Bài I
TƯ CÁCH ĐỨC THÍCH-CA và PHẬT GIÁO.
(Qua cái nhìn của những Trí thức, Danh Nhân Thế Giới) :
*Nếu tôi lấy những kết quả triết học của tôi như là một thước đo chân lý, tôi phải thừa nhận rằng Phật Giáo đứng trên mọi tôn giáo thế giới. -Ở đó, bạn có thể ghi nhận là đức tin và kiến thức thì liên hệ với nhau như hai cán cân, khi cán cân bên này lên thì cán cân kia xuống
(Arthur Schopenhauer : 1788-1860, Triết gia Đức)
*Phật Giáo là một hệ thống tín ngưỡng không biết đến Thượng đế theo nghĩa Tây phương, không công nhận con người có một linh hồn và coi niềm tin vào sự sống vĩnh hằng là một sai lầm. Phật giáo dạy con người không tìm bất cứ ở đâu ngoài NỔ LỰC CỦA MÌNH để giải thoát, và trong sự tinh khiết nguyên thủy của bản thân, không bao giờ tìm kiếm sự giúp đỡ của chính quyền thế tục.
(Thomas Henry Huxley :1825-1895, Khoa học gia Anh)
*Cho nên, về thời điểm hầu hết các tôn giáo khác trên thế giới, đều trẻ trung đối với Phật Giáo. Cái tôn giáo đáng kính này, bao gồm sự vĩnh hằng của một niềm hy vọng phổ quát, sự bất diệt của tình thương yêu vô giới hạn, một phần bất khả phá hủy vào niềm tin tính thiện sau cùng, và sự khẳng định đáng hãnh diện nhất về SỰ TỰ DO của con người chưa từng có.
(Sir Edwin Arnold :1832-1904, Thi sĩ Anh)
***
*Tôi không nắm vững toàn bộ giáo lý nhà Phật, tôi sợ có thể sai, nhưng để bày tỏ quan điểm tổng quát của mình, tôi cảm thấy đã hiểu đủ giáo lý đạo Phật về “NGHIỆP BÁO”. Trên nguyên tắc, tôi rất đồng ý với giáo lý đó.
(William James : I842-I9I0, Triết Gia, nhà Tâm Lý Học Hoa Kỳ).
***
*Trong lịch sử, Phật Giáo là SỨC MẠNH của TÂM LINH, làm cho số lớn các sắc dân, ngăn cách bởi những chướng ngại về không gian, về ngôn ngữ và phong tục, và về các nền văn minh, xáp lại gần nhau. Động lực của Phật Giáo không nằm trong thương vụ quốc tế, không đồng lõa sự xây dựng đế quốc, không chịu áp lực bởi khoa học vật chất, nhất là chẳng liên quan đến sự thúc đẩy chiếm cứ những miền đất mới. Đó là một tôn giáo hoàn toàn BẤT VỤ LỢI để giúp nhân loại đi đến mục tiêu của mình (TỰ GIẢI THOÁT).
(R. Tagore : 1861-1941, Nhà Giáo Dục, Thi sĩ Ấn-độ, Giải Nobel)
***
*Phật chứng minh trong đời sống của Ngài những gì Ngài giảng dạy phải đều THỰC TẾ và HỢP LÝ, nên Ngài đã tạo một ảnh hưởng lớn trong nhân loại. Ấn tượng của Đức Phật trên nhân loại thật là sâu đậm đặc biệt…!
(Sir F. Younghusband : 1863-1942, nhà ngoại giao Anh)
***
*Ðức Phật, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, năm trăm năm trước Chúa Christ, đã dạy con người đức tính VỊ THA. Trong một số chiều hướng Ngài rất GẦN GŨI chúng ta, và đáp ứng được nhu cầu của con người. Ðức Phật cũng ÍT MƠ HỒ đối với vấn đề trường sinh bất tử của kiếp làm người.
