Khi Phật Giáo đề cập đến từ ngữ xấu là muốn ám chỉ một cách tổng quát những điều chẳng lành, bất thiện, hay xung đột trong hiện tại, và di hại, hay sa đọa trong tương lai. Nói chung là tất cả những hành động, ngôn ngữ, hay ý nghĩ nào, hễ có khuynh hướng tạo được sự hài lòng cho phần tử nầy, thì gây thiệt thòi, trực tiếp hay gián tiếp đến phần tử khác, đạo Phật gọi là xấu.
Còn ngược lại với các tác dụng gây ảnh hưởng hay kết quả vừa nêu trên, thì Phật giáo cho là tốt. Nghĩa là hiệu lực, dư âm, và đặc tính của tốt, là thiện thục, tiến hóa, và hòa bình.
Xa hơn nữa, hai tiếng xấu và tốt trong Phật Giáo cũng không mang đặc tính « tùy trường hợp » như từ ngữ « xấu » hay «tốt» của thế gian. Như trong ví dụ “vui” sau đây : Một cô gái được hai người bình phẩm. Người thứ nhất theo nhãn quan riêng của mình, thì cho rằng cô gái ấy đẹp (tốt), nhưng người thứ hai với một nhận xét khác chi phối, lại cho rằng cô gái ấy xấu ! -Ðối với thế gian, cái « tốt » của người nầy rất có thể là không tốt, hay cái « xấu » của người kia, mặc dù trên thực tế lắm khi chúng chẳng khác nhau bao nhiêu.
Nhưng theo nhận thức trong Phật Giáo, thì ý nghĩa của hai trạng thái xấu và tốt nầy không tùy trường hợp như thế. Vì Phật Giáo không căn cứ vào định kiến hay tư duy, mà Phật Giáo chỉ căn cứ vào cảm thọ “chung nghiệp” của pháp hành và dựa trên định luật nhân quả, mà tạm thời phát biểu ra hai chữ xấu và tốt.
Trong ví dụ “vui” nói trên, nếu phải nhận xét về cô gái, Phật Giáo sẽ cho rằng : « Cô gái ấy khả ái và bình thường ». –Khả ái, vì theo Phật Giáo, tất cả mọi người đều đáng thân, đáng được tiếp xúc. Người ấy trong vô lượng kiếp luân hồi qua, có thể đã lắm lần là bà con, thân thuộc của chúng ta.
Nếu hiện tại hình dáng của cô gái được nhiều người ưa nhìn, thì đó là quả lành của những hành động tốt mà cô đã tạo trong quá khứ. Ngược lại, nếu rất ít người « thích hợp » với bề ngoài của cô, tức là cô ta đã gieo nhân xấu trong tiền kiếp, và bây giờ cô cần phải tu sửa. -Còn bình thường, vì cô là một phàm nhân tất cũng có nhiều khuyết điểm, và thân thể cô ta dù đẹp hay xấu, rồi đây cũng phải chịu mọi sự tàn úa tự nhiên (già nua, bệnh hoạn, rồi chết), như bao nhiêu phàm nhân khác.
Nhưng trên khía cạnh «khéo léo» của ngôn ngữ lý luận, lại cũng có người dẫn giải một cách chung chung rằng « Nếu một đối tượng mà chẳng đẹp, lại vô thường, không trường tồn, phù du, là…xấu, thì phải chăng khi một nhân vật có bề ngoài duyên dáng, mỹ miều, hấp dẫn được đông đảo quần chúng ham mộ, thần tượng, truyền tụng…là…tốt ? »
Với thuật «biện lý» nầy, Phật Giáo đề nghị cần có một bổ túc bằng suy xét thanh tịnh, sáng suốt, và sâu sắc hơn trong vấn đề, để luận giải.
