Tật sợ sệt là bản năng cố hữu của tất cả chúng sinh, từ một con vật nhỏ nhất cho đến một con vật lớn nhất, đều mang nhược điểm nầy. Ðối với loài người, tính sợ sệt lại chính là “thước tấc đo lường”, hay « lằn mức phân ranh » giữa thiện tính và ác tính. Khi thiện tâm thắng thế, thì sự sợ sệt tội lỗi lại đối lập với phía ác tâm, còn khi ác tâm thắng thế, thì sự sợ sệt mất lợi liền coi thường thiện tâm, lấn lướt chính ý.
Ví như một người ngoan đạo, thì luôn luôn sợ làm điều tội lỗi. Trường hợp họ lỡ gặp một hoàn cảnh “bất khả kháng” nào đó, phạm phải điều răn cấm, thì sau ấy họ luôn luôn để bụng lo sợ, và không ngừng tìm cách làm lành, «chuộc tội».
Nhưng sự nơm nớp lo sợ nầy chính là “dịp tốt”, để cho ác tính khai thác, tăng cường tầm hoạt động. Rồi ác tính triệt để lợi dụng tính sợ sệt ấy, để tấn công thiện tánh, bằng cách làm cho mức lo sợ càng lúc càng gia tăng. Sự lo sợ gia tăng đến nỗi mà nạn nhân không còn tin vào sự phán đoán của chính mình nữa. Hoặc lo sợ gia tăng đến nỗi mà họ phải tìm kiếm một tha lực quyền năng, để dâng lễ xin được xá tội. (Một hình thức hối lộ).
Từ đó sinh ra thói quen tà kiến, mê tín dị đoan. Người ta há đã chẳng thấy nhiều bộ lạc, nhiều tôn giáo đã thực hiện những điều ác nầy để giải trừ những điều ác kia. Chẳng hạng như họ đem thiêu sống đồng nam đồng nữ, để tế lễ thần thánh, hầu mưu cầu sự bình an. Hoặc chẳng hạng như người ta cũng thấy họ trịnh trọng chặt đầu thú vật, như dê cừu, trâu, bò, gà, vịt.. v.v…để lấy máu tươi cúng tế các huyền năng “linh thiêng”.(?)
Nếu sự sợ sệt là chất xúc tác, để cho ác tính ẩn mình khuynh đảo, rồi tung « khói vô minh » vào tâm thức con người, khiến họ trở thành tà kiến tin càng, thì cũng chính sự sợ sệt lại là “chất dẫn điện”, giúp cho thiện tánh trực tiếp đánh thức trí tuệ của con người, qua khuynh hướng tránh khổ (sợ hậu quả của tội lỗi), hầu vẹt tan bức màng âm độc của ác tính, và đưa họ trở về với thiện tâm.
Trong một số cách diễn tả tượng hình của Phật Giáo. Chẳng hạng như nói « người thích sát sinh thì sau khi chết, thần thức sẽ rơi vào địa ngục, phải bị oan hồn đến đòi mạng, giết đi giết lại không biết bao nhiêu lần, để trả quả v.v…. » hẳn hoi là cách phản dụng soi sáng từ thiện tánh, trước tính sợ sệt của con người, xuyên qua định luật nhân quả, để giúp con người, vì sợ trả quả ác mà phải quay về nẻo tốt.
Ngoài ra, cũng có những sợ sệt vượt khỏi tư thức của loài người. Nghĩa là những sự sợ sệt không phải do mặc cảm tội ác, hay do mặc cảm phạm thánh, mà là phát sanh do thiên nhiên đe dọa. Chẳng hạng như người ta sợ sệt thú dữ, sợ sệt hạn hán, sợ sệt hỏa hoạn, sợ sệt đại hồng thủy (lụt lớn), sợ sệt sóng thần, sợ sệt núi lửa, động đất.. v.v…
Trước các sự sợ sệt ấy, ác tính càng có thể khuynh đảo hơn nữa. Nó lợi dụng đến độ mà kết quả tà kiến trên thế gian, không phải chỉ có một, mà có cả đến hàng trăm. Từ một tà kiến nhất thần giáo (độc tôn chúa tể tạo hoá), nó đưa con người đến tà kiến đa thần giáo (đa năng, đa quyền), khiến người đời vì sợ sệt, tôn thờ đủ thứ.
Chẳng hạng như ngoài các “hung thần” thông thường, là thần mặt trời, thần mặt trăng, thần lửa, thần nước, thần gió, thần mây, thần sấm sét, thần rắn, thần cọp, thần chim, thần khỉ, thần voi.v.v…, ác tính còn đẻ thêm một lô các thần khác, có hình thức dường như để “che chở” con người, như thần cây, thần núi, thần đất, thần hang, thần động, thần đao, thần búa, thầm kiếm.v.v.., vì với những “thần vật” nầy, con người nhiều khi có thể, tùy trường hợp xử dụng, tránh thoát được các hoạn nạn, hay hung thần kia.
