Xa hơn nữa, Phật Giáo cũng luôn luôn chỉ rõ : « Tuy ác tính và thiện tính là hai sức đẩy nghịch chiều và đồng thời, trong mạch sống của con người. Nếu thiện tính đẩy đi về phía rộng (tiến hóa), thì ác tính đẩy đi về phía hẹp (sa đọa) trong vòng luân hồi, nhưng cuối cùng ác tính vẫn có thể bị giải trừ bỡi thiện tính ».
-Vì sao ? -Vì sự bồi dưỡng của ác tính là ngũ trần (gồm sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, và xúc trần), xuyên qua năm giác quan, lúc nào cũng vô thường, biến đổi, tùy điều kiện, và không ngừng tàn tạ, tiêu hoại, nên ác tính không có nguồn yểm trợ bền vững.
-Ðây cũng là lý do mà ác tính (lòng tham) thỉnh thoảng tự hóa trang, tìm kiếm những điểm tựa, nằm trong lãnh vực của thiện tính, như nó nhảy ra “hưởng ứng” sự tu hành, nhưng thiên về tu pháp cao hơn tu pháp thấp, như “duy tâm” một cách cực đoan, viện dẫn cái tâm là “chủ động” của tội phước, để biện luận rằng “Muôn sự tại tâm, việc gì tâm ta nghĩ là tốt, thì nó tốt, và nếu tâm chấp là xấu, thì nó xấu..v.v…”, để vừa hành động theo ý muốn (chiều lòng tham, chiều khát vọng), vừa cứ “quan niệm” suông rằng : Tuy hành động phàm tình của ta như thế nhưng tâm ta “không chấp”, “không nhiễm”, “không xấu”, thì vẫn không sao (?) -Như vậy ta vừa có thể «tu tâm», vừa cũng có thể làm được bất cứ việc gì ta muốn !
Còn nguồn bồi dưỡng của thiện tính là nhận thức, và giác ngộ. Hai tiềm lực nầy nếu chẳng bị vô minh che áng, thì chỉ có lớn mạnh chứ không bao giờ suy yếu. Bằng chứng là trên thế gian, một người dù hung bạo đến đâu, tàn ác đến đâu, nhưng khi về già (trước khi nhắm mắt), hoặc lúc bình tâm nghĩ lại (một dạng của an tịnh), người ấy cũng chắc chắn phải có một thời gian nào đó suy tư, kiểm điểm lại những hành động của mình đã làm trong suốt cuộc đời.
Nói cách khác, ác tính thì hữu hạn (tùy thời và tùy điều kiện), nhưng thiện tính thì vô hạn (hằng thời và vô điều kiện). Ác tính mang hình tướng tạm, là vui buồn lẫn lộn, và luôn luôn bị biến đổi, nhưng thiện tính thì thanh tịnh, vô hình tướng và không bị biến đổi.
Chúng sinh vì ác tính, lặn hụp trong bể khổ trầm luân, dù trải qua hàng triệu kiếp, có hàng triệu hình tướng sa đọa khác nhau, song trong chúng sinh ấy vốn tàng ẩn chỉ có một thiện tánh giác ngộ, hay một chân tâm vô tướng mà thôi. Và vì thiện tính bất diệt, chỉ có mạnh hay yếu, hiển lộ hoặc tàng ẩn (khi bị che mờ), chứ không bao giờ biến mất. Ngược lại, thì ác tính đổi thay không ngừng. Suốt cái vòng chứa vô số kiếp, tử sinh luân hồi ấy, chẳng có ác tính nào giống ác tính nào cả.
Ðến đây không khéo sẽ có người hiểu lầm, cho rằng : « Nếu về già hay trước khi chết, mà nhờ chân tâm thiện tính, ai cũng có khuynh hướng quay về với nẻo thiện, rồi nhờ vậy họ sẽ được chuyển hóa, sẽ được siêu sanh, thì suốt đời một người cần gì phải tốn công tu tập ? » -Nghĩa là ỷ lại vào thiện tính sẽ biểu lộ, giúp ta kiểm điểm ở cuối đời, thì tự nhiên ác tính tự tiêu diệt ?!
-Thưa không. -Vì sao ? -Vì qua vật chất, ác tính vốn tự lớn mạnh và suy tàn, dựa trên nhịp sống của thân xác, và đáp ứng của ngoại vật, theo qui luật hết thịnh rồi suy, hết hợp rồi tan. Nhưng xuyên qua tinh thần, khi một người tuổi đã về chiều, thì « môi trường hoạt động » của ác tính chỉ bị thu hẹp, nó mất hẳn điều kiện để lộng hành, tiếp tục thúc đẩy, gạt gẫm tật ích kỷ, mù quáng, và ham hưởng thụ của thức ham sống (Jìva tanhà), trong một chúng sanh mà thôi, chứ nó chưa bị tiêu diệt.
Tức là ác tính lúc ấy không còn « vật liệu tốt » nữa (ám chỉ xác thân) để lừa gạt, để chứng minh cho thức ham sống thấy rằng, nó có khả năng hướng dẫn thân tâm đến cõi lạc thú, chứ nó không bị “đứt rễ” hay hoàn toàn biến mất!
Trái lại vì bản chất gian hoạt, nó có thể “thu mình” như một thứ “nhện độc nhu mì”, ôm chặt lấy thức ham sống, xem ấy như một cái phao tuy sắp rã, nhưng còn chút sức tàn, để “chuyên chở” nó xuyên qua kiếp khác. Nó khéo léo đến độ, mà tâm linh có thể nhầm nó với thiện tánh trong phạm hạnh.
Do đó, người chỉ « hồi tâm hướng thiện » vào giờ chót, mà bình nhật không chịu làm lành, lánh dữ, hay tu hành nghiêm túc, thì trong thực chất họ khó có thể siêu độ sau khi nhắm mắt !
Những câu chuyện khuyến thiện, như « hồi đầu thị ngạn » (quay lại thấy bờ) hay « tu nhất kiếp ngộ nhất thời »..v..v…, ghi trong các sách vở Phật giáo, vốn chỉ là những trường hợp hi hữu, để ám chỉ rất hiếm các chủng tử căn lành trong quá khứ đã chín mùi, nhờ công phu tu tập (Ba La Mật) gần viên mãn, mà vì một nhân duyên lệch lạc nào đó, bị lôi kéo vào sa mù, lầm đường trong kiếp nầy, nên khi có ánh sáng chân lý chiếu vào, họ liền nhận ra hướng đi đúng, hay giác tâm bừng sáng, “đốn ngộ” giải thoát.