Hiển nhiên, người lý luận trên đây, khi đề cập đến vấn đề (gián tiếp ám chỉ cô gái trong ví dụ), đã dùng hai phẩm giá đối nghịch (xấu và tốt), trong hai vế của phát biểu để quy nạp, nếu ở vế thứ nhất họ ngụ ý rõ rằng, trên phương diện thể xác, «đối tượng» ấy chỉ là một khối ngũ-uẩn ngắn hạn, không bền vững, mau tàn úa, giả hợp, và chứa sẵn đau khổ, là xấu, thì Phật Giáo quả đồng ý với vế thứ nhất của người ấy. Vì ý nghĩa xấu nầy là một ý nghĩa xấu chân thật. -Nghiệm thức đúng của ý nghĩa đó, là «đối tượng» ấy đang mỗi ngày một đi gần đến cái khổ vì già, vì bệnh, và vì chết !
Nhưng nếu người lý luận kia khi bình phẩm, dùng các chữ «xấu, chẳng đẹp», chỉ dành cho bất cứ đối tượng nào không có ngoại tướng vừa ý, không hội đủ những nét thẩm mỹ thích hợp với khát vọng của nhãn thức thường tình. Và những gì không thuận với thị hiếu của phàm nhân chủ quan, sẽ bị đời sau quên lảng, hay luật vô thường chi phối, tức là xấu…, thì Phật giáo hoàn toàn không đồng quan điểm với họ.
Mặt khác, nếu họ cho rằng một đối tượng có thân thể và diện mạo tươi đẹp, thanh sắc vẹn toàn, thì dù một ngày kia đối tượng ấy có già nua, có bệnh hoạn, và có chết đi, thì trong tâm tư quần chúng, họ vẫn là « thần tượng », và sau khi chết, nhân vật ấy cũng sẽ được nhiều người truyền tụng, nhắc nhở đến muôn thuở, như vậy tức là “tốt”, thì một lần nữa Phật giáo cũng không đồng quan điểm với họ
-Trong trường hợp nầy, cái tốt của người lý luận vốn dựa trên sự thích hợp nhãn quan, và dựa trên sự «lưu luyến nhắc nhở phàm tình», bắt nguồn từ khía cạnh thuận chiều với tham vọng, chứ không bắt nguồn từ chân lý vô thường, nên Phật Giáo chỉ thấy cái thực tại thể xác là quả lành, do nhân tốt được gieo trồng trong quá khứ, chứ không thấy cái tốt, vì có thanh sắc (hình thức) đẹp đẽ, và được thế gian ưa chuộng.
Vả lại, như soạn giả đã trình bày trong một đoạn trước : Phật Giáo quan niệm « Hành thiện để đạt đến quả vị an vui giải thoát Niết Bàn là một phẩm cách tốt ». Cái tốt ấy là một cái tốt tịnh lạc, vì các đặc tính tiến hóa, trường cửu, thanh khiết, tự tại, trong sáng, và giác ngộ. Nghĩa là tốt một cách an ổn, bền vững, cao thượng, giá trị vượt lên trên mọi thứ tốt vướng mắc của thế gian !
Trong kinh đức Phật cũng dạy : « Phẩm vị tốt đẹp nhất là chấm dứt vòng sinh tử luân hồi, để ở đó không còn dư sót giả hợp, không còn chịu đựng xung đột, cũng như ở đó không còn biên giới, không có đơn vị để đo lường cực lạc ». (Atthaŋ gatassana pamãnaŋ atthi). -Theo Tạp Bộ Kinh, Saŋyutta Nikãya, số 1076.
Ðối nghịch với phẩm cách tốt, để đạt đến thanh tịnh tối thượng, giải thoát Niết Bàn, tức là xấu sa đọa, hay “vô hạn” bất hạnh, trầm luân. Phật Giáo nhấn mạnh hai chữ « vô hạn » ở đây, để chỉ rõ chiều sâu nguy hiểm của tất cả các trạng thái xấu (bất thiện). Vì không một điều xấu nào mà không có chiều sâu di hại, dẫn đến một điều xấu khác, và tiếp tục mãi mãi sau đó !
Theo Phật giáo, tất cả chúng sinh chỉ có hai con đường phải đi : Một là « tốt để tiến hóa » hướng đến thanh tịnh cao thượng, tự do giải thoát. Và hai là « xấu để thoái hóa », lạc lối, quanh quẩn giữa rừng sâu sinh tử luân hồi. Dĩ nhiên trong cảnh trầm luân ấy, cũng có đầy đủ (lắm khi còn nhiều hơn gấp bội), những thứ hạnh phúc tạm bợ, lừa gạt, bề ngoài đầy vẻ hấp dẫn, nhưng thực chất hoàn toàn trái ngược với hạnh phúc giải thoát.
