Một tư tưởng gia đã nói : « Ðạo Phật đúng ra không phải là một tôn giáo, mà là một nghệ thuật sống thiện để tiến hóa ».
Câu phát biểu trên đây phải chăng muốn ám chỉ rằng : Phật giáo có một hệ thống cải thiện đời sống (thể chất lẫn tinh thần) khá rõ ràng và thực dụng ? Nếu quả thực như thế thì nhà tư tưởng kia, tuy xuyên qua một câu nói, chưa lột hết chân giá trị của đạo Phật, nhưng ít ra ông cũng đã phô bày được phần nào cái thực tế nhập thế của giáo lý đức Phật.
Thông thường khi đề cập đến vấn đề luân lý, người ta thường nêu ra một « hệ thống bổn phận », để đối xử giữa người nầy với người kia, giữa giới nầy với giới khác, giữa người dân đối với nhà nước, hay giữa cá nhân với xã hội. Vì « luân » là cái vòng xoay, có đi có lại, và « lý » là những lý lẽ hay phép tắc. Luân lý cũng là danh từ kép, viết ngắn của bốn chữ «luân thường đạo lý».
Nói khác đi, Luân lý là các điều ràng buộc, để con người đối xử qua lại với nhau cho hòa thuận, thích hợp, hầu tạo trật tự và an ninh chung.
Như thế đối với cái nhìn của xã hội, nhất là xã hội Á Ðông, luân lý là một thể thức sống của cá nhân trước cộng đồng, và chính đối tượng, cộng đồng mới là quan trọng, còn cá nhân chỉ là thứ yếu. Tuy « địa vị » của cá nhân cũng có đặt ra, nhưng chỉ đặt ra vì phải đối diện với xã hội, chứ không để đối diện với chính mình !
Ðây chính là điểm dị biệt giữa « luân lý » Phật giáo với một số qui ước luân lý và đạo đức của thế gian. Phật Giáo cho rằng « không có nội tâm hòa thì không có ngoại cảnh hòa », hay « không có cá nhân hòa thì không có quần chúng hòa »!
Nếu nền bình an chung của xã hội chẳng phải phát sinh do tham vọng của những người cầm quyền, dưới danh nghĩa bảo vệ “trật tự xã hội”, rồi áp đặt người dân thực hành theo một số qui luật, thì những “thảm kịch luân lý” đã không xảy ra. Mà một cách khác hẳn, nền bình an ấy phải hiện hữu và bền vững, khi mỗi cá nhân được văn hóa soi sáng, để tự nguyện đặt mình vào một đời sống hướng thiện và hướng thượng vừa cho mình, vừa cho người.
Nhóm chữ “hướng thiện và hướng thượng vừa cho mình, vừa cho người”, tự nó sẽ có hiệu lực cho cộng đồng xã hội một cách chắc chắn, mà không rơi vào vòng gượng ép. -Hướng thiện tức là không làm hại người khác. -Hướng thượng tức là đem lại an vui hạnh phúc thanh cao cho mọi sinh vật. Và sự tiến hóa cho mình lẫn cho người, chính là mục tiêu tu thân của đạo Phật. –Vì mình và người là một !
Ðức Phật là một bậc toàn giác. Tuy giáo lý của Ngài có đến 84.000 pháp môn, nhưng khởi đầu muốn cho các hàng Phật tử, qua căn bản tu thân, tiến bộ một cách thực tế, Ngài đã chỉ khuyến khích sự cải thiện đời sống hằng ngày bằng mười điều lành, có liên quan trực tiếp đến việc sửa đổi tâm tính cố hữu trong mỗi con người. Mười phẩm hạnh nầy còn có tác dụng làm cho mọi hành động từ thân, từ khẩu, và từ ý của từng cá nhân, ở bất cứ hoàn cảnh nào, cũng vừa tự lợi, vừa lợi tha.
Mười phẩm hạnh, hay “thập thiện” ấy là :
1-Yêu thương sự sống muôn loài. (không sát sinh).