Ví như người đã muôn kiếp gần gũi“tiếng chuông thanh tịnh”, rồi kiếp chót dù ở trong hoàng cảnh nào, nhưng khi bất chợt nghe lại phúc âm ấy, là họ liền lập tức giác ngộ. Trường hợp nầy, không phải bất cứ ai cũng có thể được như thế !
Mặt khác, những trường hợp hi hữu, được ghi lại trong sách vở Phật giáo, còn có một ý nghĩa đặc biệt khác, là để khuyến khích người đời, đừng vì « mặc cảm lầm lỡ rồi thả trôi theo số mệnh, mà khi thức tỉnh thì nên can đãm quay lại nẻo thiện, bất cứ lúc nào cũng vẫn còn kịp”, hơn là nói lên phương pháp “siêu độ cấp tốc” !
Và đáng tiếc thay cho thức ham sống vào “lúc cận tử”, hay “lúc chuyển kiếp” ấy. Dù bấy giờ “nó” có chân thành sám hối, tin tưởng « cái phao hồi đầu » (nhưng chưa tạo nghiệp lành) kia đến đâu, thì cũng không hiệu quả được, vì “nó” đã thấy mình nằm trọn giữa màng lưới “nhân quả” vô minh dày đặc, đồng thời bị cột chặt với ác tính rồi. Và dưới sự bao phủ, đè nặng của ác tính, thức ham sống chỉ còn một phản ứng duy nhất, là vận dụng toàn thể sức tàn để tìm kiếm chút « ánh sáng phân biệt » soi đường. -Và chút ánh sáng le lói để phân biệt ấy không gì khác hơn là diệu dụng của thiện tính. Kết quả nếu có, chỉ là may ra trong kiếp luân hồi sau, khi có duyên lành, sẽ biết tạo thiện nghiệp.
Và cái tác ý tìm kiếm nguồn sáng kia không gì khác hơn là « khuynh hướng quay về nẻo thiện » của người sắp chết, nhưng vì chưa có công đức, nên không thể nào thay đổi được hoàn cảnh ! Ví như một con lạc đà già bị che mắt, kiệt quệ giữa sa mạc, dù bất chợt thấy được điểm sáng (ám chỉ nơi có nước) trong màng đêm, nhưng nó hoàn toàn bất lực, chẳng làm sao có thể chạy đến chỗ ấy, khi kẻ cầm cương trên lưng, đang kéo nó phải chui vào vũng tối. -Kẻ cầm cương ở đây chính là ác tính !
Bình nhật, khi con người thường xuyên đòi hỏi, ích kỷ, hung bạo, thì ác tính (lòng tham) vốn là động cơ. Ác tính ấy còn có “đồng minh”, là khuynh hướng hưởng thụ của xác thân khỏe mạnh hổ trợ, nên mọi thiện tính đều bị che áng, khiến con người mù quáng gây nhiều nghiệp xấu bằng thân, bằng miệng, và bằng ý.
Trong khi làm nghiệp xấu, con người cảm thấy thõa mãn bao nhiêu, thì lúc mạng chung « thức ham sống » của kẻ ấy lại bị dày vò, hối tiếc, bấn loạn bấy nhiêu. -Nhưng sự bất thiện nặng nhất, trong khi dày vò hối tiếc đó, là bị ác tính che áng, không thấy lối đi. -Và càng bị bấn loạn, đau khổ, thì « thức ham sống » càng bị bao bọc, cột trói bỡi quả ác, và càng bị cô lập trong chật hẹp ngục tù. -Nhất là bấn loạn đau khổ vì phút chót thức tỉnh, muốn quay lại với ánh sáng tự tâm, mà ánh sáng ấy cũng chẳng giúp ích được gì, bỡi thời gian sống còn lại, để tạo thiện nghiệp đã không còn nữa…
Do đó, một người lúc nhắm mắt, thần thức trở về với thiện tánh mà được siêu sinh, là chỉ khi nào trong suốt cuộc đời, họ đã từng can đãm tranh đãu với ác tính, không để cho nó chỉ huy mọi hành động.
Nói rõ hơn, siêu sinh là sự gặt hái kết quả của một phạm hạnh, chứ không phải là khởi điểm của sự thức tỉnh, vì tâm chỉ thoáng biết đâu là nhân lành, chứ chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng của tham sân si.
Bỡi vậy, nếu một người cả đời phạm nhiều tội ác, mà khi lâm chung có hối hận, hồi tâm đến đâu, thì hậu quả của tất cả những nghiệp dữ do họ đã tạo, đều sẽ đến với họ, chứ không thể nào tránh được. Việc duy nhất còn lại, Phật giáo khuyên họ có thể làm, là nên có một thái độ can đãm hướng thiện, để đón nhận các kết quả ấy.
Những danh từ, như « sám hối » hay « quay về nẻo thiện » chỉ có nghĩa là « từ ấy về sau, khi thiện tính hiển hiện, thì người ta sẽ chấm dứt hay giảm thiểu tạo nghiệp ác, giảm thiểu phạm tội ». Chứ sám hối không thể nào là quyền lực xóa hết hậu quả của những nghiệp xấu của một người đã làm !
Theo các trường phái phân tâm học xưa nay, khi đề cập đến « khả năng » của thiện tính và ác tính, thông thường người ta có thể phân biệt qua sáu loại như sau :
1.Trong một con người, thiện tính và ác tính đồng hiện hữu, nhưng thiện tính sẽ bất diệt.
2.Trong một con người, duy nhất chỉ có thiện tính, chứ không có ác tính.
3.Trong một con người, cả hai tánh thiện, lẫn tánh ác đều có, nhưng ác tính sẽ là chủ động.
4.Trong một con người chỉ có ác tính chỉ huy mà thôi.
5.Trong một con người, cả hai thiện tính và ác tính đồng hiện hữu, với cùng một sức mạnh như nhau. Do đó sự xung đột tay đôi, là một cuộc cạnh tranh bất phân thắng bại, tạo ra thăng trầm.
6.Trong một con người, không có sức mạnh nào gọi là thiện và cũng không có sức mạnh nào gọi là ác đúng nghĩa. Tất cả đều tương đối, tất cả đều vô luân lý và tất cả đều ảo tưởng (Mãyavãda).
Phật Giáo hiển nhiên đã đồng ý với quan niệm thứ nhất, nghĩa là chấp nhận trong nội tâm của bất kỳ ai chưa thành Phật, cũng đều có cả ác lẫn thiện, nhưng thiện tính là một sức mạnh bất diệt.