Thay vì ở quả vị tịch tịnh niết bàn, hay ở cảnh giới tiến hóa, có những phẩm cách, như thanh khiết, bền vững, tự tại, trong sáng, và giác ngộ v.v.., thì ở trong vòng dục vọng, sinh tử luân hồi, chúng sinh phải chịu những trạng thái bất toại nguyện, như khoái lạc ngắn ngủi, vô thường, khao khát, ô nhiễm, xung đột, âu lo, ích kỷ và ngu muội.
Nói cách khác, tất cả những gì có mặt trong đời sống thoái hóa, sa đọa, thường là nguyên nhân lôi cuốn con người đi ngược chiều với con đường hướng thiện (tiến hóa). Phật Giáo gọi chung tất cả những « ngược chiều » ấy là xấu.
Sự xấu xa đen tối nầy biểu hiện ra muôn hình vạn trạng, tùy theo vô số hành nghiệp của mỗi mỗi sinh vật, cũng như tùy theo thay đổi của hoàn cảnh, tùy theo ý lực, và tùy theo xác thân hiện hữu trên cõi đời nầy.
Ðức Phật là bậc toàn giác, nên Ngài đã tìm ra được một lối thoát, một gạch nối, hay mối quan hệ duy nhất, giữa hai con đường xấu (thoái hóa) và tốt (tiến hóa) ấy. Cái gạch nối hay mối quan hệ kia, không gì khác hơn chính là toàn bộ đạo đức luân lý Phật giáo.
Ðức Phật đã dạy : « Bản chất của toàn thể vạn vật, chúng sinh là giả hợp và thay đổi. Do đó, lúc nào mỗi sinh linh cũng sống trong trạng thái bất định, khao khát. Rồi chính cái trạng thái bất định, khao khát ấy, lại làm cho tâm linh của hết thảy sinh vật, luôn luôn mất quân bình, và hằng không ngừng bám víu vào sự sống giả hợp. Và ấy chính là nguyên nhân của mọi bất hạnh, mọi sự xấu, mọi ác pháp, hay mọi sa đoạ tiếp theo ! ».
Phật Giáo phân tích : Một con người có 5 giác quan. Nhà Phật gọi 5 giác quan ấy là ngũ căn giả định. »Thích hợp » với năm giác quan kia, là năm loại đối tượng, Phật Giáo gọi năm thứ đối tượng ấy là ngũ trần biến đổi. Khi ngũ căn giả định tiếp xúc với ngũ trần biến đổi do sức đẩy của ái dục, thì ý thức không thể nào phản kiến, nhận rõ kịp thời, bản chất giả tạm của sự vật.
Kết quả, đời sống chỉ là một sự đeo đuổi lầm lạc, một sự thèm muốn nung nấu liên tục ! Ví như một người khát nước, chưa giải quyết xong cơn khát nầy, thì cơn khát kế đã nổi lên. Ðồng thời cái vũng nước trước mắt (ngũ trần biến đổi) cũng bị thời gian làm cho trở nên khô cạn, biến mất. -Ðây chính là nguyên nhân tiềm tàng, khiến cho con người khi rơi vào một lầm lẫn (làm xấu), thường có khuynh hướng sẽ tiếp tục rơi và những lầm lẫn khác về sau, để hành động từ những điều xấu nầy đến những điều xấu khác. Bởi sở trường của ác pháp là dắt dẫn tư duy con người chạy theo những cái không bao giờ bắt kịp, hoặc kích thích con người tìm kiếm, thỏa mãn những ý muốn không bao giờ được thỏa mãn !
Vả lại, những điều xấu xa hay ác pháp chỉ có thể phát sinh, khi năm căn thức bị mở rộng, tiếp đón ngoại trần, trong lúc cuộc đời là một môi trường để cho ngũ căn lẫn ngoại trần, chẳng những được giao thoa thường xuyên, mà hai bên còn luôn luôn cấu kết, dính mắc với nhau một cách khắn khít nữa.