(H. G. Wells : 1866-1946, Sử Gia và nhà Xã hội học Anh)
***
*Tôi không do dự mà tuyên bố rằng, tôi đã lấy rất nhiều cảm hứng từ đời sống của Đấng Giác Ngộ. Phật là một thông điệp cho toàn thể nhân loại, không chỉ cho Á Châu mà cho cả hoàn cầu. Á Châu phải học lại thông điệp của Đức Phật và trao tặng cho cả thế giới. TÌNH THƯƠNG YÊU không bờ bến của Đức Phật trải xuống đến cả những sinh vật thấp thỏi, cũng như cho con người. Nhất là Ngài nhấn mạnh đến SỰ THANH TỊNH của đời sống.
(Mahama Gandhi : 1869-1948, Lãnh tụ gương mẫu của Ấn-độ).
***
*Đối với tín nữu Ki-tô giáo, tình thương là đức tính quí nhất. Đối với người Phật tử, đó là TRÍ TUỆ, vì họ tin rằng VÔ MINH LÀ GỐC RỄ của mọi ác pháp. Tuy tình thương cũng được nêu cao, nhưng coi chừng tật ích kỷ. Sự KHOAN DUNG và LÒNG TỪ BI đều đặt căn bản trên trí tuệ của Phật Giáo. Ấy có lẽ là lý do chính, mà TRUNG ĐẠO của Đức Phật đã tồn tại tại qua hơn 2500 năm .
(Sir Charles Bell KCIE : 1870-1945, Nhà ngoại giao Anh).
***
*Giữa các tôn giáo lớn trong lịch sử, tôi thích Phật Giáo nhất. Phật Giáo là tổng hợp của DUY LÝ và MINH TRIẾT KHOA HỌC. Phật Giáo hưởng ứng khoa học và theo đuổi cứu cánh với duy lý. Trong Phật Giáo, chúng ta có thể tìm thấy những giải đáp cho những câu hỏi như “Tinh thần và vật chất là gì ? Cái gì quan trọng nhất ? Vũ trụ có tiến tới một mục đích nào không ? Vị thế của con người ở đâu ? Có sự sống cao quý không ?” Phật Giáo tiếp nối nơi mà khoa học không thể đi tới, vì những giới hạn của dụng cụ khoa học. Sự chinh phục của Phật Giáo là CHINH PHỤC TÂM THỨC CON NGƯỜI. Tôi cảm thấy rằng về phương diện trí tuệ và đức tính, Chúa Ki-tô không thể nào bằng. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ đặt Đức Phật và Socrates lên trên Chúa Ki-tô trên những phương diện này.”
(Bertrand Russell : 1872-1970, Triết gia toán học Anh, Giải Nobel).
***
*Là một chuyên viên về tôn giáo tỷ giảo, tôi tin rằng Phật Giáo là tôn giáo hoàn hảo nhất, mà thế giới chưa từng có.
(Dr C.C. Jung : 1875-1961, Nhà Phân Tâm Học).
***
*Ngày nay trong lãnh vực này, những bài Pháp của Đức Phật là một nguồn mỏ (để khai thác) phong phú và sâu sắc vô song. Nội dung tri thức trong giáo thuyết của Đức Phật chỉ là một nửa tác phẩm của Người, nửa kia là ĐỜI SỐNGGƯƠNG MẪU mà Người đã thực hiện, song song với những THÀNH QUẢ cho ĐỜI.
(Herman Hesse : 1877-1962, nhà văn Đức, giải Nobel).
***
*Về phương diện lô-gíc và đạo đức, thì Đức Phật đứng trên Chúa Ki-tô, còn triết lý của Đức Phật thì cao hơn những lời dạy trong Tân ước. Không giống niềm vui sướng thô thiển vĩnh viễn (trên thiên đường) và sự đày đọa đời đời (dưới hỏa ngục) của giáo lý Ki-tô. Giáo pháp về NGHIỆP rõ ràng là rất hòa hợp với khoa học hiện đại, về tính phổ quát của luật nhân quả và tính bền bỉ của tự lực.
(Beatrice Webb : 1881-1943, Kinh tế gia và nhà xã hội Anh).