Trong kinh đức Phật lại còn nói ngụ ý : « Sự hiện diện của một số hình thức đau khổ (tương đương với tội lỗi) trong luân hồi, thường có khuynh hướng đánh thức chúng sanh nói chung, con người nói riêng, tỉnh lại từ những si mê ham sống trần tục, khiến họ phải tin vào các giá trị tinh thần và đạo đức (luân lý). -Ðây chính là đức tánh thiên về thiện pháp, nhờ kinh nghiệm sống trực tiếp với mọi chịu đựng đau khổ » (Dukkhũpanìsa). -Theo Saŋyutta II.I : Tập Bộ Kinh.
Con người sở dĩ mắc dính vào cõi đời, là vì những vui sướng và hài lòng tạm bợ, mà cuộc sống quay cuồng mang lại cho họ, xuyên qua sự đáp ứng một số đòi hỏi nhất thời của cảm quan.
Nhưng rồi các nghịch cảnh, như bất mãn, thất bại, đau đớn, và lo buồn lại cũng là những nguyên nhân khác, thúc đẩy con người cố gắng tìm hiểu chân tướng của đau khổ, hầu tự mình vượt qua hay quay về nẻo sáng. Từ đó người ta có thể nói rằng « nhờ ghê sợ đau khổ, (tương đương với ghê sợ tội lỗi) mà chúng sinh mới có khuynh hướng tìm kiếm những cái gì tốt đẹp hơn ».
Tuy nhiên, trên quan niệm căn bản, vấn đề chịu đựng đau khổ (hay tội lỗi) đối với Phật Giáo còn được nhận thức một cách khác nữa. -Nghĩa là không phải chỉ nhất thời, nhờ “đen” mới nhận ra “trắng”, không phải chỉ bất chợt so sánh, thấy “giả” mới hiểu được “chơn”. Mà trong bất cứ hoàn cảnh nào, Phật Giáo cũng chủ trương liên tục phát triển công phu, hòa hợp duy trì thiện hạnh, củng cố trí tuệ thanh tịnh, hầu nhận diện được các sự thật của mọi pháp hữu vi, một cách thường xuyên, nhất quán. Ðặc biệt là nhận diện các sự thật sau đây :
1-Sự thật trổ quả chịu đựng đau khổ chính là tội lỗi.
2-Sự thật gây ra tội lỗi chính là ái dục.
3-Sự thật triệt tiêu ái dục chính là Niết Bàn, và
4-Sự thật dẫn đến Niết Bàn chính là Bát Chánh đạo.
Phật Giáo gọi bốn chân lý nầy là Tứ Diệu Ðế.
Người đời nay có thể lầm tưởng rằng : « Vạch rõ những nguyên nhân tinh thần, có tính cách trừu tượng của tội ác, để tìm phương pháp cải hóa tâm tánh, là một việc làm lý thuyết của các giới trí thức, triết gia, thích phổ biến các sáng kiến hoang đường (khó được kiểm chứng) của mình, qua hình thức truyền bá luân lý, và đạo đức ».(?)
Nhưng mục đích của đạo Phật không phải như vậy !
Trên thực tế, tâm bệnh hay thân bệnh chẳng khác nhau bao nhiêu. Thử xét lại câu chuyện ghi rõ trong kinh điển Phật Giáo : Khi một nạn nhân bị trúng tên độc, được may mắn có người thiện tâm đến cứu, thì việc đầu tiên mà nạn nhân phải làm, là “vui vẻ” để cho người cứu lập tức rút mũi tên ra, đồng thời sau đó bình tĩnh nhận thuốc giải, rồi xức và uống vào.
Hay người ấy cứ rán chịu, để mũi tên cắm sâu trong da thịt, với tính đa nghi, trước khi được cứu cấp, và chất vấn tên tuổi kẻ đến giúp mình, rằng thuốc giải kia do đâu mà có, hoặc nó đã được chế tạo bằng những dược liệu gì, hay ai là người tìm ra cách chế thuốc giải ấy, rồi sau cùng hiệu lực của nó ra sao.v.v… ?
Việc «kiểm chứng rồi mới tin» của một số người theo thuyết tuyệt đối hoài nghi, hay vô thần duy vật, lúc nào cũng đòi “thấy rồi mới thừa nhận”, xét ra chỉ cần thiết trong một số trường hợp, để chống lại sự nhẹ dạ bồng bột, trước các xảo thuật tuyên truyền, lôi kéo quần chúng vào những mục tiêu bất thiện.
Nhưng trong câu chuyện trên đây, nếu nạn nhân không can đãm tin người tốt (vô vụ lợi) đến cứu giúp mình, thì họ sẽ chết trước khi điều tra, hội đủ những điều họ muốn biết. Và như thế thật là đáng tiếc !
Nếu mê tín, dị đoan, dễ tin là một tâm bệnh, thì tật cao ngạo ngã mạn, thiếu sáng suốt, đa nghi, chỉ tin vào những gì có “bằng chứng”, cũng là một tâm bệnh khác! -Và nếu tâm bệnh luôn luôn ảnh hưởng đến thân thể như thế nào, thì thân bệnh cũng luôn luôn ảnh hưởng đến tâm thần như thế ấy.
Hơn nữa, sau khi bị trúng tên, chất độc chưa lan rộng, chưa phát tác, mà nếu nạn nhân vội yêu cầu kẻ đến giúp mình, vì “công lý” hãy đi tìm thủ phạm, để truy ra duyên cớ, hầu trả thù cho hả giận, chẳng lo chữa trị vết thương, là một việc không nên làm, thì chuyện tìm hiểu gốc tích thuốc men, hay xuất xứ của người đến cứu giúp, trước khi được chữa trị, lại càng không nên làm hơn nữa !
Bàn thêm vào Tâm bệnh, đức Phật thường dạy cho chúng ta, ngụ ý rằng : Linh thức đời nầy thường xuyên đau khổ, là tâm hồn vốn muôn kiếp đã bị nhiễm độc, thọ thương, Bát Chánh Ðạo mà đức Phật đã chỉ ra, chính là một phương diệu dược, để giải trừ những “vết độc trong tinh thần”.
Nói cách khác, Bát Chánh Ðạo ấy có thể ví như một chất thuốc, có thể vừa ngừa vừa trị được tâm bệnh khổ não của tất cả chúng sinh. Nếu con người trong khi đau khổ, nhiễm độc, vì ác tính làm cho tâm thức bị thương tích, mà không chịu áp dụng thiện pháp, cứ đòi hỏi phải chứng minh cõi Phật ở đâu, và hạnh phúc ở cảnh ấy trường cửu, hay tuyệt diệu như thế nào, rồi mới chịu tin kính, hành theo pháp giải thoát, thì tuổi thọ của một kiếp người xem ra quá ngắn ngủi, để có thể biết được chuyện ấy, trước khi nhắm mắt, rồi luân hồi sa đọa sang kiếp khác, không chắc sẽ gặp lại Phật giáo !
