QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO VỀ “ÐỊA NGỤC”

Theo quan niệm chung, khi người ta nói đến « địa ngục », là người ta nói đến một hình thức trừng phạt tội lỗi của « linh hồn ». Vậy địa ngục không gì khác hơn là môi trường đọa đày của những tâm hồn tội lỗi. Hay nếu phát biểu một cách “Phật học” và tổng quát hơn, thì « địa ngục là cảnh giới của những sinh linh tội lỗi ». Những “sinh linh” nầy, (bao gồm cả ma quỷ, phần nhiều là vô hình), khi trả hết quả xấu, có thể luân hồi vào một cảnh giới tương ứng với bản tánh của họ.

Nhưng đối với thế gian, hai chữ « tội lỗi » thường rất mờ nghĩa, nhiều khi còn mâu thuẫn là đằng khác. Chẳng hạng như tại một số quốc gia theo đạo Hồi mà ăn thịt heo, thì thật là tội lỗi, còn xơi thịt bò thì lại không sao. Ngược lại ở những nước theo Ấn Ðộ giáo, kẻ nào dám tiêu thụ thịt bò, là kẻ ấy phạm rất nhiều tội lỗi, mà ăn thịt heo thì lại không sao. Người thuần thành theo Ấn Độ giáo không bao giờ dám nhìn miếng thịt bò, chứ đùng nói là tiêu thụ, vì sợ phạm thánh.

Kẻ soạn quyển sách nhỏ bé nầy đã một thời tòng học, tại viện cao đẳng Phật học Nalanda, một vùng thôn quê nước Ấn Ðộ. Ở đây, nơi nào có một bụi é-tím hay một bụi é-xanh, là nơi đó có một bàn thờ thần thánh. Dù cho giống cây ấy mọc ngay giữa đám ruộng, gây trở ngại cho việc canh tác, người ta cũng không dám nhổ bỏ, vì sợ phạm thánhtội lỗi !

Rồi cũng tại nơi đây giống rau muống là thứ « cỏ dại » mà dân địa phương xem là « ô trược », chỉ dành để nuôi heo bò, lại được sinh viên Việt Nam rất chiếu cố. Tức là cùng một vật mà ở Ấn Ðộ rất bị coi thường, « khi dể », trong khi đó tại VN, nhất là miền Bắc thì rau muống là món “légume” phổ thông ăn rất tốt.

Xem như thế đủ thấy rằng, hai chữ “ô-trược” hay « tội lỗi » của thế gian, thường không đồng nghĩa với danh từ tội lỗi trong Phật Giáo !

Vậy Phật Giáo quan niệm hai chữ tội lỗi như thế nào ? Theo Phật Giáo “tội lỗi chính là sự tự ý thức rằng hành động của mình, gây đau khổ cho đồng loại, hay cho một sinh vật khác”. Và gây đau khổ là ác độc !

Cũng có người lý luận : « Do hấp thụ những nền văn hóa (tin có thần thánh và thượng đế) khác nhau, mà cùng một hành động làm đổ máu, có thể ở nơi nầy cho là gây đau khổ, còn ở nơi khác thì lại xem như một hình thức “nghi lễ” tự nhiên, nhất là để cúng tế, hướng về các đấng thiêng liêng, vì hy sinh cho thần thánh, t không gây đau khổ, không ác độc. -Như thế, đâu là quy tắc để ấn định chuyện “thiện- ác” hay tội lỗi ?! ».

Với lối ngụy biện, dựa trên sự né tránh hậu quả, viện dẫn theo tín thành tôn giáo, một cách vô trách nhiệm trên đây, Ðức Phật lúc còn tại tiền, đã không chủ trương tranh luận với những kẻ cố chấp, si mê, tham lam vị kỷ, vì đó là một điều vô ích.