***
*Phật Giáo thì HIỆN THỰC hơn các tôn giáo khác cả trăm lần. Khái niệm về thượng đế đã bị loại bỏ ngay lúc đầu, không có chuyện phải cầu xin ơn trên. Không có sự phân loại đầy tính cách bắt buộc. Và hoàn toàn không có sự cưỡng chế, ngay cả trong cộng đồng những người tu hành. Do đó Phật Giáo không chống lại các tín ngưỡng khác. Giáo lý đạo Phật không chống lại bất cứ cái gì, vì giáo lý đó chống lại sự trả thù và lòng đố kỵ.
(Frederick Nietszche (1884-1900), Triết Gia Đức)
***
*Đức Phật giảng dạy qua ĐÀM LUẬN, thuyết trình và các bài ẩn dụ. Người tuyên bố đã GIÁC NGỘ NHƯNG KHÔNG PHẢI LÀ DO LINH ỨNG. Người không bao giờ cho rằng một vị thần nào đó đã truyền cảm cho người. Trong cuộc trao đối quan điểm, Người đã tỏ ra kiên nhẫn và quan tâm đến kẻ đối diện, hơn bất cứ vị Thầy vĩ đại nào khác của nhân loại.
(Will Durant : 1885-1981, Sử gia Mỹ, Giải thưởng Pulitzer)
***
*Phật giáo là một PHONG TRÀO DÂN CHỦ. Đạo Phật tôn trọng dân chủ trong xã hội, và dân chủ trong chính trị.
(Ts. Ambedkar, người soan thảo Hiến Pháp Ấn-độ)
***
*Thật là một dấu hiệu đáng kể về tư duy tinh tế của người Ấn, rằng Đức Cồ Ðàm đã có cái NHÌN SÂU XA hơn những nhà duy tâm hiện đại vĩ đại nhất. Khuynh hướng về MỘT TƯ TƯỞNG GIÁC NGỘ ngày nay trên khắp thế giới không hướng về thần học, mà về triết học và tâm lý. Tiếng ồn ào của quan niệm nhị nguyên thần học đang trôi dạt vào hư vô. Dù cho những nguyên lý căn bản của THUYẾT TIẾN HÓA và NHẤT NGUYÊN LUẬN một thời đã được các nhà tư tưởng chấp nhận.
(Gs. J. Huxley : 1887-1975, Tổng Thư Ký UNESCO, nhà văn Anh).
***
*Tôn giáo lớn duy nhất, hấp dẫn đối với tôi là Phật Giáo, và theo tôi hiểu, thì tôn giáo đó là một MINH TRIẾT của nhân loại, một ĐƯỜNG SỐNG để cho con người xây dựng vận mệnh trên đó, thay vì là một tôn giáo theo nghĩa thông thường của thế giới.
(C. D. Broad : 1887-1971, Triết gia Anh).
***
*Đạo Phật là một tôn giáo của TỰ GIÁC, ít lễ nghi. Mỗi hành động được thực thi với chính sự suy tư trong sáng, thì tự nó đã điều kiện hóa để không còn là một hình thức. Phật giáo nhìn bề ngoài có vẻ nhiều nghi lễ nhưng thực ra không phải như vậy.
(Ts. W. F. Jayasuriya, trong cuốn « Tâm lý và Triết học Phật giáo« ).
***
*Phật Giáo đã BIẾN ĐỔI nền văn hóa nào nó được tiếp xúc, và Phật Giáo cũng HÒA MÌNH khi đi vào nền văn hóa đó. Phật Giáo đến với Tây phương có thể coi như là một biến cố xã hội quan trọng nhất trong thế kỷ 20.
(Arnold Toynbee : 1889-1975, Sử gia Anh).