Sâu sắc hơn nữa, là kinh sách đạo Phật còn ví Bát Chánh Ðạo như chiếc thuyền Bác Nhã (trí tuệ), có thể đưa những ai can đãm, thực tế, chịu đối diện với cảnh khổ, để sáng suốt tự lực ngoi mình lên, bước vào thuyền, mà được vào bờ. Còn bậc Giác Ngộ ví như ngọn hải đăng, vững chắc tỏa ánh sáng, xuyên qua màng đêm dày đặc (vô minh), soi rõ mọi sự thật, để giúp nạn nhân bị trôi giạt, định hướng phía nào là bờ giải thoát.
Kẻ đang lặn hụp giữa biển khổ trầm luân, khi nhìn thấy ánh sáng từ ngọn hải đăng, và nghe tiếng gọi từ con thuyền tiếp độ, mà không dũng cảm ngoi mình lên để được thoát khổ, thì quả thật không có gì mê muội cho bằng. Chả lẽ đến lúc ấy người ta còn phải tìm hiểu xem con thuyền kia từ đâu đến, và ai là kẻ đã thoát hiểm, đang vì lòng từ bi thắp lên ngọn hải đăng ấy ?!
Vã lại, không như một số tôn giáo khác, Phật Giáo chẳng bao giờ bảo người ta sống đạo, mà không soi sáng phương pháp sống đạo cho họ trước. Rồi kẻ nương nhờ vào con thuyền Bát Chánh ấy để giải cứu lấy mình, lại cũng không phải là kẻ chỉ nhắm mắt tin càng, phó mặc sinh mạng cho đạo Phật đưa đẩy, mà trái lại họ vốn là kẻ đã mở rộng « tuệ nhãn« , thấy rõ hướng đi, và đang ít nhiều chứng thật kết quả lành mạnh của đời sống phạm hạnh !
Thực tế đã chứng minh rằng : Kẻ nào sống theo Bát Chánh Ðạo, là kẻ thường xuyên tránh thoát mọi lo âu, được đứng ngoài vòng oan trái. Ðối với họ, gìn giữ, nuôi dưỡng, và phát triển thiện hạnh, tức là đương nhiên hóa giải các ác tính, chứ không cần phải có tâm háo thắng, nghĩ rằng lấy cái thiện lực nầy để « diệt trừ » cái ác tính kia, như người đời thường chủ trương, khen ngợi chiến thắng, và thường thực hành với những dụng ý khác nhau. (Asãdhuŋ sãdhunã jine!).
Tuy nhiên, Phật Giáo không phải vì vậy mà không bị xuyên tạc. Người ta vẫn thỉnh thoảng gán cho Phật Giáo nào là bi quan, nào là yếm thế. Nhưng nếu chúng ta bình tâm xét kỹ, thì ý nghĩa của hai chữ « bi quan » mà người đời gán cho Phật Giáo không chính xác chút nào.
Bỡi lẽ, khi chúng ta đem so sánh cái quan niệm « vạn vật là vô thường, khổ não và vô ngã » của đạo Phật với những định kiến về « thiên đàng hằng sống » (everlasting paradise) hay « địa ngục đời đời » (eternal hell), của một vài tôn giáo khác, thì không có gì đáng bi quan hơn, khi con người lỡ rơi vào một hoàn cảnh, chẳng giữ đúng những điều mặc khải* do thần linh hay « thượng đế » phán quyết, phải chịu vất vào hỏa ngục đời đời ?! (Ghi chú : *Mặc khải là “xem như chấp nhận”).
Về điểm nầy, nếu đứng trên quan điểm Phật Giáo mà nhận xét, thì vấn đề phải hoàn toàn trái ngược, và người tin đạo Phật sẽ thẳng thắn phát biểu rằng, «đạo Phật vốn vô cùng lạc quan», như ý nghĩa những lời Phật dạy sau đây : « Vào địa ngục là do ta, và ra khỏi địa ngục cũng bỡi chính ta, chứ không nhờ một quyền lực linh thiêng nào cả ». Hay “Ta là nơi nương nhờ của ta” (Attàhi attano nàtho).
Vậy điều chính yếu là niềm tin vào tôn giáo phải có khả năng đánh thức tuệ giác, hay soi sáng thiện căn, để cho hành giả tự giác ngộ, sáng suốt và can đãm, tìm ra con đường hạnh phúc giải thoát.
Ở đây, một lần nữa chúng ta nhận thấy chủ trương của Phật Giáo, là biểu lộ cái bản chất khai phóng thanh tịnh, tức cái khả năng làm cho chúng sinh nhìn thấy vạn vật đúng thực trạng của nó.
Theo Phật Giáo : « Tất cả sinh sinh từ nguyên thức vốn có khuynh hướng tiến hóa, hiếu thiện« . Nghĩa là ác tính chỉ là một kết quả do ngoại tại, khi nguyên thức bị lọt vào guồng máy ngũ uẩn tái sinh, nhất là khi nó bị ái dục bao bọc mà biến thành động cơ ham sống.
Trong kinh điển nhà Phật, nguyên thức ấy được ví như chất vàng, vì chịu sự quay cuồng và biến đổi hình thể của quả đất (ví như ngũ uẩn), mà nó phải bị pha trộn với sắt, thau, đồng, chì, kẽm, thiết, bạc.v.v…(ví như thất tình lục dục), thành ra cái gọi là quặng kim loại (ví như phàm tâm)
Nhưng khi “quặng » ấy gặp thiện duyên, trồi lên khỏi lòng đất, và được tiếp xúc với không khí, ánh sáng (chân lý), cũng như được bàn tay chuyên môn của người thợ tinh luyện (ví như bậc giác ngộ), thì các chất hỗn tạp kia (phiền não) sẽ bị tách rời, vàng ròng nguyên thể sẽ hiện nguyên hình (giác tánh), óng ánh lung linh, phô bày tất cả nét huy hoàng tự nhiên của nó (ví như linh quang giải thoát).
Tương tự như thế « nguyên thức » của con người, lúc đã hoàn toàn loại trừ được các thứ phiền não, cố chấp biên giới, thì nó cũng trở nên vô lượng sáng lạng, thanh tịnh vô biên, và an lạc bất biến một cách uyên nguyên, diệu hữu. Ðức Phật vẫn thường dạy : « Tâm Thức của con người tuy có thể bị đủ loại phiền não làm cho hoen ố, nhưng phần tinh túy trong sáng trong nó, lúc nào cũng nguyên vẹn, khi nó đã hoàn toàn thanh tịnh, không còn chấp lấy chính nó nữa ».
