca Mâu-ni (Sakya-Muni Buddha) :
<>Thứ nhất : Ngài là bậc có thân-khẩu-ý trọn lành (Arahaṃ).
*Phẩm hạnh nầy, các sách Phật học viết bằng “hán-việt”, thường gọi là “ỨNG CÚNG”, tức “xứng đáng để nhận cúng dường”. –“TRỌN LÀNH” ám chỉ thân khẩu ý nơi Phật luôn luôn thanh tịnh, bao dung, từ bi đối với tất cả chúng sanh. Bốn chữ “xứng đáng cúng dường”, không phải vì “danh vị cao cả”, mà đó là đối tượng tinh khiết (vô nhiễm) tịnh hạnh…được tam giới chúng sanh tôn sùng.
-Chữ “Arahaṃ” trong tiếng nói thủ đô Hoa Thị Thành (“Pātalīputta = Pālī”) thời Đức Phật, có nghĩa là “ba nghiệp hành động (thân khẩu ý) không có tham sân si”, -tàu âm “Arahaṃ” là “A-la-hán”. -(Nhưng có một số người…-không biết vô tình hay cố ý…đã phát âm 3 vần nầy ngắn lại là “la-hán” (=rahaṃ), xóa bỏ tiếp đầu ngữ phủ định “a”, nên ý nghĩa bị trở thành đảo ngược. “La-hán” là “hạng người còn nhiều tham sân si” (chưa thanh tịnh), -không phải thánh nhân, chẳng xứng danh là “ứng cúng” !).
-Vì thân khẩu ý Phật trọn lành, có thể ví như “mảnh ruộng mầu mỡ” (=phước điền), ai gieo trồng hạt giống thiện vào đó, thì sẽ thu hoạch nhiều hoa trái hạnh phúc. -Ấy mới chính là “nội dung” của ân đức gọi là “ỨNG CÚNG” ! -Âm thanh và ân đức “A-la-hán” nầy hằng khuyến khích tín đồ noi gương Phật, thường xuyên sống bằng thân khẩu ý thiện lành, từ đó được bình an, được che chở…chứ không phải là “bí tự bùa chú” khử trừ ma quỉ, mà những kẻ tội lỗi dùng…để “hóa giải” nghịch cảnh một cách tà kiến ! Nói tóm lại, “thân khẩu ý trọn lành” mới đúng là “mệnh giá” trong MINH TRIẾT !
<>Thứ hai : Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammā-sambuddho).
*Phật là bậc đã vô lượng kiếp tu tập (=thanh lọc thân tâm), đầy đủ thâm hậu ba-la-mật (pāramitā)), để hiện tại Ngài có một “khả năng tri thức toàn vẹn”. -“TRI” thuộc về cảm giác thông lành thể xác (=hệ thần kinh = sắc pháp = rūpadhammā). -“THỨC” thuộc về tinh thần minh mẫn tinh khiết (=danh pháp = nāmadhammā), luôn luôn sáng suốt, do trí tuệ BÁT-NHÃ (prajña). -Từ đó, cái BIẾT của Phật rất chân thật, bao la, vượt qua mọi biên giới, không bị ngăn ngại bởi bất cứ khung chấp trước nào, bao gồm quá khứ, hiện tại, hay tương lai !
*“PHẬT” là kết quả siêu việt (lokuttara vipāk) của phẩm hạnh vô lượng đại xả (sabbupekkhāmahaggatā).
<>Ngoài ra, bốn chữ “Chánh Đẳng Chánh Giác” cũng ám chỉ…ấy là “thăng hoa” của “khoa học thanh lọc tâm linh”, và của cả “biểu tượng khoa học vật chất”, hay của “LÝ HÓA BIẾN HIỆN”, mỗi lúc một tinh vi trong tư tưởng con người lành mạnh, hướng thượng, hiện tại và tương lai, giữa vũ trụ mênh mông ! Nhờ đức tính “chánh đẳng chánh giác”, mà Phật luôn tri thức chính xác để tiếp độ những ai thiện lành hữu duyên, chứ “không thể phá lệ, dễ dàng cứu vớt” các tâm hồn nhuộm đầy tham sân si, tội lỗi…dù cho Ngài có “thừa khả năng” mà phàm nhân cho là “pháp lực mầu nhiệm”. -Vì đối với Bát-nhã trong Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, độ nạn như thế là “gián tiếp khuyến khích” gieo rắc mê tín dị đoan, vô minh…sa đọa, oan trái, luân hồi !
<>Thứ ba : Bậc minh Hạnh Túc (Vijjācarana-sampanno).
