TIÊU DIỆT ÁC TÍNH

Ở cuối bài kinh Niddesa kể ra 11 loại «ma quân» vừa nêu, có một đoạn kết luận rằng : « Chỉ khi nào hành giả đánh bại hết 11 thứ ma quân nầy, thì mới có thể đạt được chân hạnh phúc”. (Jetvã ca labhate sukhaŋ).

Chính đức Phật và chư thánh A La Hán là những bậc đã làm được việc đó, nghĩa là các ngài đã nhận diện rõ 11 cách biến hóa khác nhau của ma vương bằng chánh định, nên các ngài không còn rơi vào trong màng lưới cám dỗ của chúng nữa.

Ngoài ra, kinh Pháp Cú cũng có khuyên người tu Phật nên dùng trí tuệ chân chánh để chiến đãu với ma vương (màra). (Yodhena mãraŋ paññãvudhena. -Dhpd.No 40). Soạn giả xin phép không nhắc lại, có lẽ quí vị cũng thừa biết rằng ma vương ở đây chính là ác tính.

Bây giờ chúng ta hãy bàn qua : « Thái độ của người Phật tử đối với ác tính như thế nào ? » Ðức Phật đã chỉ cho chúng ta một thái độ hết sức tích cực. Ðó là người Phật tử không nên tránh né hay phủ nhận sự hiện hữu của ác tính trong bản thân mình, để luôn luôn cảnh giác, kiểm soát sự kích thích của « nội ma ».

Người Phật tử cũng không yếu hèn lo sợ, rồi tìm cách « hòa giải » với ác tính, nghĩ rằng « nhân chi sơ tính bổn thiện », (tức là khởi đầu không có nội ma), và chỉ sợ “ngoại ma” bằng cách tôn thờ một tha lực toàn năng nào đó, để nhờ tha lực ấy « ngăn cấm » không cho ngoại ma xâm nhập, tác quái.

Trái lại, thái độ đích thật của người Phật tử là thanh tịnh cảnh giác, và can đãm sẵn sàng chiến đấu, vẹt tan màng vô minh, làm chủ tâm thức, không cho ác tính nội tại (hay ma vương) trong ngũ uẩn (=sắc, thọ, tưởng, hành thức) lộng hành theo ý muốn của nó.

Khi ác tính càng bị tê liệt, thì chân tâm của hiền giả càng được củng cố, và khi chân tâm càng được củng cố, thì trí tuệ trong chánh định càng được phát triển, để bước vào lộ trình giải thoát. Cái lộ trình (Thánh Lưu) giải thoát, theo Phật giáo tuy chỉ có bốn bậc, nhưng muốn bước lên được một cách vững chắc, không phải là chuyện dễ. Bốn bậc ấy là :

1-Tinh tấn ngăn ngừa những ác tính chưa phát sinh, không để sẽ phát sinh.

2-Tinh tấn làm yếu đi, rồi tiêu diệt những ác tính đã có, không để tồn tại hay dư sót.

3-Tinh tấn làm cho những thiện tánh chưa phát sinh, nhất định sẽ phát sinh.

4-Tinh tấn bảo vệ và phát triển đến tối đa những thiện tánh nào đã và đang có.

(Theo Saŋyutta Nikãya:Tạp Bộ Kinh. V. trg 268)

Trên đây là về phương diện cá nhân, tức tiểu thể. Còn về phương diện đại thể, như quốc gia dân tộc thì sao ? Những ác tính trong một dân tộc chính là hậu quả của những ảnh hưởng “văn hóa” ngu dân, bất chính. Một quốc gia mà càng ngày càng suy đồi đen tối, là một quốc gia bị cai trị bởi những phần tử vô thần, cuồng tín (hay mê tín), đầy tham vọng.