2-Chỉ thụ hưởng những gì do mình tạo được một cách hợp pháp. (không trộm cắp)
3-Trung thành trong đạo nghĩa phu thê. (không tà dâm).
4-Ngôn ngữ luôn luôn chân thật. (không nói dối).
5-Ưa thích mọi người hòa thuận, hợp tác với nhau. (không đâm thọc, chia rẽ).
6-Khiêm nhượng, thanh nhã và lễ phép. (không dùng lời cộc cằn).
7-Tránh lười biếng, nhàn rỗi. (không nói chuyện phù phiếm, vô ích).
8-Không vọng tưởng đến của cải người khác. (không tham lam).
9-Tránh nóng giận, tránh bạo động và khoan dung. (không sân hận, ganh tị, cay cú).
10-Giữ mình trong chánh tín. (không si mê, lầm lạc).
(Theo Trung Bộ Kinh, Majjhima Nikãya, quyển II các trang 47-52).
Và để chan hòa với truyền thống văn hóa Việt Nam, vốn còn ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng của Khổng giáo, chúng ta cũng có thể xếp 10 điều thiện nêu trên thành hai nhóm :
-Nhóm thứ nhất gồm các phẩm hạnh từ thứ 2 đến thứ 9, gọi là luân thường.
-Nhóm thứ nhì gồm hai phẩm hạnh thứ 1 và thứ 10, tức là đạo lý.
« Luân thường đạo lý » trong Phật giáo, ngoài cái vai trò là những nguyên tắc, để con người hướng thiện, rồi tự sống tiến hóa với nhau, nó còn là một phương pháp giúp cho xã hội được cải hóa, được khai sáng, và văn minh phát triển một cách liên tục.
Chính cái thiện pháp sau cùng của phần đạo lý, là « giữ mình trong chánh tín », đủ nói lên cái khuynh hướng thường xuyên soi sáng, nhắm đến văn minh và tiến hóa, trong Phật Giáo.
Chánh tín ám chỉ phải có niềm tin nơi bản nghiệp, tin vào tự lực, tin sự hợp lý, và tin ở khoa học. -Tin rằng “Nghiệp của người nào chính là tạo hóa của người đó”. Và chỉ có kẻ ấy, hay xã hội ấy mới chuyển hóa được nghiệp riêng của cá nhân, hay nghiệp chung của cộng đồng mà thôi.
Còn ngược lại với chánh tín là tà tín, hay các hình thức mê tín, dị đoan, đưa đến nô lệ tinh thần cũng như vật chất, tạo bất bình đẳng, gây mầm cho chia rẽ, lừa gạt, khai thác, áp chế, hận thù, và không ngừng bạo động tinh thần cũng như thể xác về sau !
Một điều đáng chú ý, là khi Phật giáo nêu ra 10 phẩm hạnh đạo lý nói trên, Phật giáo đã mở đầu bằng cái luân lý đại đồng, Yêu thương sự sống của muôn loài. Vì nếu chúng ta không là mối đe dọa cho bất cứ cá nhân nào, hay chủng tộc nào khác, thì không ai âm thầm tìm cách tiêu diệt chúng ta !
Ðức tánh hiếu sinh nầy sẽ đưa con người vào những thực tiễn sống chung, để cùng nhau tiến hóa. Rồi sau cùng, cũng chính cái đức tánh hiếu sinh ấy, khi đã thấm nhuần được vào tư tưởng nhân loại, tự nó sẽ biến thành động lực khai sáng cho niềm tin chân chánh, qua nền tảng khoa học và văn minh (khả năng của trí tuệ). -Tức là giữ mình trong chánh tín, hay Tin đúng vậy.
Như thế, rõ ràng là Phật giáo chủ trương đem cái đức hiếu sinh, chuộng hòa bình, của đạo lý đại đồng, ra đặt trước thực tế “ham sống” của mỗi cá nhân, hầu tạo lành mạnh tâm linh (kusalacitta=thiện thục) trong từng cá nhân ấy, để sau đó dắt dẫn con người, từ chổ thực tế an toàn của mỗi cá nhân hướng đến mối đạo đại đồng, bằng nếp sống trong chánh tín !