*Ba chữ “minh hạnh túc” ở đây là “nét đặc thù” của phẩm cách triệt tiêu trọn vẹn vô minh (avijjā). Đó là “khắc tinh vô địch” của nguồn gốc tam độc (tham sân si), –ba ác tố hằng nuôi dưỡng bánh xe sinh tử luân hồi. -Theo Phật học, VÔ MINH (avijjā) chính là “khởi điểm vô nhân” (ahetuka saṅkhārā) của tất cả bất thiện pháp (sabba akusala dhammā). -Từ vô minh mà sinh ra THAM (lobha, raga), rồi từ tham trổ ra SÂN (dosa), và từ sân mà tâm thức bị đốt cháy, sa đọa đen ngòm thành SI (=u-mê, ngu muội). Cả “bộ ba” tham sân si này…đến lượt chúng đóng vai “cấu kết”…làm tăng cường độ dày của “vô minh căn”, biến ra “vô minh lậu”, -hay gọi là “vô minh tích lũy” !
*Là người tin Phật, chúng ta hằng biết rằng, “Vạn pháp hữu nhân” (sabbe dhammaṃ het’uppabhāvā)…”. -Và chắc chắn chúng ta cũng chẳng thể quên Bài Kinh “Thập Nhị Duyên Khởi” (dvādasa paṭiccasamuppāda paccaya-sutta), đã trình bày một cách cô đọng, theo dạng “công thức”…các vòng thăng đọa gồm “12 khoen xoay tròn”, tượng trưng cho “bất tận chu kỳ sinh tử luân hồi…bắt đầu từ tình trạng vô minh” (avijjā). -Nhưng “VÔ MINH” lại không thấy sách nào nêu ra “nguồn gốc” hay “nguyên nhân” (hetu) của nó, nên chúng ta tạm hiểu “vô minh” là khởi điểm tự nhiên (hayphi nguyên nhân !.
*Điều nầy xem ra cũng “hợp lý”, vì suy cho cùng thì…“nguồn gốc của vô minh vốn vẫn là vô minh”, hay “vô minh cũng là “tiền thân” của “chính nó” -Tuy nhiên, chúng ta cần nói rõ, ấy là “vô minh lậu” (tức vô minh quả). -Còn “vô minh căn” hay “vô minh nguyên khởi” thì “rất xa xưa” (= phải truy tìm bất tận…), -không “khả năng trí thức nhân sinh” nào có thể lui mãi về quá khứ, để “nắm bắt” được !
-Riêng chư THÁNH NHÂN (dù cho có “túc mạng thông”) thì Các Ngài “không bao giờ làm việc truy tầm vô ích đó” ! -Nghĩa là “Thánh Tâm” luôn luôn “thanh tịnh” cải thiện mọi nhân ác, chứ không bất mãn chạy trốn các quả xấu !
<>Và để tháo gỡ sự thắc mắc về “vô minh khởi thủy” ấy trong lòng tò mò của tri thức phàm phu, sách “Vi Diệu Pháp Câu-Xá-Luận” (abhidhammakosa) cũng gián tiếp tiết lộ, rằng “vô minh có 2 mặt”, là “vô minh căn” (avijjā-iṅdriya) và “vô minh lậu” (avijjā saṃsāra). -Hễ “Vô minh căn” phát sinh trong “tế thức” của sinh linh nào, thì khi “vọng động”, nó lập tức biến thành “vô minh lậu”. *Từ đó về sau, tất cả các vòng luân hồi đều bắt đầu bằng Vô minh lậu. Phàm nhân chúng ta muốn tìm hiểu về “bánh xe thập nhị nhân duyên”, chỉ có thể khảo sát vận hành của thăng hay đọa, xuyên qua qui nạp hay thục quả của những VÔ MINH kiếp trước (=vốn là “hữu lậu”) mà thôi. Nhưng “vô minh căn” hay “vô minh khởi đầu”, thì chỉ có bậc đã đoạn tận tham sân si mới thấu triệt ! -“Trí tuệ triết gia” không bao giờ có thể !
*Nhân tiện, chúng tôi xin nêu ra một dạng trình bày khác về Thập Nhị Nhân Duyên (dvādasa paṭiccasamuppāda paccaya-sutta), tuy hơi dài dòng bởi sự lập lại…để quí độc giả tương đối dễ “nắm bắt hơn” cái “trạng thái vô minh” (avijjā avatthā)) trong luân hồi (saṃsāra), kể từ “khoen đầu” như sau :
1/“VÔ MINH lậu” (avijjā janita paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh HÀNH” (avijjā-saṅkhārā).
2/“vô minh HÀNH (avijjā-saṅkhārā paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh THỨC” (avijjā-viññānaṃ).
3/“vô minh THỨC (avijjā-viññānaṃ paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh DANH SẮC” (avijjā-nāmarūpaṃ).