-Vô thần thì họ không tin vào giá trị tâm linh, nên không có đạo đức. -Cuồng tín hay mê tín, thì họ chỉ biết bảo vệ quyền lợi và thế lực của tôn giáo họ, đảng phái họ, chứ họ không kể gì đến quyền lợi, nguyện vọng chung của toàn dân. -Ðầy tham vọng, thì họ không có đức tin nhân quả chân chánh, không biết cách mạng bản thân, luôn luôn lợi dụng thế lực nhà nước, để thủ lợi riêng, tom góp tiền bạc, chiếm đoạt công sản, cho cá nhân hay cho gia đình mình.

Nêu ra đây vài ác tính tượng trưng thôi, chỉ một vài ác tính (hay tật xấu), như vô thần, cuồng tín, mê tín và tham vọng, đã đủ làm cho xã hội trở thành một cõi đau khổ cùng cực rồi, huống chi nói đến muôn ngàn ác tính vi tế khác ?

Khi đức Phật còn tại thế, Ngài cũng đã nhiều lần đề cập đến chuyện nầy, trước các đại thính chúng, ở những nơi có đầy đủ mọi từng lớp xã hội. Trong một bài Kinh có tên tạm dịch là « Bổn phận của người dân đối với các hàng lãnh đạo quốc gia, và bổn phận của những giới cầm đầu đối với đất nước », Ðức Phật đã dạy:

« Attaññàce tathà kariyà,

Yathañña manussati ! »

Nghĩa là « Khi đứng vào vai trò lãnh đạo, điều gì ta bảo người khác phải làm, thì chính ta hãy làm gương thực hiện trước ! »

Lại nữa, theo những nguyên tắc của Phật Giáo, nói về hành chánh và nghệ thuật cầm quyền, cũng như nói về kỷ luật của toàn thể quần chúng, thì toàn bộ xã hội gồm một số ít chỉ huy, và những đa số phục tùng, có thể xem như một đại thể. Trong « đại thể » ấy, chắc chắn phải có ác tính ẩn núp để khuấy phá.

Phật giáo cũng xác nhận pháp thế gian là pháp tương đối, nên không bao giờ có chuyện tuyệt đối, là toàn dân trong một quốc gia đều tốt cả. Cũng như trong giới những nhân vật xứng đáng lãnh đạo, không làm sao có một số người hoàn hảo trên mọi phương diện, để người dân có thể tìm ra các cá nhân tốt ấy, đặt vào vai trò chỉ huy, hầu đất nước sẽ trở nên thanh bình, thịnh vượng. -Ðây là một chuyện không bao giờ có !

Khoa học xã hội lắm khi cũng tương tự như khoa học vật lý, rằng “Ðộng cơ bao giờ cũng là lực quay tiên khởi, kéo theo những bộ phận khác”. Khi người ta muốn phát động một cuộc chấn chỉnh kỷ luật trong xã hội. Người ta không thể nào tức khắc bắt toàn dân đồng loạt khép mình vào kỷ luật chung, mà đầu tiên chính những viên chức các cấp (từ thượng tầng quốc gia trở xuống cấp thấp nhất) trong guồng máy hành chánh nhà nước phải làm gương, thực hiện kỷ luật trước. Sau đó đa số toàn dân mới kính phục, và vì sợ bị trừng phạt, họ sẽ dần dần tự động noi theo.

Nghĩa là “lãnh đạo” phải tự áp dụng, tôn trọng luật pháp trước. Giống như chiếc xe lửa kia đang lăn bánh trên đường rầy. Người ta có cảm tưởng là tất cả các toa sắt đã đều khởi hành cùng một lượt, nhưng kỳ thật lực lôi kéo tiên khởi chính là cái đầu máy. Nó tự xê dịch trước, và lôi theo những cái gì bắt kế vào nó. Kết quả, hình ảnh toàn con tàu đang lao tới một cách đẹp mắt, chỉ là kết quả hoạt động của cái đầu tàu ! -Và khi có biến cố xảy ra, cần điều chỉnh hướng đi, thì cũng chính cái đầu tàu phải ngừng lại trước, để chuyển hướng.