Nhưng Ngài vẫn do lòng từ bi, gián tiếp giảng giải trong mọi kinh điển, khuyên các hàng học Phật sau nầy, nên tự vấn, suy gẫm, và tìm trả lời câu hỏi sau đây : “Ai có thể tin rằng khi người ta đem một con thú ra giết chết, để lấy máu tế thần tế thánh (hoặc để ăn, viện dẫn là « vật dưỡng nhơn »), rồi bảo đó là lẽ tự nhiên, hay vì lẽ thiêng liêng, và không biết con thú bất hạnh ấy đang chịu sự đau đớn ?”, hoặc “Khi người ta cuồng tín, hành hạ một nạn nhân (như thời cổ Ai-Cập, vợ phải bị chôn sống chung mộ, theo người chồng qua đời), mà người ta không ý thức được rằng người đàn bà ấy đang tuyệt vọng, khốn khổ ?”

-Hay Ðó chỉ là một hành động từ bản tánh tham lam, ác độc, hối lộ thần thánh, mà con người vì bị ngu dân, ích kỷ và cuồng tín, mà không dám nhìn nhận, rồi qui hết trách nhiệm vào những quyền lực siêu nhiên trừu tượng, một cách hoàn toàn vô lý, xảo trá, và phản tự nhiên !?

Bình tâm xét kỹ, thì không có một tôn giáo nào, một nền văn hóa nào, có thể biến hẳn cái cảm quan, hay cảm tình và ý thức của con người, trở thành trái ngược, để thấy sự mê tín là hữu lý, để kết luận sự dả man tàn ác là một việc tốt « hướng về thiêng liêng », để lấy cái chết của sinh vật nầy bồi dưỡng cho sinh vật khác là một điều “mành mạnh” tự nhiên, -dù nền văn hóa ấy hay tôn giáo ấy, có lối suy nghĩ nghịch chiều nhất trần gian đi nữa !

-Ai có thể chấp nhận rằng con người vì tin tưởng một đấng toàn năng mà mất hết mọi cảm giác, đảo ngược mọi ý thức bình thường, để có thể làm một việc ác độc mà không biết gì về tác dụng của nó, và yên tâm cho đó là hành động theo « ý muốn » của thần linh ?-Hoặc đã làm xong một điều tội lỗi rồi, mà tin rằng nếu cầu xin thần linh tha thứ, thì tội kia sẽ hết ?

Nói tóm lại « ý thức mình (con người) đã gây đau khổ đến một đối tượng nào đó chính là tội lỗi ». –Và tạo tội lỗi hay tạo đau khổ chính là xây địa ngục cho chính mình ! Phật Giáo còn nói rõ hơn « Tội lỗi là sự thành hình hay kết quả đau khổ của kẻ tạo ác nghiệp » (Akusala kamma, Akusala vipàka).

Theo Phật Giáo, có ba loại chịu đựng đau khổ, là biểu tượng của thoái hóa, của sa đọa, hay của địa ngục :

1/ Ðau khổ vì nghiệp quả hiện tại, hay còn gọi là đau khổ thuần vật chất. Ðây là sự đau khổ của thể xác, của bệnh hoạn, do những phản xạ tự nhiên, từ các hệ thần kinh, từ các tế bào bị thương, hay từ mạch máu nhiễm độc do vi trùng gây ra. Loại nầy tạm ví như khi ta ăn cơm vô ý cắn trúng lưỡi, hoặc lúc đóng đinh đập nhầm đầu ngón tay. Sự đau khổ này có thể xem tương đương với trạng thái đau khổ của các loài thú vật, khi va chạm với những khắc nghiệt của thiên nhiên.

2/ Ðau khổ vì nghiệp quả đa thời, hay còn gọi là đau khổ thuộc về tinh thần. Ðây chính là sự đau khổ đeo dính trong tâm, xuyên suốt dòng thời gian, chẳng hạng như sợ sệt, bức xúc, tiếc rẻ, nhớ nhung, bất toại nguyện, oán hận, hay hoang mang v.v…

3/ Ðau khổ vì nghiệp quả huân tập, hay còn gọi là đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần. Nói cách khác, ấy là loại đau khổ hầu như dành riêng cho thế giới loài người. (mang thân Ngũ uẩn, gồm Sắc, thọ, tưởng, hành, và thức). Nó là sự hỗn hợp của hai loại chịu đựng đau khổ kể trên, và nó cũng chính là hậu quả « tất nhiên » của « bánh xe luân hồi », bao gồm những pháp hành bất thiện, hoặc bao gồm những hành vi, vừa thiện vừa bất thiện, thuộc “vật chất lẫn tinh thần”, hay thuộc danh và sắc.