4/“vô minh DANH SẮC” (avijjā-nāmarūpaṃ paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh LỤC NHẬP” (avijjā-salāyatanaṃ).
5/“vô minh LỤC NHẬP” (avijjā-salāyatanaṃ paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh XÚC” (avijjā-phassa).
6/“vô minh XÚC” (avijjā-phassa paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh THỌ” (avijjā-vedanā).
7/“vô minh THỌ” (avijjā-vedanā paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh ÁI” (avijjā-taṅhā).
8/“vô minh ÁI” (avijjā-taṅhā paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh THỦ” (avijjā-upādāna).
9/“vô minh THỦ” (avijjā-upādāna paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh HỮU” (avijjā-bhava).
10/“vô minh HỮU” (avijjā-bhava paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh SANH” (avijjā-jāti).
11/“vô minh SANH” (avijjā-jāti paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh TỬ” (avijjā-maraṇa).
12/“vô minh TỬ” (avijjā-maraṇa paccaya) làm duyên khởi cho “vô minh LẬU vòng mới (nava saṃsārena avijjā janita), -tức là “tính âm-u của tâm tái sinh” (patisandhi-citta) kiếp sau.
(Và trong khoảng giữa SINH (jāti) và TỬ (maraṇa), thì có LÃO (jarā) lẫn BỆNH (arogya), luôn đồng hành với “hỗn hợp thân tâm” (kāya-maṇo khandha) đắm chìm trong tham sân si… !).
<>Rồi khoen cuối cùng là “vô minh TỬ”, hay chết trong nghiệp quả phàm tình tối tăm…nên đó cũng chính là sự lập lại của “VÔ MINH LẬU” khác (añña avijjā janita), -hay duyên khởi đầu (ārambhaka paccaya) của kiếp sống tiếp theo, và cứ thế duyên khởi mãi mãi (paṭicca-samuppāda) ! -Nghĩa là, “VÔ MINH CĂN” (avijjā-iṅdrya) tự nó hiện thân là “VÔ MINH LẬU” ((avijjāsava), hằng “ẩn sâu” giữa tất cả “11 khoen duyên khởi” (còn lại) trong “12 mắt xích luân hồi” !
-Quí vị nào muốn “đào sâu” vào giáo lý “Thập Nhị Nhân Duyên” (Dvādasa paṭiccasamuppāda paccaya-vāda), xin mời tham khảo các sách khác cùng đề tài…trong tủ sách “Phật học Nam truyền”. -Chúng tôi xin mạn phép tạm dừng nói về “VÔ MINH DUYÊN KHỞI” (avijjā janita paccaya) ở đây, để quay về chủ đề “Minh Triết trong Phật Bảo”.
<>Thứ tư : Bậc Thiên Thệ (Sugato).
*“THIÊN THỆ” hay “Tịnh Nguyện Cao Thăng” là danh từ hán-việt,được “thoát dịch” từ chữ “Sugato” trong Pāḷī ngữ. –Ân đức nầy…nghe qua có vẻ “khó hiểu”, vậy xin phân tích “căn tự” như sau : -“Su” là tốt hơn (=hướng thượng) -“Gato” là đi tới. -Nghĩa tự điển của “Sugato” là “tiến hóa”, “thăng hoa”, “cải thiện”, hay “luôn luôn hành động hướng lên cao, thoát ra vòng sa đọa luân hồi”. -Và trong “Minh triết đạo Phật”, ấy được mệnh danh là “Thiên Thệ”, tức tình nguyện tiến hóa, quả lành đầu tiên là làm Trời (deva).
-Đây là một công phu tự độ (ba-la-mật = pāramitā) của một Đại Bồ-tát (Makābodhisatvā) đã trải qua vô số lần như thế…trước khi giáng trần lần chót, để hoàn tất pháp giải thoát, cho mình và cứu giúp chúng sanh…nên Phật học gọi là “Thiên Thệ” (Sugato).
<>Chư thiên và nhân loại có chánh kiến (sammā-diṭṭhika), hằng tôn kính Đức Phật một cách xác chứng, vì căn cứ trên những đức tính chủ lực (hoàn thiện), vào “hạnh thăng hoa” nầy, mà 2 chữ “THIÊN THỆ” cũng có nghĩa là “nguyện vọng thăng thiên”, nói lên “tính thoát tục”, không say đắm danh lợi phàm trần, phù du…tư mình buông bỏ sắc dục danh sắc thô, để trở thành danh sắc tế, rồi vô danh sắc !