Ngoài ra, Phật Giáo không tin vào sự tuyệt đối do tha lực ban cho, có thể nghiệm đúng giữa cõi trần nầy. Thay vào đó Phật Giáo chủ trương cải thiện xã hội trong tương đối, xây dựng những gì tốt đẹp hơn, so với tình trạng trước. Nghĩa là, xuyên qua nhiều giai đoạn, hễ phế bỏ các cái cũ suy đồi, tức là để tiến tạo những gì mới mẻ tốt đẹp hơn, chứ không phải tiêu diệt cái cũ xấu xa lỗi thời, để thiết lập ngay một cái mới toàn thiện! -Càng không phải xóa bỏ cái cũ, rồi tạo dựng cái mới xấu hơn. -Nói cách khác là Phật Giáo đề cao con đường tiến hóa tuần tự. -Tiến hóa bằng cách cải hóa !

Tích cực hơn nữa, giả sử có một quốc gia nào đó nhất thời đang lâm vào hoàn cảnh khốn cùng, thì trách nhiệm trước tình trạng lầm than ấy, tuy chủ yếu qui về nhà cầm quyền, nhưng không phải vì vậy mà toàn dân được xem là vô trách nhiệm. Khi người dân bất tín nhiệm một chính thể, rồi tìm cách lật đổ hay giải tán chính thể ấy, là họ muốn thiết lập một nhà nước mới, có khả năng làm cho xã hội thịnh trị hơn.

Nhưng nếu cái nhà nước theo sau, mà tệ hại hơn cái nhà nước đi trước, thì rõ ràng là do người dân đã không sáng suốt lúc làm cuộc “cách mạng đổi đời”. Họ phải tự biết, đã chọn lầm người lãnh đạo mới, hoặc do sân hận, vì họ quá ghét bỏ chính thể cũ rồi mù quáng, đặt kỳ vọng sai vào những thành phần hoạt đầu nổi loạn, vốn cũng là những cá nhân gian manh, ích kỷ, độc tài không kém, chỉ thừa dịp để lừa bịp quần chúng ! -Trong mục đích chung, chọn lầm cũng là một trách nhiệm !

Nhưng dù sao đi nữa, đối với Phật giáo « Pháp hành của thế gian luôn luôn là pháp hành tương đối ». Ðiều nầy cũng có nghĩa là không có một vận mệnh nào mà con người không thể chuyển hóa được. Phật dạy « Vào địa ngục là do ta, và ra khỏi địa ngục cũng bởi chính ta » Vấn đề còn lại là phải học Phật để biết rõ con đường ra khỏi địa ngục, nhất là ra cách nào cho chắc chắn, ít đổ vỡ và nhanh chóng !

Phương pháp giải thoát cộng nghiệp hữu hiệu nhất và bền vững nhất, mà Phật Giáo hằng cống hiến cho nhân loại, không gì khác hơn là phải áp dụng hai giai đoạn : Giai đoạn thứ nhất là cách mạng bản thân, và giai đoạn thứ hai là cải cách xã hội (tức tự giác rồi mới giác tha).

Nếu bản thân chưa kiện toàn, thì xã hội không thể nào chỉnh đốn được. Còn sự phế bỏ tàn bạo chỉ là kết quả tự nhiên của hai giai đoạn kia. –Cũng như trong một con người, khi thiện tính được phát triển đầy đủ và vững chắc, thì kết quả là ác tính phải bị loại trừ.