Kinh văn chữ Phạn là:
« Pabhassaraŋ idaŋ cittaŋ taŋ ca kho
Agantukehi upakkilesehi upakkilitthaŋ ».
Một thí dụ khác : Tâm thức ví như một hạt kim cương (Mani), có thể bị bao phủ bởi những lớp bụi trần, nhưng khi được chùi sạch, thì sức trong sáng của nó liền trở lại huy hoàng như cũ.
Do đó nếu cần phát biểu một cách sâu sắc, thanh tịnh, «lạc quan», và triết lý dẫn nạp hơn, chúng ta có thể nói rằng : « Con người dù đã từng phạm tội, hay có thể sẽ gây tội, nhưng nếu từ nguyên thức, con người không phải là một tội đồ, thì sớm muộn gì con người hướng về nẻo thiện, cũng sẽ biết được lý lẽ của tội phúc, nguyên nhân của vui khổ, để từ đó con người sẽ cảm thấy ghê sợ ác nghiệp, ghê sợ sa đọa mà tự tiến ».
Ngay cả những hành động lầm lạc, mà con người đã mê muội tạo tác, cũng không phải tuyệt đối do bản chất hiếu ác, hay gốc sa đọa của tâm linh gây ra, mà là do vô minh che áng chân thức, khiến con người nhầm lẫn làm càng. Tình trạng nhầm lẫn ấy vẫn có thể chấm dứt, nếu màng vô minh bị phá tan. Nhất là bị phá tan không phải bởi một quyền lực nào khác, mà là bởi chính tâm thức bị nó che áng.
Như thế, đối với Phật Giáo, không có vấn đề định mệnh, không có vấn đề « Con người khi tâm thức đã bị ô nhiễm trong cõi đời phàm tục rồi, thì vĩnh viễn không thể nào tự cứu nổi, mà phải nhờ đến ân đức của một tha lực thánh đế ».
Trái lại Phật Giáo lúc nào cũng khẳn định rằng : « Tương lai của người nào, hoàn toàn nằm trong tay người ấy ».-Hay « Ta là tạo hóa của chính ta », hoặc « Ta là nơi nương nhờ của ta », như đã nêu trên đây.
Bằng ý thức « không có một quyền lực địa ngục đời đời » và bằng sự chứng minh « con người tự chân tánh chẳng phải là một tội đồ », Phật Giáo hẳn hoi đã biễu lộ một tư tưởng lạc quan rất chân thật và tích cực. Tư tưởng lạc quan nầy, dẫu có bị hiểu lầm là «bi quan» đi nữa, thì xét ra nó cũng còn ít bi quan hơn cái định kiến bị thánh đế « trừng phạt đời đời » như đã nói, của một số tôn giáo “nhất thấn toàn năng” khác !
Ðáng tiếc thay, là Phật giáo dù có chỉ rõ cái « lạc quan chân chính » của những tâm hồn tự lực và cầu tiến như thế, Phật Giáo vẫn bị một số người hiểu biết một cách méo mó. -Vì sao ? -Vì động cơ của sự lạc quan mà Phật Giáo nêu lên chính là thiện căn, hay chính là « bản chất khởi thủy hiếu thiện » của « nguyên thức », mà « bản chất khởi thủy hiếu thiện » ấy, đối với một chúng sinh đang bị bao bọc bỡi tham ái, vô minh, và chưa tỉnh ngộ, muốn ý thức được nó, thì rất khó.
-Khó ví chẳng khác nào một người bị bịt hai mắt, mà đứng trước tấm gương, dù khuôn mặt thật, bị bụi trần làm cho lem luốc của họ trong gương, có khôi ngô đến đâu, người ấy cũng không thể nào thấy được ! Muốn thấy, trước tiên họ phải lấy đi tất cả những gì che mắt họ !
Nói cách khác, “tư tưởng lạc quan” của Phật Giáo là một tư tưởng lạc quan, đặt nền tảng trên phẩm chất tự tu và tự độ. Cái nhìn lạc quan của đạo Phật là một cái nhìn, hướng đến cứu cánh có thật, một cứu cánh giải thoát, không bị ràng buộc bỡi những điều kiện giả hợp.
Phật Giáo cho rằng « Cái gì chân thật là lạc quan, còn cái gì giả tạo hay phù du là bi quan ! », trong khi thế gian phàm tình thì nghĩ ngược lại. Thế gian cho rằng : « Cái gì dể dãi, dễ đạt, thuận với sở dục là lạc quan, còn cái gì khó khăn hay nghịch với lòng ích kỷ không đáy là bi quan ». Do đó chúng ta chẳng lấy gì làm lạ khi thấy một số người bảo rằng « Phật Giáo nói toàn là chuyện bi quan », thay vì họ nên nói thẳng ra « Phật Giáo nêu toàn chuyện rất thật nhưng khó làm ! »
Hơn nữa, Phật Giáo vạch rõ tất cả những đau khổ của cuộc đời như một thực tế, chứ không phải như một lý thuyết. -Như một thực tế, vì Phật Giáo vạch trần và nhận diện được cái vui ngắn hạn của vạn vật hữu tình. Phật Giáo nhận diện được nó, như một lương y nhận diện được vi trùng, để tìm phương pháp giải trừ, cứu chữa, chứ không phải nhận ra vi trùng, nguyên nhân của căn bệnh để khiếp sợ, để lo âu hay đau khổ.
Như thế, quan niệm về khổ của một người Phật tử “đúng nghĩa”, là cái quan niệm của một kẻ dũng cảm, đang bình thản đối điện với mọi thực tại khó khăn, rồi “tranh đãu” một cách tự tin, để hướng về ngày mai tiến hóa, lạc quan hơn.
Hai triết gia Hy Lạp, Socrates và Platon, trong một phát biểu về Phật giáo, đã nói đại ý : « Ða số người trên thế gian nầy vì sợ sệt, mà không dám nhìn thẳng vào sự thật, nhất là các sự thật già nua, bệnh hoạn, và tử biệt. Nhưng đức Phật thì ngược lại. Ngài đã chánh đáng nói hết ra tất cả, như nhắc lại một thực nghiệm. ».
Các ông còn tán dương bằng cách nhắc lại mấy câu nói sau đây của đức Phật : « Càng thấy rõ bản chất của sự sinh, tức là càng thấy rõ bản chất của sự diệt. Mà càng thấy được bản chất của cả hai sự sinh và diệt, tức là càng thấy rõ con đường dẫn đến giải thoát, bình yên và hạnh phúc niết bàn ».(Jàtimaranaŋ manussati sukhànaŋ vimuttaŋ Nibbànan’ti).