-Sách khuyến thiện trong nhà Phật đã có câu “ngũ giới bất trì, nhân thiên lộ triệt”, nghĩa là “5 giới hạnh căn bản (giải oan trái), mà một cá nhân không gìn giữ, thì sau khi chết… sinh thức sẽ không thể tái trở thành người, hay chẳng bao giờ được thăng hoa…lên cõi cao”. Năm điều lành ấy là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất say. -Như vậy “ân đức thiên thệ” (=sugato guṇa) nói ở đây, ám chỉ trước khi thành Phật, Ngài đã chẳng bao giờ tạo tội lỗi cộng nghiệp (=hận thù) với bất cứ chúng sanh nào, bằng sát sinh, gian đoạt, tà hạnh, ác ngữ, và mê say (=ly khai lý trí).
<>Thứ năm : Bậc Thế Gian Giải (Lokavidū).
*Ân đức nầy của Phật, trong chiều sâu…vốn liên quan đến 3 ân đức (nền tảng) như đã nói…là «Thân Khẩu Ý Trọn Lành», «Chánh Đẳng Chánh Giác» và «Minh Hạnh Túc». –Thế Gian Giải ở đây có nghĩa là «đủ năng lực trình bày» một cách quán triệt…vạn pháp trên thế gian (nói riêng) và trong tam giới (nói chung)…soi sáng thật rõ ràng, không nhầm lẫn, không thiếu hay dư…và giải tỏa hoàn toàn ẩn khúc, vô ngăn ngại (paṭisambhidāmagga) ! -“Tuyệt phẩm” ấy cũng là lý do mà các hàng phạm hạnh…thường nói rằng, “trực tiếp được nghe Phật truyền Pháp…là một đại phúc !”. -Vì đó là sự tiếp nhận PHÁP SOI SÁNG từ Một Bậc Thế Gian Giải (Lokavidū) !
-Kinh điển ghi, “thời Phật còn tại thế, sau mỗi buổi Phật thuyết pháp, nhiều thính giả đã đạt bát-nhã trí, và đắc đạo giải đọa”…là như thế ! -“Năng lượng” từ “sóng tâm trong sáng, cực kỳ thanh tịnh” của Phật, luôn luôn tỏa ra…“tháo gỡ” những tối tăm trong “thính chúng thiện duyên” (hữu mầm chánh trí) rất siêu việt, còn gọi là “khai thị”, mà ngôn ngữ phàm phu không thể nào diễn tả dễ dàng được !
-Nói cách khác, Ân Đức THẾ GIAN GIẢI (=lokavidū) của Phật là một hiệu lực cứu độ vững chắc (pāramitā), chứ không phải là một hùng biện lý thuyết, như nghệ thuật chinh phục thế gian, thường khéo léo lôi kéo người nghe…tin vào một triết luận nào đó, nhất là chạy theo tha lực (ngoại năng), chối bỏ ba-la-mật tự lực ! -Thính chúng trước mặt Phật mà đạt được đạo quả, là do tịnh trí của chính họ được tiếp thu “hương vị bát-nhã”, rồi phát sinh tuệ giải thoát, giác ngộ, toàn xả…rũ bỏ tất cả ràng buộc tích lũy từ vô số kiếp…thuộc THÂN-KHẨU-Ý ! -Giải thoát tam nghiệp một cách không dư sót !
-Tức là chỉ xuyên qua MINH TRIẾT (hay học và hành), mà người tin Phật mới “hiểu đúng để thực hiện”, đồng thời “nghiệm chứng được sự hướng dẫn tuyệt vời” của THẾ GIAN GIẢI (lokavidū) ra sao, và họ không thể nhầm lẫn ân đức nầy, với một “ảnh hưởng” (thần năng) nào khác trong “tam giới pháp” (ti-loka-dhammā) vốn đa màu sắc…-dù cho nó có hấp dẫn, tinh vi, và khéo léo đánh lạc hướng đến đâu !
<>Thứ sáu : Vô thượng sĩ (Anuttaro).
*Nhóm từ “Vô Thượng Sĩ” (Anuttaro) ở đây, khi xuyên qua lãnh vực «tri hành hợp nhất» hay MINH TRIẾT (vijjā ñāyasattha)…ám chỉ “sự anh minh hiểu biết toàn thể bộ máy tương tác luân hồi”, –phản động vì có động, do dục vọng thô kệch lẫn vi tế…tràn ngập vận hành (ogha) một cách che mờ tất cả, khó ai có thể vương lên được ! *Nhưng Bậc “Vô Thượng Sĩ” vẫn có TÂM THỨC quán triệt toàn pháp nghiệp quả (sabba kamma vipāka). -Rồi khi “ân đức” nầy (ayaṃ guṇa) của bậc «Chánh Đẳng Chánh Giác» (Sammāsambuddha) biểu lộ hiệu lực siêu việt của nó, bao gồm các “thần thông” (abhiññā)…thì người vô minh cho là “phép lạ” (?!), -còn người có chánh kiến thì xem là “ân đức tự nhiên”.