***
*Quan niệm hiện đại về MỐI LIÊN HỆ TRI THỨC giữa CON NGƯỜI và VŨ TRỤ đã được Đức Phật minh giải, qua giáo lý đạo Phật, rằng sự ham muốn là nguồn gốc của ảo tưởng. Khi con người vượt thắng được sự ham muốn, thì đầu óc con người mới thoát khỏi ảo tưởng. Điều này đúng không chỉ đối với nhà khoa học, mà còn đúng với người nghệ sĩ hay triết gia. Sự vô chấp hoàn hảo biến những ai thoát nó, không chỉ là biểu lộ lòng từ bi, mà còn trở thành thông minh, để nhận thức những nội dung tổng quát trong mỗi hành động. Nhận biết qua cá thể trong một hệ thống, các mối liên hệ với xã hội và vũ trụ, con người chỉ là 1 phần tử. Về phương diện này, Phật Giáo đã tự chứng tỏ là dứt khoát vượt lên trên…”.
(Aldous Huxley : 1894-1963, Tư tưởng gia, nhà viết kịch Anh).
***
*Có thể có một ý nghĩa to lớn trong sự kiện là Pythagore ở Hi Lạp và Đức Phật ở Á Đông đã sinh ra cùng thời vào thế kỷ 6 trước Tây lịch. Cả hai đều là những con người HOẠT ĐỘNG HÙNG MẠNH, NHẬN THỨC SÂU SẮC, thoát ra khỏi một quá khứ lịch sử, mà trong đó chỉ có các vua chúa mới đáng kể, còn con người chỉ là những sinh vật bất hạnh chịu hy sinh. Họ đã cung cấp cho nhân loại những lợi khí của TOÁN HỌC và TRIẾT LÝ quí báu, để cho con người xử dụng vĩnh viễn.
(Buckminster Fuller : 1895-1984, Nhà phát minh và triết gia Mỹ).
***
*Nếu tôi biết là Đức Phật sẽ thuyết giảng ở đây ngày mai, thì không có gì trên thế gian này có thể ngăn cản tôi đến nghe Ngài. Và tôi sẽ theo Ngài suốt đời.
(J. Krishnamuri : l895-1986, Triết Gia Ấn-độ)
***
*Người Tây phương mới đầu đến với Phật Giáo có thể quen thuộc, giống như khoa học hiện đại, khác với thuật ngữ Ki-tô giáo. Nhưng chúng ta nên luôn luôn ghi nhớ trong đầu rằng, Đức Phật không quan tâm đến sự hiện hữu hay không hiện hữu của một Đấng Tối Cao, hay bất cứ đề xuất triết lý trừu tượng nào. Phật chỉ quan tâm đến CON ĐƯỜNG THỰC TIỄN, theo đó SỰ KHỔ CÓ THỂ GIẢM hay CHẤM DỨT trong đời này hay đời sau.
(Marie B. Byles : 1900-1979, nhà văn Úc)
***
*Phật Giáo giúp con người tìm ra GIẢI ĐÁP cho HIỆN HỮU của mình, tuy nhiên giải đáp đó không mâu thuẫn với SỰ HỢP LÝ, sự hiện thực, và TÍNH ĐỘC LẬP, cũng như những thành quả quý báu của con người hiện đại. Nghịch lý thay, tư tưởng tôn giáo Đông phương lại thích hợp với tư tưởng thuần lý của Tây phương, hơn là tư tưởng tôn giáo của chính Tây phương.
(Erich Fromm : 1900-1980, nhà Phân Tâm Học và triết gia Đức).
***
*Phật giáo là MỘT HỆ TƯ TƯỞNG, một tôn giáo, mộtKHOA HỌCTÂM LINH, một lối sống hữu lý, THỰC DỤNG và BAO QUÁT. Trong hơn 2500 năm Phật giáo đã thỏa mãn nhu cầu tinh thần của gần một phần ba nhân loại. Tôn giáo này hấp dẫn đối với những người đi tìm CHÂN LÝ, vì Phật giáo không có những tín điều, do đó đáp ứng được những nhu cầu về trí khôn cũng như về tâm linh của con người, nhấn mạnh về lòng tự tin đi đôi với độ lượng, đối với những quan điểm khoa học, tôn giáo, triết học, tâm lý học, huyền nhiệm, đạo đức, và ngay cả mỹ thuật, luôn luôn nhắm vào con người là kẻ sáng tạo ra đời này của mình, và là kẻ phác họa ra số mạng tương lai.