Còn đoạn số 8 trong Pháp Cú kinh (Dhammapada sutta), cũng có câu : « Anubhãnupassiŋ Viharantam…. », thoát dịch là : « Phân biệt rõ hạnh phúc giả tạo, tức là tìm ra hạnh phúc đích thực ! »
Và theo một nền văn học tối cổ, thịnh hành trước thời đức Phật, và cả trước lập thuyết Bà-La-Môn giáo ở Ấn Ðộ (Sathapatha Brãhmana), thì trạng thái tử vong (tức là tử tính hay còn gọi là sự chết), đã được “nhân cách hóa” dưới hình thức một “hung thần”, đồng nghĩa với thần chết (Mrtyuh Pàpmà), để ám chỉ bất cứ cái gì hễ xuất hiện, tồn tại, là càng ngày càng xít lại gần tới chỗ tiêu hoại, biến mất. -Hay « hễ có sinh ra là phải bị vướng chặt vào lưỡi câu của thần chết » !
Ý thức nầy cũng tái xuất hiện trong kinh điển nhà Phật, bởi nhóm từ ghép « maro papimã », nghĩa là tử tính hoặc một dạng của ác tính. Khi nào có ác tính phát sinh, là khi đó có sự chết bắt đầu. Hay khi nào có ác tính nổi dậy, là khi đó có nhân và duyên dẫn đến sự suy đồi.
Từ đó Phật Giáo kết luận rằng : « Vì vạn vật câu hữu với biến và diệt, nên thần chết (Mãra) chính là bàn tay chi phối tất cả”. Từ ngữ « mãra » còn được một số các nhà học Phật dịch thoát là « ma vương ». Mãra được thành lập bởi nhóm mẫu tự Vmr, nghĩa là tử hóa hay tàn hoại (cp.Latin mors). -Còn một nghĩa khác nữa của « màra » là « động lực biến diệt » hay « nguyên lực gây ra sự chết » (tử tính).
Tuy nhiên, theo một số sách vở trong nền văn minh tối cổ của Ấn Độ ghi lại, thì danh từ “Màra” có đến 4 ý nghĩa, hay được phân giải ra 4 loại như sau :
1- Maccu mãra (Tử ma) : Tức là trạng thái chấm dứt mọi sinh hoạt của thể xác (như làm cho tim hoàn toàn ngừng đập, mất hơi nóng, tắt thở).
2- Khandha mãra (Uẩn ma) : Trạng thái phế thải các cấu phần già nua tự nhiên trong con người, hay làm biến thể các cấu phần ấy, để dẫn đến chỗ tiêu hoại. Trong một nghĩa rộng khác, thì “Khandha màra” nói trên, ám chỉ lúc bị « ác tính » nổi lên, tạo nên mọi thứnhơ dục (tử hóa nơi tế bào) trong toàn thân của một con người.
3- Kilesa mãra (Phiền ma) : Trạng thái luân chuyển những «giòng điện giác quan» vui khổ (nơi thân sống), để chuyển thành những «giòng điện cảm thức» phiền não (hài lòng và bất mãn nơi tinh thần), rồi phản hồi khi chấm dứt những «giòng điện cảm thức» phiền não, để chuyển sang những «giòng điện giác quan» nung nấu vui khổ. Đây là nguyên lý của “thân tâm luôn luôn truyền bệnh cho nhau”. Cứ thế lập đi lập lại, hễ cái nầy tử (chấm dứt) thì cái kia sinh (bắt đầu), và cái nầy sinh (bắt đầu), thì cái kia tử (chấm dứt)…., tiếp tục như hai “con khỉ” bị bịt mắt, thay phiên cõng nhau lên lưng, nặng nề đi mãi trên một vòng tròn vô định !
4- Devaputta mãra (Thiên ma) : Đây là một trạng thái hướng về lạc thú tinh thần (có thể là thu hẹp cố chấp hay “mở rộng”), nhưng “bản chất của nó” là luôn luôn lấn áp và đội lớp, giả cách đồng hóa với “chân tâm” (hay nguyên thức), trong mọi chúng sinh, nhất là trong mỗi phàm nhân thích cái “đẹp”, vì « chân tâm » hay « nguyên thức » nầy, vốn cũng là khuynh hướng hiếu thiện, có pháp hành cùng chiều, và có khả năng giúp tâm linh con người loại bỏ những ô trược, để tự mình tiến hóa, hay để thõa mãn tính chuộng cái “đẹp”.
Ba “loại ma” đầu tiên là “Tử ma”, “Uẩn ma», và «Phiền ma», thì sở trường của “chúng” là nhận chìm tất cả sinh linh trong biển vô minh tăm tối (tứ đại ô trược). “Chúng” hằng làm cho kiến thức về luân hồi lẫn lộn, tưởng ôm giữ là vui, buông bỏ là khổ, tưởng hợp là tốt, tan là xấu, tưởng thiện và ác như nhau, nên thích thú trong dục giới, không muốn vượt ra.
Nhưng loại ma thứ tư, là “Thiên Ma” thì âm hiểm hơn nhiều. “Nó” chính là hiện thân tinh vi nhất của ác tính. Nó có khả năng “làm mờ” cả hào quang (hay minh tri) của các hàng chư thiên, trong hai cõi Sắc giới và Vô sắc giới, khiến cho thiên chúng trong hai cõi ấy tưởng lầm rằng «họ đã trở thành bất diệt», nên không tiếp tục nuôi dưỡng thiện căn nữa, để sau đó bị luân hồi.
Và dưới cái tên «ác pháp tinh vi» nầy, mà « Thiên Ma » (hay nói chung là mãra) hiển nhiên là động cơ kéo vào sa đọa đến cùng, để cản trở tất cả những ý chí giải thoát của các hàng phạm hạnh, đã tiến hóa khá cao, nhưng chưa tròn Ba La Mật, chưa bước vào thánh lưu, khiến họ tự mãn dừng lại, -nhất là «nó» gây chướng ngại không ít, cho những phát triển thuộc về tâm linh tự lực hướng thượng. (-Như an trú trong chánh định !).