*Riêng «Vi Diệu Pháp Câu-Xá luận» (Abhidhammakosha), thì 2 chữ “vô thượng” trong nhóm chữ “vô thượng sỹ”, hằng chuyên chở cái nghĩa “viên dung”, chứ không phải “thiếu thừa”, hay có tínhso sánh thứ bậc thuộc trên/dưới…trong các vận hành thăng đọa !
*VÔ THƯỢNG SĨ là Bậc Toàn Tịnh (Sabba-santatiko), đã tận trừ tham sân si, để thấy rõ con đường siêu thoát duy nhất (aneka taṅh’āriya magga), và ngoài con đường ấy ra, không có giải pháp thứ hai (ngoại lệ) nào khác ! –Vô thượng sĩ cũng là hiện thân của công phu tuyệt đỉnh…có phẩm cách thanh lọc, buông bỏ…tiến hóa…đồng bộ cả thể xác lẫn tinh thần (=viên tròn bát chánh đạo), chứ không phải chỉ chủ trương “tu tâm” bằng lý thuyết, viện cớ “tâm là động cơ dẫn đạo mọi hành động” ! Nhưng đa số người…với kiến thức phiến diện (duy vật, một chiều), vẫn cho rằng “khi tâm còn phàm, đang chìm đắm trong tham sân si…thì nó không thể thoát khỏi nanh vuốt của nhục dục, hay đòi hỏi của thân nghiệp”.
*Người vô minh vẫn bạc nhược tin chắc rằng, “THÂN” nầy chính là áp lực mạnh nhất đối với “TÂM”. Nó là mảnh đất hằng nuôi dưỡng mọi tật xấu của tâm, và đồng thời nó cũng có khả năng “bóp chết lý trí” (=diệt tuệ căn) trong tinh thần. -Nhưng khách quan một cách tiến hóa hơn mà nói, thì…nếu thân có thể làm cho tâm trở thành XẤU (duṭṭha), thì khi THÂN tuần thục trong giới luật (sīla), nó cũng có thể làm cho TÂM trở thành TỐT (sobhana).
-Theo Phật Học “khi bắt đầu tu tập bằng thân” (=thực hành), áp dụng NĂM GIỚI (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu) tức “kỷ luật sửa sai thân và miệng”, thì chính là sự cải thiện cụ thể ấy, sẽ làm sao cho hành động chân tay và miệng lưỡi được khép vào một thứ “nguyện vọng vương lên khỏi bùn lầy oan trái”, -chẳng hạn như “tính hổ thẹn trước sự phê phán xung quanh” (hiri), thuộc về văn hóa xã hội hướng thiện, hay “sợ bị trừng phạt” (ottappa) thuộc về luật lệ luân lý (trong một nước tự do dân chủ có pháp trị). -Khi thân và miệng của một người không vi phạm năm điều cấm (=giới hạnh), thì tâm tư họ sẽ dần dần thấm nhuần nghiệp lành, hóa giải oan trái. -Vì trong “sinh hoạt cộng đồng”, chúng ta không thể nói (theo kiểu lý luận triết học suông) rằng, “cứ giết sinh vật, cứ đoạt của người, cứ hành dâm khi muốn, cứ nói điều chẳng thật, và cứ thèm rượu thì uống…” –mà “tâm ta vẫn tự nhiên”, hay “dửng dưng” được, -hay “ta không chấp vào giới”, “không vướng vào tư duy thiện ác gì cả”, thì “hành động tự nhiên” chẳng sao !(?) -Ấy rõ ràng là vô tri và ngụy biện, chứ chẳng phải “phá chấp” !
*Vô Thượng Sĩ là bậc thấy rõ hiệu lực tích cực của “công phu tu hành, –đức hạnh càng dày thì tâm XẢ càng cao !”, để không biện luận quanh co…vi phạm giới luật, coi thường hay phủ nhận quả thiện, viện lẽ không chấp vào chứng đắc, “thoát quan niệm” (?!), như những kẻ tiêu cực, tà kiến, chủ trương vô tri (làm mà không biết)…-kiểu “tâm đừng vướng thì thành Phật”. -Ấy rõ ràng là chẳng những cố ý lừa gạt chính mình lẫn người, mà còn tuyên truyền không tưởng đề cao triết lý suông, vô cùng nguy hiểm, sa đọa !