Vả lại, niềm tin đúng (chánh tín) cũng đã được đức Phật, lúc còn tại thế, ưu tiên đặt lên hàng đầu, trong Bát Chính Ðạo (Atthangika magga). Nói một cách văn chương hơn, Bát Chính Ðạo là một con đường hiệu quả nhất, dẫn đến hạnh phúc, mà kẻ nào đi trên đó cũng đều được tắm gội trong 8 suối nước tiến hóa như sau :
1-Chánh kiến (Sammãdiṭṭhi),
2-Chánh tư duy (Sammã saṅkappo),
3-Chánh ngữ (Sammã vãcã),
4-Chánh nghiệp (Sammãkammanto),
5-Chánh mạng (Sammã ãjĩvo),
6-Chánh tinh tấn (Sammã vãyãmo),
7-Chánh niệm (Sammã saṭi), và
8-Chánh định (Sammã samãdhi).
Theo thứ tự để bàn, thì trước tiên con người phải có chánh kiến, tức là « thấy hiểu chân chánh », hay thấy hiểu đúng. Chánh kiến ở đây chẳng khác nào “đường trung trực” trong “hình học phẳng”. Đường nầy ấn định lằn chia đôi của một tam giác cân. Nó không được sai lệch ngay từ đầu. Vì nếu khởi điểm của nó mà sai lệch, thì mọi góc độ về sau sẽ không chính xác.
Tương tự như vậy, nếu bắt đầu “luân lý giải thoát” mà không có chánh kiến (hay thấy hiểu đúng), thì người ta chẳng thế nào có chánh tư duy (hay suy nghĩ đúng) được. Mà một khi hành giả đã thấy hiểu chân chánh, và suy nghĩ đúng đắn rồi thì các pháp hành tiếp theo mới chính đáng, hiệu lực. Những pháp hành đó là :
-Lời nói của họ sẽ trở nên chân chánh (tức chánh ngữ).
-Hành động của họ cũng chân chánh (chánh nghiệp).
-Cách nuôi mạng đương nhiên phải chân chánh, vô hại (chánh mạng).
-Lòng nhiệt thành của họ cũng chân chánh dồi dào (chánh tinh tấn).
-Ðiều tưởng niệm của họ sẽ chân chánhn thanh tịnh (chánh niệm).
-Và tình trạng nhất tâm của họ cũng hùng hậu, chân chánh (chánh định).
Ðức Phật đã ví tám thiện pháp trên đây như tám cánh của đóa sen tiến hóa. Hễ cánh hoa thứ nhất được nở, là bảy cánh hoa kế tiếp sẽ nở theo, tỏa ngát một mùi hương an lạc, mà người đời muốn gọi là hương luân lý hay hương đạo đức cũng được.
(Rút từ kinh Mahãcattãrĩsaka sutta, thuộc Dĩghanikãya Trung Bộ Kinh, cuốn 3, tr. 71).
Theo Phật giáo, một đời sống có luân lý là một đời sống phải thấm nhuần tự bản chất bằng tám thứ « hương » tiến hóa ấy. Khi nói đến vấn đề đạo đức hay luân lý, Phật Giáo không đưa ra những đối tượng ngoại thân như tam cương (quân sư phụ), tức « đạo vua tôi », « đạo thầy trò », « đạo cha con », hay ngũ thường gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.v.v…! Vì Phật Giáo biết trước đối tượng ngoại thân không khéo sẽ đưa con người vào cái bẩy của hình thức danh vị, không lối thoát.