Thật vậy, trên thế gian nầy không có một vị Bồ-Tát (2) nào, khi thực hiện những điều lành mà không bị các chướng ngại pháp, từ nội tâm cũng như ngoại cảnh chi phối, cản trở. -Chi phối đến nổi mà đã có một nhà nghiên cứu “đạo đức học” phải thốt lên câu nói « Thể hiện đạo đức là một điều rất nguy hiểm ! » -Nguy hiểm không những trên phương diện vật chất mà còn nguy hiểm cả trên phương diện tinh thần, vì « ma vương » (ác tính) lúc nào cũng có mặt cản trở, không phải chỉ bên ngoài, mà «nó» còn ẩn núp đục khoét sâu kín bên trong thân tâm nữa.
Ðến đây soạn giả xin phép được mỡ ra nhiều dấu ngoặc, để lưu ý về các danh từ “ma vương” (=ác tính) và “thần chết”. Hai danh từ nầy hiển nhiên cũng được một số các tôn giáo khác thường dùng. Nhưng họ dùng với những ý nghĩa được « quyền năng hóa », hơn là để tượng trưng cho tử tính (hay ác tính) trong mọi sinh động vật. Nghĩa là các tôn giáo ấy không «trình bày» như Phật giáo.
Ngoài ra, các tôn giáo khác còn tô điểm, vẽ vời, làm phong phú thêm các ý nghĩa huyền bí của 2 chữ «Ma Vương» ấy, bằng cách tượng hình hóa những « quyền năng hoang đường » của “thần chết”, với những hình ảnh. Họ tưởng tượng ra những “nhân vật” như Diêm Vương, quỉ Sa Tăng, Âm tướng.v.v… để « quản trị lãnh thổ» của «Ma Vương». Nói Tóm lại, ý nghĩa và « vai trò » của những « quyền lực » vừa nói, theo niềm tin của các tôn giáo khác, thì hoàn toàn khác với hàm ý của hai chữ ma vương (Màra) trong Phật Giáo, nhất là Phật Giáo Nguyên Thủy.
Cũng theo các tôn giáo khác, đó là những bộ phận thừa hành, của « Thượng Đế ». Những «bộ phần thừa sai» ấy có “thế giới riêng” và có “quyền lực riêng”, trên sự hiện hữu của tất cả sinh linh, nhất là con người, để đảm nhiệm việc trừng phạt những linh hồn dám phạm thượng, hay nghịch lại « mệnh lệnh » của đấng Toàn Năng. Hoặc «họ» cũng là “thẩm quyền trung gian”, mang đến sự ân thưởng, cho những kẻ luôn luôn phục tùng các thánh quyền ấy.
Nhưng Phật Giáo thì quan niệm ngược lại. Phật Giáo cho rằng « ma vương« (3) hay tử tính, tức là tham dục nội tại câu hữu với ngoại trần biến dịch. Trong một vài trường hợp, Phật Giáo cũng dùng cách diễn tả “thần khải”(4) của quần chúng, như nói về « đạo quân ma vương« , dưới hình thức nầy hay dưới hình thức khác, cho dễ hiểu hơn, đối với những người gốc từ những tín ngưỡng khác, mới làm quen với Phật giáo, hay những người muốn “tượng hình hóa” một số diễn tả trừu tượng.
Tuy nhiên, đạo Phật vốn là một « tôn giáo » lấy trí tuệ và nguyên tắc nhân-duyên-quả làm căn bản, để định hướng cho mọi hành động, nên những tin tưởng hoang đường hay mê tín dị đoan, người tin Phật luôn luôn tuyệt đối tránh.
Do đó, người mới làm quen với đạo Phật, nhất là Phật giáo Trung Hoa, dù lúc đầu có nghe nói đến những hình thức trả quả ác qua khổ cảnh địa ngục, có Diêm Vương “xử phạt”..v.v…nhưng càng về sau họ càng được lời Phật dạy chiếu sáng ngọn đuốc trí tuệ (Bát Nhã) vào tâm trí, bằng cách chỉ cho họ thấy rằng : « Ðạo quân Ma vương ấy chỉ là một cách diễn tả, mượn cái hình thức nghĩ ra được, để cho người nghe biết tới những khổ não sa đọa, thoái hóa, vô minh, khó nghĩ thấu ».
Trong Kinh Mahã Niddesa, chúng ta cũng tìm thấy một đoạn nói về các hiển lộng của « ma vương » (Marassa senã), gồm 11 loại như sau:
1- Kãma mãra : Ma quân ham muốn,
2- Arati mãra : Ma quân ác cảm,
3- Kuppipãsã mãra : Ma quân khát vọng,
4- Tanhã mãra : Ma quân ái dục,
5- Thĩnamiddha mãra : Ma quân hôn trầm,
6- Bhĩru mãra : Ma quân sợ sệt,
7- Vicikicchã mãra : Ma quân nghi kỵ,
8- Makkha mãra : Ma quân giả đạo,
9- Thambha mãra : Ma quân cứng đầu,
10-Labha màra : Ma quân vị hữu,
11-Attana màra : Ma quân ngã mạng, (tự tôn mình lên bằng cách dèm pha, hạ thấp kẻ khác.
-Riêng «Ma quân vị Hữu» có bốn bộ mặt, là : a/Siloko: mê lợi lộc, b/Sakkãro: ưa tâng bốc, c/Micchãladdho: xui theo hoang đường, tà kiến, d/Yo yaso: thích danh tiếng phù du, và sự vật giả tạo. «Yo cattãnaŋ samukkaŋse pare ca avajãnati».
(Trích Mahà.Niddesa I. 96).
Mặt khác, khi đọc lại kinh điển Phật Giáo, chúng ta cũng tìm thấy nhiều chỗ nói rằng Màra (ma vương) đã xuất hiện và công kích những ân đức của Phật, hoặc công kích một số giáo lý sâu xa, mà đấng toàn giác đã thuyết ra, để vạch trần các nguy hiểm của ác tính. Như vậy, phải chăng Ma vương là một quyền lực có thật, vượt lên trên sự hiện hữu của tất cả chúng sinh, và chỉ có thể bị sai khiến bởi một đấng « toàn năng », như một số tôn giáo hằng tin tưởng ? -Hay «ma vương» chỉ là một ẩn dụ trong Siêu Hình Học ?
Về điểm nầy, chúng ta hẳn không quên rằng, trước khi đức Phật ra đời, nền văn học Bà La Môn giáo đã đi đến chỗ cực thịnh tại Ấn Ðộ. Một trong những cổ thư do nền văn học kia lưu lại, là bộ Katha Upanisad (tạm dịch là Phệ Ðà Luận), đã nói về bản ngã như một lý thuyết thần thánh, phải được dân gian tuyệt đối tin tưởng, không nên thắc mắc. Ai cả gan đặt câu hỏi về nguồn gốc của bản ngã sẽ phạm « trọng tội »(?). Sử liệu ấy còn ghi rõ « Katha Upanisad là cuốn sách thuật lại những phán quyết của vị thần cai quản cõi chết ». (Mrtyu proktam katha, 6.18 – 4).