Nếu sắp lại theo thứ tự từ thấp lên cao, hay từ khía cạnh cụ thể đến khía cạnh trừu tượng, thì ba loại đau khổ ấy có thể viết ra như sau :

1-Ðau khổ của thể xác, khi tái sinh làm “động vật” (kể cả loài người), như đói khát, lạnh nóng, hay bệnh hoạn, phản xạ sinh hóa trong xương thịt (cơ bắp), qua các giai đoạn, sinh, thành, trụ, hoại. Cụ thể.

2-Ðau khổ của linh hồn (tinh thần), khi tái sinh làm  một số chúng sinh có “trí khôn” (chấp thủ), biết tư duy, hay “biết” dày vò tâm ý qua tư tưởng khao khát, trong « đọa cảnh bất toại nguyện », như thiên ma (A Tu La), Ngạ Qủy, cô hồn, các đẳng..v..v.. Trừu tượng.

3-Ðau khổ của “địa ngục trần gian” (thể xác lẫn tinh thần), đặc biệt là khi tái sinh làm người, và vì tham sân si, khát vọng, mà xung đột tranh giành không ngừng, để thõa mãn sự sống. Cả trừu tượng lẫn cụ thể. 

Phật Giáo tuy không xác nhận có một « địa ngục nhất định », do một đấng “thẩm quyền toàn năng” nào đó dựng lên, để trừng phạt những ai không tuân theo ý muốn của đấng “toàn năng” ấy. Nhưng Phật Giáo tin chắc có một tình trạng « khổ đọa » có thể được mắt trần nhìn thấy, và cũng có thể vì bị cách nghiệp, không được mắt trần nhìn thấy.

Tình trạng khổ đọa ấy người ta muốn gọi bằng danh từ gì cũng được, như “nhân cách hóa” là « địa ngục âm ty » chẳng hạng. Nhưng điều chính yếu mà chúng tôi muốn làm sáng tỏ ở đây, là « âm cảnh tù ngục » kia, không bị hạn chế bởi thời gian lẫn không gian, như con người thường tưởng tượng, -mà một cách chánh đáng hơn « âm cảnh tù ngục » ấy, theo đạo Phật, là một khổ cảnh do chính nạn nhân, vì bị vô minh ái dục che áng, mà tăm tối thường xuyên tạo ra.

Ví như một kẻ vì tham muốn được mọi người nể phục, khoe khoang rằng mình có thần linh « hổ trợ », rồi khôn khéo luyện tập để biểu diễn, bẳng cách lấy viên sắt nướng đỏ, bỏ vào lòng bàn tay. Kết quả, nếu đó là một xảo thuật bí mật, chỉ có người biểu diễn mới biết thôi, thì người biểu diễn cũng tự hiểu thêm rằng “Mình đã làm cho người khác tin vào cái không thật, hay lừa gạt”. Và lừa gạt là một điều không tốt, đáng thẹn.

Còn nếu đó là một công phu có thật, do cuồng tín khổ hạnh “luyện thành”, thì sức nóng vẫn thiêu đốt kẻ tham danh ấy, làm cho y đau đớn như thường, như nó hằng thiêu đốt bất cứ ai, chứ lòng cuồng tín không thể miễn khổ cho được. Chỉ khác ở chỗ là vì cuồng tín, mà y rán chịu đựng, và khéo léo che mắt khán giả, làm cho khán giả không nhìn thấy nét đau khổ ấy mà thôi.