(Christmas Humphreys : 1901-1983, Thẩm phán nổi tiếng Anh).
***
*Phật giáo thực sự không phải là một chủ thuyết (một “ism”). Phật giáo là một QUÁ TRÌNH lành mạnh, một sự TỈNH THỨC, một sự mở rộng lòng, một tinh thần tìm hiểu, -không phải là một hệ thống đặt tất cả trên niềm tin, hay ngay cả (như chúng ta thường hiểu) là một tôn giáo. Đúng hơn phải gọi Phật Giáo là “LỜI GIẢNG DẠY CỦA BẬC THẦY GIÁC NGỘ HOÀN TOÀN TỈNH THỨC”.
(Gs. Steve Hagen, trong cuốn “Phật Giáo, rõ ràng và đơn giản”).
***
*Sự TIẾN HÓA của con người chắc chắn là bắt đầu bằng cách phát triển đôi tay, đồng thời với sự hướng dẫn của khối óc, đặc biệt bộ óc dùng để điều khiển đôi tay. Chúng ta cảm thấy vui sướng trong những tác phẩm của chúng ta, cho nên đối với nhà mỹ thuật bàn tay là một biểu tượng. -Chẳng khác nào bàn tay của Đức Phật, Ngài đã để lại cho con người món quà tặng rất quí, trong một cử chỉ an lạc, MÓN QUÀ ấy gọi là VÔ ÚY.
(J. Bronowski : 1908-1974), nhà văn, Triết Gia Khoa Học Mỹ).
***
*Là một Phật tử, tôi được đào tạo để có TINH THẦN KHOAN DUNG với mọi thứ. Tôi được nuôi nấng không chỉ để phát triển tính đại đồng, mà còn trân quý những giá trị tâm linh và đạo đức, đặc biệt là sự khiêm nhường, nhân ái lẫn từ bi, và quan trọng nhất là đạt tới một trình độ nào đó, về cân bằng thân tâm.
(U Thant : 1910-1974, nhà giáo dục, ngoại giao Miến Điện,
Cố Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc).
***
*Trong khi những người theo chủ nghĩa vật chất, chỉ quan tâm đến hưởng thụ, thì Phật giáo quan tâm đến sự GIẢI THOÁT ĐAU KHỔ. Nhưng Phật giáo là “TRUNG ĐẠO”, cho nên Phật giáo không đối kháng với sự thoải mái về vật chất. Phật giáo xác nhận rằng, “không phải của cải ngăn cản con đường giải thoát, mà là sự vướng mắc vào của cải”, “không phải là sự hưởng thụ những thú vui lành mạnh, mà là sự say mê những thú vui này”.
(Ts. E. F. Schumacher, CBE : 1911-1977, ký giả, kinh tế gia, cố vấn tổ chức British Rhodes Scholar).
***
*Phật giáo là một TÔ GIÁO CỦA TÂM LINH hơn là một định chế tín ngưỡng có tổ chức. Phật giáo không đặt mục đích trên tính giải thoát thần học mà là sự làm SÁNG TỎ TÂM THỨC. Phật giáo là một cách sống hơn là con đường thờ phượng.
(Lm. Thomas Merton : 1915-1968, nhà phê bình xã hội Mỹ).
***
*Phật giáo BẮT ĐẦU TỪ CHỖ KHOA HỌC DỪNG. Vì ở đó, khoa học không cho chúng ta biết xa hơn. Nhưng Phật giáo cũng có thể đáp ứng sự thách thức của thuyết nguyên tử, vì kiến thức trên mức bình thường của Phật giáo, bắt đầu ở nơi mà khoa học phải dừng. Và điều này khá rõ ràng cho bất cứ ai đã nghiên cứu Phật học. Bởi qua thiền định, những cấu tố cỡ nguyên tử tạo thành vật chất đã được khám phá, và những sự khổ, với sự sinh và diệt của chúng, đã tự tạo ra trong cái mà chúng ta gọi là linh hồn hay ngã – ảo tưởng của chấp ngã, như giáo lý của Đức Phật dạy.