Toàn thể nội dung của giáo thư nầy dưới con mắt của các tín đồ đạo Bà La Môn, hẳn nhiên là không có gì khó hiểu, hay nghịch lý cả, vì đối với họ « Phần hành của thần chết, của thần chỉ huy, và của thần sáng tạo, đều nằm trong tay của một đấng «chủ thể», là Phạm Thiên tối thượng ». (Phiên âm danh từ «Bà La Môn» đến từ chữ «Brahma», tạm dịch là «Phạm Thiên»).
Nhắc như thế để chúng ta thấy rằng, những đại Thinh Văn ghi chép lại Tam Tạng kinh điển Phật giáo, khi diễn tả những lời phân tích và khuyên nhủ của đức Phật, về « Bình luận Phệ Ðà », đã khéo léo tượng hình hóa sự độc đoán của giáo thuyết ấy, bằng chính cái nội dung của nó. -Nghĩa là, thay vì nói rằng Ðức Phật vẫn bị tà kiến Phệ Ðà gây trở ngại không ít, trong lúc Ngài biện minh chân lý giải thoát, thì họ lại bảo rằng đức Phật đã gặp ma vương xuất hiện để khuấy phá. -Theo thiển kiến của chúng tôi, “Ma Vương đây cũng chính là cái tà kiến nguy hiểm của xã hội Bà La Môn lúc bấy giờ” !
Mặt khác, về phương diện trí tuệ xuất thế (Lokuttara Prajña), những vị ghi chép lại kinh điển Phật Giáo ngày xưa, là các hàng thánh tăng. Tâm hồn của chư vị nầy đã hoàn toàn thanh tịnh, giải thoát, và trong sáng. Sự tỷ giảo và tượng hình hóa «ma vương» của các vị ấy, còn có những ý nghĩa cao thâm khác, vi diệu hơn, nhất là trong chiều sâu của vô cực vũ trụ, và nghiệp lực của chúng sinh. Chúng ta không thể nào hiểu thấu, khi thân tâm chúng ta chưa hoàn toàn trong sạch và thoát chấp.
Nhưng dù cao thâm đến đâu, cái căn bản tiến hóa của Phật Giáo, vẫn luôn luôn là căn bản tự tu và tự độ, dựa theo định luật nhân quả và nguyên tắc nhân duyên. Danh từ «Màra» (tạm dịch là « ma vương ») xuất hiện trong kinh điển nhà Phật, dĩ nhiên chỉ có thể coi như một phương tiện giáo hóa, hơn là để tôn danh cái vị « thần cai quản cõi chết ».
Trong kinh Nivàpa có một đoạn ngụ ngôn như sau :
« Một người bẩy nai bằng cách gieo mạ để nhử. Con nai thứ nhất đánh hơi được cỏ non liền đến ăn, đã làm mồi cho người săn thú. Con nai thứ hai thấy rõ mọi diễn tiến, nên tránh không dám bước vào đám cỏ, quay về hang. Nhưng sau đó vì sự thèm muốn dày vò, bèn trở lại kiếm ăn, dù với sự cảnh giác cũng vẫn bị người bẩy thú bắt được. Con nai thứ ba, nhờ quan sát những bất hạnh xảy đến cho hai con trước, nên cẩn thận hơn, không dám vô sâu, chỉ ăn chút ít cỏ ngoài bìa cho đỡ lòng, rồi lập tức về hang, song không tránh khỏi tầm mắt của người bẩy thú, lúc nào cũng theo dõi xung quanh đám mạ. Cuối cùng nó cũng bị người săn thú tìm ra chỗ ở để bắt. Riêng con nai thứ tư chứng kiến sự nguy hiểm của ba con nai trước, nên ẩn mình cách xa đám mạ, không cho người săn thú phát giác, rồi cẩn thận kiếm hang khác để trú, thoát chết ! » (Trích dịch từ Nivàpa Sutta thuộc Majhimanikãya I. 151-160 : Trung Bộ Kinh, quyển số I, các trang từ 151 đến 160).
Kinh Nivãpa diễn bàn tiếp :
Người gieo mạ chính là ma vương (hay ác tính), còn đám cỏ chính là những khoái lạc ô-nhiễm của cuộc đời. Bốn con nai tượng trưng cho bốn loại người : -Loại thứ nhất cho rằng, hưởng thụ tối đa mọi khoái lạc trên đời, là một điều đáng làm, nên đã rơi vào bàn tay của ma vương, tức rơi vào vòng đau khổ luân hồi. -Loại thứ hai thấy những hậu quả của khoái lạc ngũ trần, tuy sợ nhưng nhu nhược trước sự thèm muốn, không đủ sức mạnh trí tuệ để diệt trừ, mà chỉ dùng phương pháp né tránh, ép buộc thân xác để thủ thắng (tức khổ hạnh). Loại nầy không sớm thì muộn sẽ lọt vào màng lưới khoái lạc của ma vương, vì sức chịu đựng thân xác một cách mù quáng, bao giờ cũng có hạn, và sẽ phản ứng ngược lại. -Loại thứ ba tuy biết những khoái lạc ấy là nguyên nhân đau khổ, và cố kềm chế phần nào. Nhưng định kiến không dứt khoác, ý thức không đi đôi với hành động, khiến mình vẫn còn lạc trong vùng rình rập của ma vương. -Chỉ có loại thứ tư, tức là loại gìn giữ đức tin chân chánh, sáng suốt và tinh tấn trong đạo Phật, để tự giải thoát.
Nghĩa là người con Phật phải luôn luôn tri túc trong đời sống hằng ngày, không chủ trương hai điều thái quá, một là thả trôi theo hưởng thụ dục lạc và hai là khổ hạnh mù quáng. Ðồng thời chăm lo tu hành thanh tịnh để phát triển trí tuệ. Loại nầy chắc chắn sẽ thoát khỏi nanh vuốt của ma vương, bước ra ngoài vòng sinh tử luân hồi. Ðối với loại người thiện trí nầy, ma vương chỉ là một nguy hiểm giới hạn, không còn là một thực lực đáng sợ nữa.
Tóm lại, câu chuyện ngụ ngôn « gieo mạ bắt thú » trên đây không có mục đích gì hơn, là nói lên rằng : «Dù ma vương có gian hoạt và quyền lực đến đâu, khi con người đã đạt đến chổ thanh tịnh giác ngộ, hoàn toàn giải thoát khỏi dục vọng, thì nó sẽ trở nên bất lực».