Sự đau đớn của một người vì ham danh, bị viên sắt nướng đỏ đốt lòng bàn tay, không hẳn phải chui vào địa ngục mới gánh chịu, hoặc cũng không phải do người ấy thiếu lễ nghi cúng kiến, bị 1 quyền lực thần linh nào gia phạt, mà chính do người biểu diễn viên sắt nướng đỏ ấy tự tạo ra, ngay thực tại hiện tiền, không thể nào tránh khỏi. Đây là địa ngục trần gian do tham sân si biểu lộ !

Khi một người hành động bất thiện, như giết người, cướp của, gạt gẫm, gian đoạt..v.v… người ấy không cần phải sống trong một xã hội có luân lý đạo đức, mới tự biết rằng việc làm của mình gây đau khổ đến kẻ khác.

Tương tự như thế, kẻ cầm viên lửa cháy đỏ kia, dù biết là nóng hay “tin” là không nóng vì có thần linh che chở (giả sử như vậy), thì họ vẫn chịu đau khổ vì sức nóng công phạt như thường. -Càng không nên ngụy biện một cách vô căn cứ rằng « sức nóng ấy chỉ thiêu đốt, nếu đương sự không tin vào sự che chở “toàn năng” của thần linh ». (?!)

Cũng có người lý luận rằng : « Nếu mình biết trước là nóng rồi cẩn thận trong khi tiếp xúc, thì sẽ ít nóng hơn »(?) -Ðây là một lối ngụy biện khác, vì cẩn thận tức là không đụng tới, chứ một khi đã va chạm, thì sức nóng vẫn gia hại như nhau, nhưng khán giả vì dễ tính cả tin, rồi chủ quan nên không nhận ra thôi.

Trên thực tế, khi biết trước ấy là nóng, cái lo sợ đã lập tức có mặt trong tâm rồi. Trường hợp nầy, cái khổ vì nóng càng phức tạp hơn, vì nó sẽ tăng cường qua sự nơm nớp lo sợ.

Nhưng trường họp trẻ con quá nhỏ không hiểu biết, chưa có kinh nghiệm về sự khổ, lúc thấy lửa tưởng là đồ chơi, và khi mó vào chúng mới bị sức nóng thiêu đốt, thì sự đau khổ của trẻ thơ chỉ thuần túy ở thể xác, chứ không như người lớn, bị cái nóng công phạt không những thể xác, mà luôn cả tinh thần, là tự trách mình « tại sao phải chịu thiêu đốt như vậy ? ».

Và Phật Giáo vẫn kết luận : Sự đau khổ ấy chính là địa ngục, hay sự tự biết rằng « Mình đã gây đau khổ cho chính mình hay cho kẻ khác chính là địa ngục ! »

Ðức Phật là bậc Toàn Giác, sự chứng ngộ tận cùng và trí tuệ tối thượng, đã giúp Ngài khám phá ra tất cả những phản ứng thần học vi tế nhất, cách nay đến hơn 2500 năm. Trong lúc mãi đến đầu thế kỷ thứ hai mươi, các nhà bác học nhân thể mới thí nghiệm, xác nhận nổi những phản ứng vật chất.

Mặt khác, đức Phật không những đã cắt nghĩa thông suốt mọi phản ứng thể xác, mà Ngài còn có thể chỉ rõ ra, một cách có hệ thống, các tư thức sâu xa trong tâm hồn con người. Theo đức Phật, tâm linh càng mở rộng, đau khổ càng giảm thiểu. Mà muốn cho tâm thức được mở rộng, con người nói riêng (và chúng sinh nói chung) cần phải hành động sao cho tiềm thức không mang cảm giác rằng « mình đã gây đau khổ đến sinh linh khác! ».

 Nghĩa là chỉ có tác ý thiện, tức là chủ trương tạo vuicảm thông bao la, mới không dẫn đến tình trạng đau khổ, mới không trói chặt tâm hồn, và mới không tạo tù ngục cho bản ngã (paṭala) !