(E. C. Baptist : 1915-1983, học giả cuốn “Khoa học tuyệt vời của Phật”)
***
«Ðức Phật là hiện thân của mọi đức hạnh. Trong suốt 45 năm trường hoằng pháp, Ngài đã chuyển những lời nói thành hành động, không khi nào Ngài buông thả theo cái yếu đuối hay dục vọng thấp hèn cuả con người. Đạo đức căn bản của Đức Phật là giáo lý toàn hảo nhất, mà thế giới chưa bao giờ biết đến».
(Ts. S. Radhakrishnan)
***
*Khi chúng ta đọc những bài thuyết giảng của Đức Phật, chúng ta cảm kích bởi tính khoa học. Bài Pháp đầu tiên cuả Ngài là các quan điểm thuần lý. Ngài đã cố gắng quét sạch tất cả những màng nhện mờ ảo giăng mắc, đã từ lâu từng ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân loại.
*Sự thanh tịnh của tâm linh và lòng thương yêu tất cả chúng sinh, đã được dạy dỗ bởi Đức Phật. Ngài không nói đến tội lỗi mà chỉ nói đến vô minh và điên cuồng, là những chứng bệnh có thể chữa khỏi bởi sự giác ngộ và lòng từ bi.
(Ts. S. Radhakrisnan, trong cuốn “Ðức Phật Cồ Ðàm”)
***
«Ðiều đáng chú ý nhất nơi Đức Phật, là sự kết hợp gần như độc đáo, của một đầu óc KHOA HỌC, THANH TỊNH, và lòng thiện cảm sâu xa do TỪ TÂM. Thế giới ngày nay càng ngày càng hướng về Đức Phật, vì Ngài là người duy nhất, tiêu biểu cho lương tâm chia xẻ niềm đau của nhân loại».
(Moni Bagghee, trong cuốn “Ðức Phật Của Chúng Ta”.
***
«Không một lời thô bạo nào được thốt ra từ Đức Phật. Chưa từng có một lời khiếm nhã trên môi Đức Phật, kể cả trong lúc tình cờ».
(Gs. Max Miller, Học giả Ðức).
***
*Trên mặt đất mênh mông của thế giới, vận mệnh nhân loại vẫn tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây phương, qua cảm hứng về tinh thần, giáo lý căn bản của Ðức Cồ-đàm được phục hung, và điều đó có thể chiếm một vị trí lớn trong hướng đi của vận mệnh nhân loại. Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải huyền thoại. Tôi cảm thấy Ngài là một Con Người, và đã gửi một thông điệp cho nhân loại trên hoàn cầu, trong đó có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại rất gần gũi, tương đồng với lòng từ bi”.
*Tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy, là do lòng ích kỷ cuả bản ngã. Lòng ích kỷ có ba dạng :
1.Tham vọng thỏa mãn cảm giác,
2. Tham vọng muốn bất tử,
3. Tham vọng thành công.
*Muốn trở nên thanh tịnh, người đó phải ngưng nô lệ giác quan, không sống cho riêng mình. Người đó mới trở thành bậc đại nhân.
*Ðức Phật, hơn 500 năm trước Thiên chúa, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau đã dạy cho con người tính vị tha. Trong một số chiều hướng, Ngài rất gần gũi và đáp ứng được nhu cầu của con người.
(H.G. Wells : 1866-1945, Sử gia Xã hội học Anh)
***
*Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đức Phật đã tuyên bố tự giải thoát. Theo Ngài, mỗi người có thể đạt được điều đó do chính nổ lực bản thân, ngay trong đời sống này, mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thánh thần nào cả. Giáo lý cuả Ngài biểu lộ lòng tự tin, tâm thanh tịnh, sự giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của tri thức, vì không có trí tuệ thì SIÊU LINH NỘI TÂM không thể biểu lộ được.