Thành ra ở đó, trong năm giác quan ấy, vốn chứa vô số “kiến thức” xấu, hay vô số ác pháp. Rồi vô số ác pháp hay kiến thức xấu nầy, dần dà ảnh hưởng tâm thức, lấn áp tâm tư, khiến cho tâm tư mệt mỏi « thụ động », để cho vô minh phát sinh, và tự do hoành hành, tung đầy khói mù tà kiến.
Ðức Phật gọi tâm tư ô nhiễm ấy là ý căn, và khi Ngài quan sát ý căn của tất cả chúng sinh, Ngài thấy rõ tất cả tánh linh của chúng sinh đều nhiễm độc vô minh trầm trọng ! Tâm linh nhiễm bệnh vì ác pháp là một điều xấu xa bất hạnh. Nhưng khi ác pháp còn ở vị thế chưa thao túng, với đồng minh là “tâm tư thụ động” thì nó tương đối ít nguy hiểm.
Nhưng nếu điều xấu hay ác pháp ấy, khi đã xâm nhập vào tâm tư, mà tạo được tà kiến rồi, thì nó liền ở thế chủ động. “Nó” lập tức tung lưới vô minh khuynh đảo, hướng dẫn được hành động của con người, thì kết quả bất thiện, do ác pháp gây ra hẳn nguy hiểm hơn trước rất nhiều !
Từ đó, những điều xấu xa hay ác pháp của một cá nhân, không những chỉ gây bệnh hoạn cho thân tâm cá nhân ấy, mà còn gieo rắc đau khổ ra xung quanh nữa. Người ta há chẳng thấy con người (tham sân si, tà kiến) đã tự tạo ra hàng triệu đổ vở để gây đau khổ cho nhau, như tôn giáo đối nghịch, vợ chồng chia rẽ, bạn bè lừa gạt, anh em tranh giành, cha con thù hận, xã hội cướp giật, xứ sở chiến tranh triền miên v..v….đó hay sao ?
Nghiêm trọng hơn nữa là ác pháp còn sản xuất ra nhiều loại chủ thuyết (chính trị hay xã hội) “hiện đại”, lôi kéo con người đắm say vật chất, ôm cứng quyền lực, mê tín lãnh tụ (còn nặng hơn là tôn thờ thần linh), có thể làm đen tối lý trí, suy đồi tư tưởng, cho đến hàng ngàn năm sau, vẫn chưa điều chỉnh được.
Khi thể xác bị vi trùng làm cho nhiễm độc, thì chỉ có thể xác chịu bệnh hoạn suy nhược, và nhiều khi tâm linh vẫn còn khỏe mạnh. Nhưng khi tâm linh đã bị ác pháp (nhất là tham vọng và mê tín) làm cho tối tăm, khát khao, bạc nhược, thì không những tâm linh bị thoái hóa, mà cả đến thể xác của cá nhân, lẫn xã hội, cũng, suy đồi, phân hóa, đe dọa bị tiêu diệt.
Chúng ta thử nhìn lại những võ khí, có thể giết chết hàng nhiều triệu người trong nháy mắt một cách dễ dàng, đang nằm trong tay một số « lãnh tụ » còn phàm tục của các siêu cường, mà suy gẫm.
Nếu những « lãnh tụ » ấy bản tâm chứa đầy bất thiện : tham, sân, si, cố chấp, hẹp hòi, ngã mạn…, thì những võ khí kia có thể sẽ được xử dụng, bởi bất cứ động cơ nào, chúng ta chắc không cần mệt óc suy đoán, cũng thừa biết hậu quả. Tất cả những tội lỗi đó nguồn gốc chỉ là do tâm linh đã bị ác pháp làm nhiễm độc !
Theo Phật Giáo, khi tâm thức bị bệnh hoạn, thì có ba điều xấu, chắc chắn sẽ phát sinh, là (1)tham lam không bao giờ biết đủ, (2)hờn giận không bao giờ biết nguôi, và (3)si mê không bao giờ thấy đúng.