Sở dĩ muốn cho tâm thức của mình được mở rộng, chúng ta không nên gây đau khổ đến sinh linh khác. Bởi mỗi lần tạo nghiệp ác, là một lần ta vô tình xây cho ta một lớp tường oan trái, ngăn cách, để ta không thể nào cảm thông bao la, hoà đồng với những sinh linh xung quanh. -Mà càng không có cảm thông tức là càng không có hòa hợp, và không có hòa hợp tức là rơi vào vòng xung đột, hạn chế, cô lập, tù ngục.

Trong kinh Saŋyutta Nikãya (Tập Bộ Kinh), đức Phật đã dạy « Ðịa Ngục là một danh từ để ám chỉ các cảm giác đau đớn, dày vò, vì cô lập và sợ sệt của tâm thức ». (S.IV 306). Do đó « địa ngục là sự cầm tù cái bản ngã giả hợp và đa dục của chính mình ».

Tạo bản ngã hay dựng chỗ để chứa đựng đau khổ, đã là một điều ngu muội rồi. Còn gây nhiều tội lỗi để cầm tù bản ngã, lại là một sự ngu muội khác nghiêm trọng hơn. Nguyên ủy của cả hai tình trạng bất hạnh ấy, trong Phật Giáo gọi là vô minh.

Nếu chúng ta phải tìm một từ ngữ chế định nào đó, tạm đủ nghĩa để mô tả “nền tảng” của địa ngục, thì hai chữ thích hợp nhất chắc phải là vô minh (Avijjã). Vì ngoài nguồn gốc vô minh ra, không có cái thể tướng nào tiêu biểu hơn, để mô tả địa ngục.

Khi chìm đắm trong vô minh đó, chúng sinh không biết rõ vị trí của mình (vô không gian), không thấy mình có sự biến chuyển, biến hóa (vô thời gian) và càng không bao giờ có cảm giác thích hợp (vô hạnh phúc).

Theo Phật Giáo, vũ trụ của chúng sinh là một môi trường nhị nguyên, và vòng luân hồi của cõi người là một vòng tròn hiếu động. Thế gian không gì khác hơn là tất cả những chu kỳ tan hợp, của biến chuyển bụi trần trên mặt đất. Và địa ngục chính là cảnh sa đọa tận cùng của cái vòng hợp tan sinh hóa ấy.

Các nhà khoa học thường mô tả « thời gian là một hố thẳm » (Galaxie), nhưng theo Phật Giáo đó là pháp “Vô Minh Ðộng” (Avijjà paccaya sakhàra), một thứ khởi động theo hình vòng xoáy vô thủy, vô chung, vô cùng, vô tận…bao gồm và lôi kéo hằng hà sa số « vô minh huyền quang »(matière noire).

Quỷ đạo khởi thủy của vòng xoáy ấy có thể ngẫu nhiên đi từ hẹp đến rộng, để thong thả, bình an (tương đương với tiến hóa), tức là tình trạng “không vô biên”(Akàsà nañcàyatana), chẳng có gì đáng nói. Nhưng “qủy đạo khởi thủy” ấy cũng có thể ngẫu nhiên, đi từ rộng đến hẹp, để chật chội, xung đột, đè nén, quay cuồng, loạn hợp, bất định, và mù mịt, không lối thoát (=thoái hóa), thì kết quả là “big bang”, nổ tung “khai sinh vũ trụ”.

Rồi một số lượng rất lớn nào đó, trong hằng hà sa số “vô minh huyền quang” ấy cũng “ngẫu nhiên” nằm trên một phương trình kết hợp, thì được dung hòa, thuận duyên, tuần tự tương giao, hội nhập phát quang, và “phản chiếu phân biệt”, nên tiến hoá biến thành vô số “tế thức” phiêu lưu diệu hữu, “bay bền bồng” trong mênh mông vũ trụ….