(Gs. Eliot, trong cuốn «Phật giáo và Ấn Ðộ giáo»)
***
*Ðức Phật không chỉ nhận thức được SỰ THẬT TẬN CÙNG, Ngài còn biểu lộ TRÍ TUỆ TINH KHIẾT, cao hơn tất cả kiến thức của các « Thần linh và Con Người ». Trí tuệ của Ngài rõ ràng và độc lập, chẳng những không liên can gì đến thần linh hoang đường, mà còn rất vững vàng, tự hiển lộ một cách tự nhiên qua tư cách. Vì lý do đó, Đức Phật rất tự tin, không hoang mang, nhưng hứa hẹn nhiều tri kiến sáng suốt».
(George Grimm, trong cuốn “Giáo Lý của Đức Phật”).
***
«Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Đức Phật khuyến dụ và kêu gọi con người không nên làm hại sự sống, không nên cầu nguyện, ca tụng và hy sinh (tính mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện, Ngài đã có lần vô ngại tuyên bố rằng, “Thần linh cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ”. Sau khi quan sát mọi hệ thống các tôn giáo trên thế giới, tôi khám phá ra không một tôn giáo nào có thể vượt qua sự quán triệt, như Bát Chánh Đạo và Tứ Diệu Đế của Đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đã ứng dụng “con đường đó”.
(Gs. Rhys Davis : 1843-1922, Gs. Đại học Anh).
***
*Ðức Phật không thể giải thoát tham sân si cho ai cả. Ngài dạy con người phải tự mình giải thoát mình, cũng như chính Ngài đã tự giải thoát Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài, không phải vì giáo lý này đến từ Ngài, mà vì lòng xác tín nơi cá nhân, được thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy. Đó là chân lý trỗi dậy do ánh sáng trí tuệ nơi chính mình.
(Ts. Oldenburg, Học giả Ðức).
****
«Dường như người thanh niên hiền lành, thanh tịnh ngồi xếp bằng trên pháp tọa hoa sen, với bàn tay phải dơ lên như vừa khuyên nhủ vừa trả lời rằng « Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy luyện tập trí tuệ và từ bi ».
(Anatole France).
***
*Nếu chúng ta hỏi có phải vị trí 1 hạt nhân điện tử lúc nào cũng giữ nguyên dạng không thay đổi. Câu trả lời là «không». Nếu chúng ta hỏi có phải vị trí của 1 hạt nhân điện tử thay đổi theo thời gian. Câu trả lời là “không”. Nếu chúng ta hỏi có phải hạt nhân đó đang di động, chúng ta phải trả lời “không”. Ðức Phật cũng đã giải đáp như vậy khi có người hỏi về bản ngã của con người sau khi chết. Nhưng những câu trả lời như trên không phải là những câu trả lời quen thuộc theo truyền thống khoa học ở thế kỷ 17 và 18».
(J.Robert Oppenheimer : 1904-1967, Vật lý gia Hoa Kỳ).
***
*Nếu một vấn đề cần được đề ra, vấn đề đó phải được giải quyết trong hài hòa và dân chủ theo đường lối dạy bảo của Đức Phật. Trong thế giới giông tố và xung đột, đầy hận thù và bạo lực, thông điệp của Đức Phật sáng chói như vầng thái dương. Có lẽ không bao giờ thông điệp của Ngài lại thiết yếu, như trong thời đại của thế giới nhiều bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Đạo Phật trải qua hơn 2500 năm đã tăng thêm sinh khí và chân lý của thông điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt ấy, và cố gắng phát triển bằng tư tưởng và hành động của mình, theo ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải tập bình thản đương đầu, ngay cả với sự khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ cuả mình trong việc thực tập nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp)».
(Thủ tướng Nehru, Ấn-độ :1889-1964).