(<>Xin nói lại cho rõ : VÔ CHẤP trong ĐẠO PHẬT là thanh tịnh sáng suốt…xác nhận lẽ vô thường !!! *Người giác ngộ thì không ôm cứng THỰC TẠI HẰNG BIẾN !. -Rồi họ thoát khung tư tưởng…ra khỏi chủ quan, đóng khung cho là “đúng”, hoặc không cầm tù suy nghĩ trong khuynh hướng thế tục gọi là “sai”, và ngay cả không vướng mắc trong cái “nửa đúng nửa sai”…chứ KHÔNG PHẢI họ chẳng biết ấy là thiện để cố gắng thực hành (tiến hóa), hay chẳng biết ấy là ác để luôn luôn tránh, (giải oan trái sa đọa) !
-Ai lạm dụng 2 chữ «phá chấp» để làm càng, “trộn lẫn” công phu đạo đức vào lười biếng tội lỗi…là kẻ phá hoại nếp sống cần tiến hóa của nhân loại, chúng sinh ! -Một lần nữa, xin minh bạch !).
<>Thứ bảy : Bậc Điều Ngự Trượng Phu (Purisa-dammasārathī).
*Nhóm chữ hán-việt «Điều Ngự Trượng Phu», mới nghe qua…chúng ta có cảm tưởng “ấy là một thân bộc của hoàng gia”. -Còn nếu truy theo nghĩa của chữ “Purisa-dammasārathī” (Pāḷī ngữ), thì ấy là “một viên lái xe ngựa rất giỏi”, -người ta còn gọi là “tay huấn luyện tuấn mã chuyên nghiệp…”. Nhưng trong kinh Phật thì nó hoàn toàn khác. Chữ “Purisa-dammasārathī”, được tạm dịch là “Điều Ngự Trượng Phu”, vốn chuyên chở một “phẩm cách tuyệt vời”. -Đó không phải là người dùng quyền lực…khuynh đảo tâm tư con người yếu thế, áp đặt vào khuôn khổ (giáo điều), -mà ấy là “một bậc đào tạo hiền tài” cho nhân loại, chúng sanh.
*PHẬT là một “Điều Ngự Trượng Phu” để làm cho thế gian có nhiều Thánh nhân (giải khổ), rồi lan tỏa đạo hạnh cứu độ muôn loài, tam giới (=Minh triết), chứ Ngài không phải kẻ chăn dắt chúng sanh sống trong lý thuyết hữu hạn ! -Bát Chánh Đạo mà Phật Thích-ca Mâu-ni nêu ra…là con đường trực chỉ “TỰ DO” siêu thoát !
*Đây là một ÂN ĐỨC (guṇa) không thể thiếu trong một Bậc Toàn Giác (Sammā Sambuddha). -Còn “ý nghĩa minh triết” (theo tự điển) của Điều Ngự Trượng Phu (Purisa-dhammasārathī) là “Bậc Vô Song Đào tạo” hằng lưu truyền pháp hành thiện thục, giải khổ, đủ hiệu lực phá vỡ “lưới sinh tử luân hồi” (saṃsāra-jala) của ma vương (mārarājā). -Hay Phật là “tay huấn luyện tuyệt luân” (thoát tam giới), không bao giờ sơ sót, trong một công phu xuất sắc nào cả !
<>Thứ tám : Thiên Nhân Sư (Satthā-devamanussānaṃ).
*«Thiên Nhân Sư» ở đây có tuy “nghĩa đen” là “Ông Thầy” (satthā) của chư thiên và nhân loại (deva-manussānaṃ). Nhưng trong nhà Phật, “Thiên Nhân Sư” còn ám chỉ một phẩm cách khác, đó là “Vị Đạo Sư” (hay bậc dẫn đường) hằng “cầm đuốc” (KHÔNG MÀU), soi sáng lộ trình tiến hóa thoát khổ cho toàn thể chúng sanh, đang vướng mắc giữa tam giới đầy cạm bẩy (rất hấp dẫn, đầy sắc thái), -nhất là những sinh linh nào còn quá nhiều tham sân si. -Và lộ trình tiến hóa ấy là phẩm tính “tri hành hợp nhất», -gồm BIẾT ĐÚNG (=chánh kiến lẫn chánh tư duy), và HÀNH ĐỘNG ĐÚNG (=chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, cùng chánh định).
–Đức Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni Buddha) xuyên qua “danh hiệu” nầy, chính là hiện thân của “ÂN ĐỨC phát quang” (raṃsī-udapādi), chứ không phải đơn giản là một “ông thầy” chỉ với khả năng khuyến khích hay cảnh báo học trò…trước thực tại si mê, lầm lạc, tiêu cực, suy đọa. -Ngài vừa là “Thiên Nhân Sư” vừa là Bậc Toàn Giác (Samāsambuddha) nên “ánh sáng soi đường” dẫn đến tri hành tiến hóa, luôn luôn hội đủ điều kiện cần thiết để GIẢI KHỔ !