Nói tóm lại, ác tính có khá nhiều phương tiện, để lung lạc tinh thần hầu hết nhân loại. Tiêu biểu trong phần nhân loại nầy, là có một số người vừa đi chùa, vừa đi nhà thờ, vừa đi đền Hồi giáo, vừa đi lăng miếu.v.v...Vì họ nghĩ rằng sau khi chết, nếu lỡ lạc vào cảnh nào, họ cũng sẽ được cứu giúp, vì họ đã từng “tạo công đức” theo đạo ấy. (?)
Tuy ác tính lộng hành dưới muôn hình vạn trạng như vậy, nhưng thiện tánh không phải vì thế, mà mất đi khả năng bất diệt của nó.Thời đức Phật còn tại thế, trong khi những sự sợ sệt trước thiên nhiên, và vì mê tín nói trên, sự sợ sệt của con người đã được các tôn giáo khác « khử trừ » bằng phù phép, bằng tế lễ, và bằng bùa chú, thì đối với Phật Giáo, phương pháp hóa giải hữu hiệu nhất, không gì khác hơn là chánh tín. Ðể khỏi sợ sệt, đức Phật đã trang bị tinh thần cho những ai tin theo Ngài bằng những « lời kinh bình an » (Paritta Sutta).
Trước các thiên tai như vậy, thay vì khấn đọc những lời khó hiểu (như thần chú của Bà-La-Môn giáo chẳng hạng), hay hiến dâng đồng trinh nam nữ, cầu xin « thượng đế » bớt nổi giận, thì đức Phật đã khuyên các hàng Phật tử hãy nhất tâm bất loạn, trì tụng nhiều câu kinh rất chính đáng, và đầy ý nghĩa khai sáng thiện tâm, hay thiện trí.
Bằng chứng là trong Hạnh Phúc Kinh (Mangalasutta), tức kinh « dùng lời lành để chế thắng điềm dữ », chúng ta đã tìm thấy những lời chân chánh như sau:
« Bahusaccañca, sippañca, vinayo ca,
susikkhito, subhãsitã, ca yãvãcã.
Etaŋ mangalamuttamaŋ ! »
Ðoạn kinh nầy có thể tạm dịch là :
“Tình trạng được học hỏi rộng rãi,
Tư cách tinh thông trong nghề nghiệp,
Sự am tường kinh luật của các bậc sa môn và thiện sĩ,
Ðức hạnh luôn luôn nói lời chơn chánh.
Ðây chính là bốn điềm lành
phát sinh hạnh phúc trong Phật Giáo”.
Lúc đức Phật còn tại thế và ngay cả bây giờ, hai chữ điềm lành thường được người đời hiểu biết như là một cái gì mê tín. Nhưng đối với Phật Giáo « điềm lành » chính là lời thiện phát ra từ tâm thanh tịnh của từng cá nhân, có thể khử trừ các sự dữ, để đóng góp vào nền bình an chung của cộng đồng xã hội. (Theo Gihĩ Maṅgalikã.Vinaya II 140).
(Trên đây soạn giả chỉ xin mạn phép chép ra 4 trong 38 « lời kinh hạnh phúc » mà thôi. -Ai muốn đọc hết 38 Pháp an lành còn lại, xin xem phần phụ lục ở cuối quyển sách nầy !).
Và giả dụ như mỗi người trong xã hội mà thường xuyên trì tụng, nhất tâm bất loạn, và thực hành đầy đủ 38 pháp an lành ấy, thì toàn thể cộng đồng sẽ được hạnh phúc biết bao. Vả lại, ngay cả trước khi đem thực hiện những pháp an lành nầy, người Phật tử trong khi chỉ thành tâm tuyên đọc thôi, cũng đã cảm thấy tâm hồn thấm nhuần phúc âm, mở rộng tư duy, thần trí thanh thoát.
Sâu sắc hơn nữa, người nào thành tâm, chiêm nghiệm, thưởng thức được giá trị của 38 kim ngôn ấy, thì chắc chắn họ sẽ được bình an, được thanh tịnh che chở. Vì năng lực thanh tịnh che chở ấy không phải do tính bấn loạn, hay hiếu thắng tác động, mà là do thần lực an trụ, và đức hiếu hòa, mở rộng thiện tâm phát xuất. (Dhammo have rakkhati dhamma cãriŋ).
***