Vô số “tế thức” nầy cứ thế biến tính dần dần, để về sau trở thành “những vi thức”, rồi tiếp theo “vi thức” trở thành chúng sinh thức”, -tức là những “năng lực biết sống” (vô củng nhỏ, so với vũ trụ), bao gồm từ vi trùng, sâu bọ, cho đến những sinh vật có  thân xác to lớn, hay bao gồm từ những “mạch sống” thấp kém tối tăm nhất, cho đến những “linh hồn” thông minh nhất. Và kể từ đó, tình trạng phân biệt mới bắt đầu biểu lộ ranh giới, và hai chiều tiến hóa lẫn thoái hóa (luân hồi thăng đọa) cũng có “chu trình” rõ rệ hơn.

Chúng sinh nào càng mở rộng sự cảm thông trong bản thể “quang minh tự chiếu”, hay càng loại bỏ được trược tính (ác ý) trong tâm thức, thì chúng sinh ấy phải đi ngược chiều với vòng xoáy thu hẹp kia, để dần dần được thoải mái, thong thả, an tịnh, và đại hợp. -Nghĩa là sau cùng thoát ra khỏi cái hành lực chật hẹp, cuốn hút, để từ đó có thể thanh khiết, tự do, hoà đồng vào vô biên vũ trụ, xa lìa hết mọi xung đột, trì trệ, gút mắc, tức là giải trừ đau khổ. Còn ngược lại với mở rộng, là ích kỷ, là thu hẹp, là cuốn chặt, là rơi hút vào vũng xoáy bất tận, là đọa đày vào địa ngục trầm luân !

Người ta không thể nào lý luận rằng « Tạo tội hay tạo phước là một chuyện, và tiến hóa hay thoái hóa là một chuyện khác ».

Xin phân tích, vì hai chiều tiến hóathoái hóa không bao giờ hiện hữu, nếu không có chuyển động, tức là nếu không có hành vi hay tạo tác. Ví như một tinh cầu vẫn đứng yên một chỗ, tức là ở vị trí triệt tiêu, thì không có gì đáng nói. Nhưng khi chuyển động, nó tất phải lăn theo một quỷ đạo hình xoáy. Quỷ đạo ấy hễ mở rộng, thì tinh cầu càng lúc càng thuận tiện, thong thả, nhẹ nhàng, trường cửu, và càng tiến đến chỗ tĩnh đạo, tự do (Nirvãna). Còn quỷ đạo ấy nếu thu hẹp, thì tinh cầu càng lúc càng quay cuồng lông lốc, càng bức bách, càng xung đột, càng mất giác đế, và càng tự mình nghiền nát lấy mình !

Cũng như thế ấy, linh thức của một chúng sinh, hay tinh thần của một con người, một khi đã chứa đầy tội lỗi (ác tính), thì tự nó bức bách lấy nó, tự nó trói buộc lấy nó, tự nó chật hẹp để tự cầm tù, và “tự trừng phạt”. Ấy chính là âm ty ! Ấy chính là địa ngục ! 

Lại có người cho rằng « Vì con người cố chấp, tự lập thành kiến, ấn định như thế nầy là đúng, như thế kia là sai, hay như thế nầy là tội, như thế kia là phúc..v.v…, thành thử khi chúng ta làm được điều phải điều lành, thì chúng ta hài lòng, vui mừng rồi hy vọng, còn khi phạm nhầm điều trái, điều dữ, thì chúng ta bất mãn, lo âu, rồi tự dày vò.  -Họ lý luận tiếp :

-Giả sử chúng ta cứ sống theo “bản tánh” tự nhiên, và xem mọi hành vi cùng vạn vật một cách vô tư (?), không phân biệt phải trái, không đánh giá phúc tội, thì lúc ấy trạng thái dày vò tinh thần kia tất nhiên sẽ vô hiệu, địa ngục hay thiên đường sẽ không còn nữa, và linh hồn cũng sẽ bình an » (?!)

Ðây chỉ là một lối ngụy biện. Vì rằng như trên đã nói «thái độ vô tư chỉ có thể ở vị trí vô vi», tức là không hành vi gì hết, không có pháp hành, ví như tinh cầu kia chỉ nằm yên một chỗ (vị trí triệt tiêu), thì lúc bấy giờ lại không có gì đáng nói, vì vô vi trong trường hợp nầy tương đương với “nguyên tịnh”.