-Một xã hội hữu thiện duyên, biết hướng đến Đức Phật là “Bậc Thiên Nhân Sư”, thì phải có nền giáo dục khai trí, chủ trưong phá tan ngu dân, và chận đứng được lạc hậu, vô minh…và đem khoa học tâm linh (giới định tuệ, chánh thiền) vào cuộc sống, hầu cải thiện tình trạng thả trôi…hưởng thụ vật chất một cách mù quáng…để sau cùng giảm thiểu sa đọa, gặt hái thăng hoa nhân loại.
<>Thứ chín : TOÀN TỊNH GIÁC GIẢ, gọi tắt là “Phật”(Buddho).
*“Toàn Tịnh Giác Giả” là cái TÊN “chế định”, tạm xem là phẩm tính kết tụ của một “nhân vật cực kỳ chân thiện mỹ” có TÂM THỨC tinh khiết tuyệt vời. Đây là “danh hiệu” (qui ước) gọi theo một số ngôn ngữ khác nhau, của các dân tộc sống trên phần đất giữa Ấn-độ và Trung-hoa. -Ngoài ra, chữ “PHẬT” (Buddha) còn là dạng “cải âm” của một “bí tự”, gọi là “Phô” <=> “Phộ” hay “Bụt” (Buddha) ! -Ấy cũng là một “tôn từ” khá phổ thông trong ngôn ngữ “hán-nôm” của người Việt, để ám chỉ “PHẨM CÁCH” (guṇa lakkhaṇa) của Ngài Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni), sau khi đạt thánh quả, hoàn toàn giác ngộ (Sammāsambuddha) cách nay hơn 2500 năm, tại Đông Bắc Ấn-độ (-nói căn cứ bản đồ theo địa lý ngày nay).
*Âm thanh “PHẬT” khi nghe thì rất quen tai, nhưng “nghĩa lý” của nó như thế nào, và nhất là “Phật lưu lại ấn tượng gì”, thì chúng ta cần phải tỉnh táo và khách quan tìm hiểu, chứ không thể “a-dua” theo số đông, tin “Phật là một đắng có quyền pháp hơn hết”. -Vì như vậy là vô minh, trái hẳn “Tôn chỉ Phật giáo”, không “sống thiện với trí tuệ” !
-Hiện nay, đã không ít người theo Thần học, cho rằng, “Phật” là một đấng “rất cao”, và trong chừng mực nào đó, có thể “ngang hàng” với “thượng đế”hay “tạo hóa”, -chẳng hạng như trong ngôn ngữ phổ thông, thường nói “Trời Phật chứng giám”. -Một số khác lại cho rằng “Phật” là “Bậc Linh Thiêng Nhất”, cai quản cảnh giới “cực lạc”, xung quanh có chư “bồ-tát” phò tá ! -Và “cõi cực lạc” ấy được hiểu là nơi mà phàm nhân (đang sống trong tình trạng xoay vần khổ/vui, hỗn hợp thuận/nghịch)đang “thành tâm” mơ ước được xuất hiện nơi ấy, vì ở đó -không đau khổ, -chẳng sai biệt, -chỉ có hạnh phúc đơn điệu, vô song, -không có gì so sánh bằng !(?)
-Nghĩa là “cảnh hạnh phúc một chiều”, do “vị Phật tàu”, mệnh danh là “A-di-đà”, ban cho sinh linh nào đã “nhất tâm bất loạn” hướng tư tưởng tuyệt đối về cõi ấy, và ngay khi chết…họ sẽ được Ngài đến rước ! -“Hạnh phúc vãng sinh” ở “cõi cực lạc” kia…không giống như cảm giác giải thoát giữa khổ và vui, giữa bóng tối và ánh sáng, hay giữa đêm và ngày…trong cõi đa dục, đa phiền…như trần gian…mà là một trạng thái của lý thuyết “thờ thì thiêng” !(?)
-Rồi người ta còn “duy linh một cách tinh vi hơn” là tin tưởng rằng, “Phật” là “vị quan tòa tối thượng”, có quyền “ban phước xá tội”, theo một “hệ thống dọc”như đỉnh kim tự tháp (=điểm cao vô song ở trung ương vũ trụ), không có duyên nghiệp nào tương tác cả, và mọi pháp ở đó cũng chẳng dựa trên vận hành hoán vị xoay vòng nào cả, nhất là “nó vượt trên” luật nhân quả, (-hay vượt lên trên cái…mà khoa học gọi là “phản động vì có động”) và “phật thờ thì thiêng”ấy, có thể cứu chúng sinh ra khỏi vòng trả vay” (?).
-Tất nhiên, “cõi cực lạc” không nằm trong 2 chiều khứ hồi, thăng đọa (theo quỉ đạo tinh thần hình cong). -“CỰC LẠC” nầy chẳng mang đặc tính “luân phiên, nghiệp quả”, trách nhiệm không “tự phản hồi” !(?)