Thiếu chi người đã nghĩ rằng « Nếu một cá nhân tròn đủ đạo vua tôi, đạo thầy trò, và đạo cha con. Nghĩa là vua ban cho cá nhân ấy chữ trung, thầy khen cá nhân ấy chữ nghĩa, và cha gọi cá nhân ấy bằng chữ hiếu, thì cá nhân ấy chính là người có đạo đức và luân lý đầy dủ ? »
-Nhưng tiếc thay, rủi cha cá nhân ấy là người đối lập với vua, hoặc sư cá nhân ấy là kẻ nghịch với phụ, thì cá nhân ấy phải làm sao cho vẹn toàn đạo lý ? -Trong trường hợp nầy, chính cái đạo « tam cương ngũ thường » đã đưa cá nhân kia vào con đường khó xử, không có lối thoát, khó an lạc !
Mặt khác, trên thế gian cũng có lắm người, đối với xã hội họ đã được khen tặng có đủ thứ « đức tính », nào là « giữ đúng tam cương », nào là « trọn vẹn ngũ thường« …v.v… Nhưng đêm về, khi nằm gát tay lên trán kiểm soát một mình, thì họ mới thấy rõ, họ chỉ là hạng « ngụy đạo đức ». -Vì ai biết rõ họ hơn chính họ ?
Do đó, các đối tượng ngoại thân, để đưa con người vào những phẩm tính luân lý hoặc đạo đức, thường không được trung thực cho lắm. Tốt hơn hãy dựa trên chỗ căn bản nội tánh hay tự giác hành thiện, để xây dựng đạo đức và luân lý như Phật giáo đề nghị, thì con đường tiến hóa sẽ được mở rộng thênh thang, phù hợp với tất cả.
Phật Giáo chủ trương tu để cho mình tự cảm thấy an vui thanh tịnh chứ không phải “để cho kẻ khác khen mình là bậc tu hành”. Nghĩa là người Phật tử thuần thành, thường an lạc tự nhiên, vì trước tiên trực nhận rằng mình đang sống đạo xứng đáng. Còn việc mình có được xã hội biết đến đức hạnh ấy hay không, là một điều chẳng cần thiết.
Hơn nữa, mục đích của sự tu thân vốn là tự sửa mình để thanh tịnh tiến hóa, chứ không phải là chạy theo sự khen chê, thị hiếu của xã hội, với dụng ý « trở thành cá nhân tốt ». Không khéo, thay vì tu thân để được tăng vui, giảm khổ, thì người đời lại hiểu lầm rằng tu thân để hưởng lợi, để được xã hội kính trọng, và nhất là để không bị nhiều người “coi thường”.
Và ảnh hưởng lành mạnh, do thiện hạnh của một cá nhân tốt, tỏa ra những người xung quanh, vốn là một điều tự nhiên, “thiện giả” không nên dựa vào đó, để ỷ lại, nghĩ rằng “mình làm gương sáng cho ai cả”.
Nhưng trên đời, người ta cũng tìm thấy không ít những người, càng « tu hành » càng trở nên khó tính, càng tỏ ra cao cả, ngã mạng, càng đòi hỏi xung quanh phải cung kính dâng hiến, và cuối đầu thật thấp truớc họ. Nghĩa là càng “tu hành” họ càng trở nên « rắc rối » cho đời ! Họ đã biến cái đạo lành mạnh, từ bản chất diệt khổ, thành nguyên nhân gây phiền não, hay gây khổ !
Trong loại tu hành để « thành danh » nầy, cũng có lắm người nhờ đó mà trở nên triệu phú. Vì lòng tham vô đáy, họ luôn luôn khôn khéo không để lộ sự sung túc quanh mình. Mỗi khi thu góp được của cải tín đồ, của quần chúng, họ lập tức bí mật chuyển cho thân nhân quyến thuộc cất giữ. Rồi họ không ngừng than nghèo, than thiếu, bảo rằng chật vật trong sự thờ phượng chỗ nầy, thiếu điều kiện truyền bá “giáo lý” ở chỗ kia, hầu kích thích những người hảo tâm.