 Nhưng một khi đã khởi tạo hành động, tức là tác pháp hữu vi, thì tiếp theo không thế nào có kết quả bằng phản ứng vô tư cho được.Ví như tinh cầu kia một khi đã bắt đầu chuyển động, lăn theo một quỷ đạo, thì không thể nào không có một chiều tiến và một chiều thoái ! (Chiều tiến ám chỉ hướng đến cảnh rộng, và chiều thoái hướng đến cảnh chật).

Về phản ứng vật lý, đại cương thì như vậy, song về phương diện khoa họcthần học, thì ảnh hưởng của tiến thoái, hay nói cách khác của « phản động vì có động », của « hậu quả vì có nhân » lại càng nghiệm đúng hơn nữa. Không ai có thể chứng minh được rằng : Nếu có một yếu tố thứ nhất phổ lên một yếu tố thứ hai mà chẳng ra cái gì cả !

Trái lại, khoa học qua nhiều lần thực nghiệm, đã kết luận một cách chắc chắn rằng « Khi một yếu tố thứ nhất tác động trên một yếu tố thứ hai, thì phải sinh ra một kết quả là cái thứ ba« . Hai chữ « tác động » ở đây ám chỉ hành vi. Và hiệu lực chuyển từ điểm chủ động đến điểm thụ động, chính là hợp quả phản động.

Còn về phương diện thần học, người ta không thể nào bảo rằng : Khi một người cầm dao đâm chết một người khác, mà người ấy cứ vô tư, cho đó là một điều tự nhiên, chứ không bao giờ tự biết rằng « mình đang gây đau khổ cho một sinh linh khác ».(?)

-Dù người ta có tài hùng biện, tài bào chữa sắc bén đến đâu, cho « thái độ vô tư » kia, thì đó chỉ là dụng ý giải trôi qua cửa miệng, nhưng hoàn toàn trái ngược với cái biết sự thật, tiềm tàng trong tâm thức! Nhiều khi cái « cái biết tiềm tàng » ấy quá vi tế (như trường hợp giết một con kiến chẳng hạn), khiến cho người ta không nhận ra cảm giác, rồi người ta hiểu lầm là tâm thức đang ở trạng thái vô tư.(?)

Theo từ ngữ thần học thông thường, thì cái «cái biết tiềm tàng» ấy chính là « tiềm thức hiếu sát » hay nói theo danh từ Phật Giáo đó là « tâm quả ác » (Akusala Vipãkacitta). Nghĩa là phần ý thức « ghi rõ trách nhiệm của những hành động ác mà một người đã làm ». 

Khi ta hành động ác, dù ta muốn biết hay không muốn biết, dù ta muốn nhớ hay không muốn nhớ, nhưng cái tác-ý-ác ấy trong ta tự nó trở nên củng cố và biến thành tâm quả ác, nằm sẵn trong tâm hồn.

Rồi toàn bộ những tâm quả ác của cả một đời người, sẽ hợp lại xiềng xích thần thức ta, kéo nó lông lốc quay cuồng trong quỷ đạo luân hồi, của hố thẳm thoái hóa, chìm đắm trong khổ cảnh «địa ngục». (Tức trong « môi trường » mà nơi ấy có vô số những linh hồn bị đọa đày, nhưng không linh hồn nào biết rằng ở đó cũng có những linh hồn khác đồng cảnh ngộ với mình cả« ). (Theo Saŋyutta Nikãya IV, Tập Bộ Kinh IV, trang 126).

Nói tóm lại, địa ngục không có vị trí nhất định, địa ngục của chúng sinh nào, thì chỉ có chúng sinh ấy biết thôi. Ðối với các bậc tiến hóa, địa ngục là sự thoái hóa. Còn đối với những hạng thoái hóa, thì địa ngục là sự cô độc, tối tăm, và khao khát quay cuồng.

***

Phần trước                                                                                             Phần tiếp theo