***
«Trên quả địa cầu này, Phật đem đến những chân lý có giá trị trường cửu, để thúc đẩy đạo đức, tiến bộ không chỉ riêng cho Ấn-độ, mà cho cả nhân loại. Ðức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại chưa từng thấy có trên hoàn vũ».
(Albert Schweizer : 1875-1965, nhà Thần học, Triết gia Pháp).
***
«Ðức Phật không phải là vị Thầy riêng cuả Phật tử. Ngài thuộc về toàn thể nhân loại. Giáo lý hữu ích của Ngài, thông dụng cho mọi người. Tất cả tôn giáo khai sáng sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều tư tưởng của Ngài».
(Một học giả Hồi Giáo).
***
*Ðức Phật là người cha nhìn thấy đàn con đang vui chơi gần ngọn lửa thế tục nguy hiểm. Ngài dùng mọi phương tiện để cứu các con ra khỏi ngôi nhà lửa, và hướng dẫn chúng đến nơi bình an, “niết bàn”. Nói về Đạo Phật, chúng ta có thể xác nhận đó là tôn giáo không cuồng tín, và khuyến khích mỗi cá nhân tự chuyển hóa nội tâm bằng cách chiến thắng chính mình, chớ không thể nhờ đến sức mạnh hay tiền bạc. Ðức Phật chỉ rõ một con đường giải thoát duy nhất để cho cá nhân tự quyết định, khi họ muốn.
(Gs. Lakshmi Nasaru, «Tinh Hoa của Phật giáo»).
***
*“Ðọc kỹ Phật giáo là biết rằng hơn 2500 năm trước, Đức Phật đã nắm vững tâm thức con người, và đã chứng minh là đúng, về những vấn đề tinh thần, mà con người hiện đại còn đang tiếp tục tìm hiểu. Phật tử nào đã nghiên cứu giáo lý từ lâu, tất nhiên đã tìm thấy câu trả lời cho vấn đề : “muốn tiến hóa phải làm gì ?”.
(Ts. Graham Howe)
***
*Phật giáo chưa bao giờ bắt ai tin theo, dù dưới bất cứ hình thức nào, hoặc ép buộc tư tưởng và niềm tin, hay bằng một sự tâng bốc, lừa gạt, ve vãn nhằm can thiệp vào quan điểm riêng tư của con người. Những nhà truyền giáo đạo Phật không bao giờ tuyên truyền, dành giựt đệ tử như nơi buôn bán.
(Ts. G. P. Malasekara).
***
*Không thể cho rằng Phật giáo bị suy yếu trong hiện tại vì Phật giáo dựa trên những nguyên tắc cố định, bất biến.
(Gertrude Garatt).
***
*Người ta có thể bị thu hút ngay từ đầu bởi sự khoáng đạt của Phật giáo, nhưng người ta chỉ có thể tán dương giá trị thực sự của đạo Phật, khi người ta đã xem xét kỹ kết quả lành mạnh, tạo ra thông qua đời sống hàng ngày của hành giả».
(Ts. Edward Conze, Học giả Phật giáo Tây Phương).
***
*Phật giáo vẫn đứng vững cho đến ngày nay, mà không bị đào thải bởi thời gian và sự tăng trưởng kiến thức. Dù cho kiến thức khoa học tiến bộ đến mức nào trên chân trời lý trí, Phật Pháp (Dhamma) cũng vẫn được nhìn nhận là thích hợp với các khám phá càng ngày càng sâu xa. Vì giáo lý nhà Phật không dựa vào những khái niệm giới hạn bởi tư tưởng cố chấp, và cũng không bị lệ thuộc vào những phủ định của tư tưởng phàm tục.
(Francis Story, «Phật giáo, Tôn Giáo Thế Giới»).
***
*Phật giáo là một phương thức để đạt được lợi lạc cao nhất từ cuộc sống. Đó là một tôn giáo của trí tuệ, mà ở đấy kiến thức và sự thông thoáng chiếm ưu thế. Ðức Phật không thuyết giảng để thâu nạp tín đồ mà là để soi sáng người nghe.
(Văn Hào Tây Phương).