Chưa kể có một số phần tử khác, đã trở nên các « nhà mô phạm », các “đại bồ tát”, cứu nhân độ thế một cách rất “cao cả”, qua tuyên truyền hoang đường. Dân chúng chân chất, thiếu chánh kiến, không khéo sẽ say mê tôn sùng họ khi nghe một đám đệ tử hoạt đầu, đóng kịch tán dương, hay dàn cảnh kể lại huyền thoại của « đạo sư », hay “lãnh tụ”, một cách ngụy tạo.
Trớ trêu hơn nữa, là công nghiệp nào đầy ân đức nhất, của bất cứ vĩ nhân nào, lưu lại trên thế gian từ trước tới nay, thường đã bị những kẻ gian manh tiếm đoạt, nên các thành tích, ơn ích, của những anh hùng trong xã hội Việt Nam, một thời đã từng bị nhiều phần tử bất hảo mạo nhận, lạm dụng.
Họ tự biết họ chỉ tham lam, chứ không có đức hạnh, nên đã không ngừng gán cho những ai ngay thẳng, nhưng khác họ, hay chẳng gian manh như họ, là “ác”, là “giả”, là “ngụy”, là loạn, là thấp kém, để nâng cao mình lên, tự phong mình là chính đáng, là vĩ đại. Họ dàn cảnh chứng minh rằng “ngoài họ ra, không ai có đạo đức, có tinh thần hy sinh, có lòng yêu nước, yêu nhân quần xã hội, yêu đồng bào cao cả hơn họ”.
Và lẽ dĩ nhiên, xưa nay quần chúng chưa bao giờ được soi sáng ý thức, để phân biệt chân giả, thì những phẩm hạnh ngụy tạo ấy, có thể lừa gạt nhiều người một cách dễ dàng.
Vì sao bảo là “quần chúng chưa được soi sáng ý thức ?”
Vì nhiều học thuyết luân lý hay đạo đức trước đây, đã đặt giá trị trên đối tượng ngoại thân, nên quần chúng đã quen chú ý hình thức, coi trọng lễ nghi. Rồi dần dần họ dùng niềm tin thay thế trí tuệ, không tìm hiểu nội dung. Họ được “văn hóa ngoại lai” tạo thành một quần chúng chờ đợi “gương mẫu xuất hiện”, hay được “công bố cứu tinh”, để hướng dẫn họ, trong cuộc sống đạo đức cá nhân, lẫn trong luân lý cộng đồng.
Nhưng ngày nay, chúng ta đang sống ở thế kỷ thứ 21, trình độ kiến thức phổ thông của con người đã được nâng cao, quần chúng bình dân thường hằng ngày tiếp xúc với một nền tư duy, lấy sự hợp lý, hay “Logique” làm thước tấc. Đồng thời lầy chánh kiến và trí tuệ làm “ứng dụng”, nên khả năng nhìn sâu vào thực tế, nhận diện ra thật tướng của các nhà “đạo đức thành danh”, nhờ tuyên truyền lừa gạt, quần chúng bình dân sẽ không tiếp tục để cho những phần tử bất hảo ấy lôi kéo, ảnh hưởng đến họ nữa.
Quay lại chủ đề « một đời sống có đạo lý » trong đạo Phật. Những ai là Phật Tử thấm nhuần giáo lý Phật đà chắc chắn đều phải nhận thấy rằng : Phật Giáo chủ trương sửa cái nhân, chứ không phải tô điểm cái quả. Nói cách khác, đó là một đời sống có nội dung hướng thiện và hướng thượng. Chính sự thực hành (hay hằng ngày sống đạo) mới là yếu tố căn bản, ấn định một đời sống có luân lý hay không.
Vì hai chữ văn hóa không gì khác hơn là nghe để hiểu biết đúng, và thực hành đúng, rồi “trở thành”, tức học, hành và thành trong đạo Phật. (Văn : học hiểu cái hay, cái thiện, và thực hành. Hóa : trở thành). -Kết quả của ba giai đoạn “học hành thành” ấy chính là thuần thục trong hành động thiện.