<>Nhưng khi khi đi vào «MINH TRIẾT trong ĐẠO PHẬT», tất cả quan niệm nhân gian nêu trên, đều không phản ảnh Ân-Đức, hay “phẩm tính” của Bậc Giải Thoát. -Nhóm chữ “Toàn Tịnh Giác Giả” (hay bậc đoạn tận phiền não), chính là ám chỉ thành quả của công phu tu luyện tiến hóa (tri hành thực nghiệm), được tam giới xác nhận (xuyên qua vô lượng chu kỳ cải thiện), chứ không phải chỉ là một “phẩm tính triết luận” mà thế gian qui cho Đức Phật, để tôn vinh thần tượng (tương đương với mê tín)…do tham vọng cầu cạnh phúc lợi !
-Ngoài ra, tưởng cũng nên phân biệt rõ rằng, -những người tin Phật Thích-ca Mâu-ni, rồi luôn luôn noi gương Ngài, tự lực hành thiện, sống sáng suốt theo GIỚI ĐỊNH TUỆ, tâm tư thường xuyên hướng về cảnh giới vô tham vô sân vô si (toàn XẢ), thì bất cứ lúc nào…họ cũng tự biết “họ sẽ được…ánh sáng của Phật hướng dẫn họ về cõi thanh tịnh”. -Đó là một chân lý tiến hóa đầy “khoa học bát-nhã” !
<>Thứ mười : Bậc Thế Tôn (Bhagavā).
-Nói cách khác Phật là bậc trở thành “không uẩn” (=khandha natthi), hay dứt tập khí (āsava vimutti), -và “thoát tứ đại” (catu-mahādhātu nirodha). Đó là CHÂN PHÁP (Bhūta-dhammā) hay HỮU DƯ NIẾT-BÀN (upādiesa nibbāna), chứ không phải là “thần tượng” đạt “tư tưởng tánh không” (hoang đường) theo triết luận thế gian !
*Như 9 diễn tả trong lãnh vực MINH TRIẾT vừa qua, danh hiệu THẾ TÔN (Bhagavā) nầy…cũng biểu lộ một ÂN ĐỨC (guṇa), qui về Phật tổ Thích-ca Mâu-ni (Sakya Mu-ni Buddha), vốn không phải là sự “tôn sùng thần tượng” một chiều (phàm tình), mà là sự sáng suốt tôn kính, phối hợp với thiện duyên (kusala paccayā) trong hệ tương tác (paṭṭhāna)…xuyên qua vô số lần (kiếp sống)…-của một bên làTiền Thân làm Bồ-tát (Bodhisatvā) với đại nguyện cứu độ chúng sanh…trước khi Ngài thành Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, và bên kia là lòng tri ân chân thành của muôn vạn sinh linh, trong rất nhiều chu kỳ luân hồi, đã hợp cảnh và thuận duyên được tiếp độ !
-Nói chung, danh hiệu “Thế Tôn” ám chỉ sự chân thành của thế nhân bày tỏ “tâm ngưỡng mộ” tạm “thoát dịch” từ chữ “BHAGAVᾹ” của tiếng Phạn (Bhāratta). Nhưng ý nghĩa chính của “Bhagavā” là “bậc vượt khỏi”. Nếu phân tích nguyên ngữ, chúng ta sẽ có : -“GAVᾹ” là “đi qua”. -Tiếp đầu ngữ “BHA” là “siêu thoát”. -Và trong Phật học, “bhagavā” ám chỉ Bậc VƯỢT RA tam giới (aloka-udapādi), -hết tái sinh luân hồi, vĩnh viễn tịch tịnh.
*Nhưng hầu hết chúng sanh trong các cõi còn sắc (rūpa) và còn dục (taṅhā), nhất là loài người mang thân tâm hỗn hợp đầy tham sân si (lobha dosa moha), vẫn VÔ MINH nghĩ rằng, “Phật nhập vào vô dư niết-bàn (anupādisesa nibbana) là tuyệt diệt” (=biến mất). –Ác tư duy hay đoạn kiến (uccheda diṭṭhi) nầy rất khó hóa giải. -Thật đáng tiếc !
Qui nạp :
<>10 ân đức Phật chính là 10 ánh sáng không bụi, hay 10 tiếng chuông từ bi vô lượng…soi sáng và kêu gọi toàn thể chúng sanh, đang bơi lội trong biển khổ trầm luân…hãy thức tỉnh để tự lực quay về ! -ẤY cũng có thể xem là 10 tấm gương bác-nhã để phản chiếu lời nói và thực hành…nhằm làm cho tất cả sinh linh trải nghiệm giảm khổ, thăng hoa, và thoát khỏi tam giới !
————–