Thử nêu một ví dụ thông thường, để chỉ ra ba ác pháp ấy, là « trường hợp sắc dục ». Một kẻ bị ái dục hoành hành trong tâm hồn, thì phải chịu các điều xấu sau đây :
1-Có thể tự tử hay giết người, khi tuyệt vọng hay bị đoạn tình.(Lòng tham không đáy, nên tưởng lầm rằng đối tượng chưa đủ thương mình, hoặc phản bội mình ).
2-Giận hờn rồi hư hỏng, hủy hoại chân lực vì hoan lạc. Tự phí bỏ sức khỏe, tạo lấy bệnh hoạn, đau khổ không nguôi, mà lại tưởng rằng đó lả “giải pháp”. (Nên câu tục ngữ “thương nhau lắm, cắn nhau đau” có thể sửa lại thành “thương nhau lắm, cắn nhau nhiều kiếp” -Nghĩa là càng thương mà bất thành thì càng hận, càng oan trái ).
3-Trí óc, tư tưởng trở nên ủy mị nô lệ, tức là mang hàng lô những tật xấu, như ghen tương, giả cách (đóng kịch), đa nghi, thiên kiến, đãng trí, dễ giận, dể buồn, ai oán, và chờ mong.
Như vừa nói ở trên, trong các tâm bệnh ấy, có một số tâm bệnh không những chỉ gây suy hoại, bạc nhược cho bản thân, mà còn ảnh hưởng ra xã hội. -Như trường hợp những kẻ tự tử vì tuyệt vọng, những kẻ bê tha, hận đời vì thất tình, hay những kẻ tôn thờ vật chất, chủ trương kiếm tiền bằng mọi giá, để hưởng thụ khoái lạc trong tất cả hoàn cảnh (ăn nhậu, chơi bời, hút xách), rồi trở thành thói quen, cứ muốn tiếp tục cuộc sống phóng túng, nên bất chấp đạo đức, coi thường phẩm giá truyền thống, dẫm lên luật lệ quốc gia, tổ chức buôn lậu võ khí, chất say, ma-túy, chứa gái, cờ bạc..v.v….
Từ đó, những bất hạnh khác của xã hội, như trộm cướp, gian manh, mục nát, cường hào, nghèo đói, bất công, áp chế, độc tài..v..v….cũng đồng loạt với các thứ tâm bệnh ấy mà xuất hiện, nhưng ít ai chịu bình tâm tìm hiểu, và can đãm nhìn nhận !
Cả bốn từ ngữ “xấu ác”, “bất thiện”, “tối tăm”, và “tội lỗi”, tuy trên thực tế tùy trường hợp mà diễn tả một trạng thái thoái hóa nào đó, nhưng đối với Phật Giáo hết thảy bốn từ ngữ ấy chỉ có một bản chất duy nhất, là bản chất sa đọa, nghĩa là dẫn đến trạng thái đau khổ !
Thông thường, khi người ta muốn mô tả một hình thức trả quả xấu, người ta có khuynh hướng cụ thể hóa sự « hình phạt » của linh hồn, bằng một cảnh tượng đền tội nào đó. Cảnh tượng ấy văn hóa Việt Nam gọi là địa ngục. Nghĩa là một « nhà tù » nằm sâu trong lòng đất (?), dù trên thực tế, xưa nay chưa ai từng nhìn thấy địa ngục ấy cả. Nhiều học giả tôn giáo vẫn tự hỏi « Phải chăng đó chính là cảnh tượng tối tăm sa đọa, tự sinh ra ngay trong những tâm hồn tội lỗi, được hình dạng hóa cho hợp với sức hiểu biết, của quần chúng bình dân ? »
-Vả lại, cảnh tượng địa ngục nầy hiện hữu hay không, điều đó chẳng quan trọng. Mục đích chính của nó, là những cực hình ở đó có thể răn dạy, hăm dọa nhiều kẻ tà tâm, hung dữ !
Cũng có một số tôn giáo nhất thần quyền xác nhận rằng : « Ðịa ngục là một cảnh có thật để trừng phạt những linh hồn ác độc, duy một điều là nơi trừng phạt ấy phải nằm dưới thẩm quyền của một đấng thượng đế toàn năng, mà mắt phàm không thể nào nhìn thấy được ».(?)