Nói một cách có vẻ « chính trị » hơn, là nếu một dân tộc đang bị lầm than dưới ách độc tài của một chế độ. Toàn dân muốn vứt bỏ bạo ách ấy, thì trước tiên phải tu thân. Tu thân để loại trừ những gì lầm lạc, bất chánh của mình, tức là cùng nhau gây chúng đức, rồi từ đó phát triển cái chúng đức ấy thành sức mạnh cộng đồng, gọi là tạo chúng lực. Chính «chúng lực» là khả năng giải quyết mọi chướng ngại. Tu thân cũng có nghĩa là mở ra một giai đoạn mới, đặt nền tảng trên tôn hiền đức trị, và mỗi cá nhân phải hiền, phải dũng cảm hy sinh vì kẻ khác, thì mới có đức trị tiến bộ !

Sự tu thân, ngoài mục đích diệt tà phục chánh, còn để kiến tạo thước tấc văn hóa cá nhân lẫn cộng đồng, hầu khi cần dùng, có thể « tấn phong » quyền lãnh đạo mới, tức là làm xuất hiện các bậc cầm đầu tài đức, đủ khả năng kết hợp, điều động, và phân phối chúng lực, để cải hóa vận mệnh xã hội.

Nếu không có sức mạnh tu thân thì không có sức mạnh xã hội, và chưa có « quyền lãnh đạo ». Nhưng khi có sức mạnh tu thân, thì tất có sức mạnh xã hội (hay sức mạnh dân tộc), và đương nhiên phát xuất quyền lãnh đạo. Quyền lãnh đạo xứng đáng ấy chính là động cơ nòng cốt, trong bánh xe tiến hóa của một dân tộc. Nó có thể nghiền nát bất cứ ác tính nào, dám cản ngăn bước tiến phát triển chung.

Chữ tu ở đây tương đương với ý nghĩa tự giác làm cách mạng. Hai giai đoạn « cách mạng bản thân »« cách mạng xã hội » mà Phật giáo đề nghị, không những giúp cho một dân tộc, đang quằn quại dưới ách thống trị của bạo chính, có thể thoát ra khỏi tình trạng suy vong bế tắc, mà nó còn giúp cho dân tộc ấy đảm bảo được sự bình an, và thịnh vượng trong tương lai lâu dài nữa.

Xin nói rõ, con đường giải thoát khổ đau của đạo Phật, tuy đến mức tận cùng là xuất thế, nhưng trước tiên nó là con đường nhập thế, tiến hóa từ thấp đến cao, chứ không phải là con đường ruồng bỏ thế gian, như một số người lầm tưởng.

Ðịnh luật nhân quả và nguyên lý tương duyên trong nhà Phật đã chứng minh điều đó. Phật Giáo không bao giờ nói « Một người muốn tốt nghiệp, để bước ra khỏi chiếc ghế nhà trường, thì cứ vịn vào luật vô thường, khi thích thì học khi chán thì thôi, rồi mơ mộng tư duy, bảo rằng nhất thiết do tâm tạo, tưởng tượng rằng mình đã tốt nghiệp, thì trở thành tốt nghiệp ».

Trái lại, căn bản lời dạy của đức Phật, là phải vui vẻ, kiên nhẫn học hànhhọc đúng, học từ nhỏ đến lớn, từ thấp nhất đến cao nhất. Khi nhà trường hết còn lớp nào để cho ta học hỏi nữa, thì đương nhiên sau đó ta sẽ trở thành tốt nghiệp.

Và để kết luận tiểu đề tiêu diệt ác tính, soạn giả chỉ xin nhắc lại một câu Phật ngôn:

« Duggà uddharathattàaŋ

panke sañña kuñaro… »

Thoát dịch là «Voi sa lầy vẫn có thể thoát ra được, thì con người hướng thiện trước sau gì tự mình cũng tẩy trừ hết ác tính». -Giống voi tuy là một sinh vật có thân hình nặng nề nhất, đáng lẽ rơi xuống hố sình, thì phải toi mạng nhưng người ta hiếm khi thấy một con voi chôn xác dễ dàng dưới vũng bùn. Ðây chính là một hiện tượng, một ngụ ngôn mà chúng ta cần quan sát, suy gẫm, và phân tích !

Phần trước                                                                                               Phần tiếp theo