Ðức Phật gọi tất cả các pháp hành (hay động tác) là “Kãra dhammã”. Chúng gồm hai loại là hành thiện và hành ác. Hành thiện thì lợi lạc, hạnh phúc, tiến hóa. Còn hành ác thì tổn hại, đau khổ, tối tăm, và thoái hóa.
Ngay hai chữ « pháp hành » tự nó cũng có nghĩa là “lý xoay vần”, có đi có về, phản động vì có động, hay “nhận quả vì gieo nhân”. Nghĩa là hễ đề cập đến pháp hành, tức là đề cập đến luân lý, dưới một tiêu chuẩn thực dụng, bao trùm đời sống.
Vậy cuộc đời hành thiện, là một nếp sống mà mọi hành vi và lời nói, đều phải được hướng dẫn bỡi thiện nhân (thuần thục trong tâm), chứ không phải vì thiện quả, chỉ nhìn thấy bên ngoài ! (Tuy rằng thiện quả sẽ luôn luôn trổ ra, tùy năng lực của thiện nhân).
Trái với hành thiện là hành ác. Trong khi hành thiện, tác ý bắt buộc phải luôn luôn được soi sáng bằng trí tuệ, thì trong lúc hành ác, ngoài việc tác ý bị ảnh hưởng bỡi tham sân si (ác tính), nó còn có thể bị bạc nhược bỡi những sự hưởng thụ các quả phúc.
Như trên vừa nói, « hành ác thì tổn hại, đau khổ, thoái hóa và tối tăm ». Một người hằng dung dưỡng tâm tánh trong môi trường hành ác, thì không những đã nguy hiểm cho chính bản thân, mà còn làm hại cho bước tiến chung của xã hội nữa.
Trong kinh đức Phật cũng có dạy:
« Attavyãbãdhãya samvattati,
paravyãbãdhãya samvattati ! »
Nghĩa là:
« Kẻ hành ác vừa chấm dứt con đường hạnh phúc của mình, vừa ngăn trở sự tiến hóa của những người khác ! »
Lại nữa, trên phương diện “triết học luân lý Phật giáo”, danh từ hành thiện bên cạnh sự ám chỉ là « nguyên nhân của lợi lạc, và hạnh phúc », nó còn ám chỉ cái động cơ thúc đẩy con người tiến hóa đến trong sạch, tự do, và giải thoát hoàn toàn.
Có nhiều triết gia lại bảo rằng : Hành thiện chỉ là phương tiện, còn thể nhập ý thức luân lý tốt vào đời sống (tức là làm sao cho người ta tin tưởng nơi hiệu lực của đạo đức) mới là trọng yếu. Ðó chính là giai đoạn mà óc sáng tạo của con người mong mỏi và nhắm tới.
Về điểm nầy, Phật Giáo có thể đồng ý một phần, vì đạo Phật quan niệm hai chữ « hạnh phúc » từ óc sáng tạo, và hai chữ « hạnh phúc » từ trí tuệ giác ngộ, hoàn toàn là kết quả của hai pháp hành khác nhau.
Nói rõ hơn, hạnh phúc do óc sáng tạo, thể nhập được ý thức luân lý lành mạnh vào đời sống hằng ngày, là một hạnh phúc tương đối, làm nền tảng để tiếp tục con đường tiến hóa, hay xây đắp những cái gì thanh cao, lâu dài hơn. Còn hạnh phúc của trí tuệ giác ngộ, là loại an lạc không có nguyên nhân khổ đau sa đọa, và do đó cũng chẳng cần đến cái « sung sướng của sự thuyên giảm hay tiêu trừ đau khổ »!
Ngoài ra, theo quan niệm của thế gian thì hạnh phúc là một cái cần bảo vệ, nhất là phải bảo vệ bằng phương tiện vật chất, hay cao hơn là bảo vệ bằng tinh thần, tức bằng « hiệu lực luân lý ». Nhưng với Phật Giáo thì ngược lại, ý thức luân lý chính là cái nhân, mới cần được bảo vệ, nhất là phải bảo vệ bằng sự sống thiện, hay bằng hành động lành.
Còn hạnh phúc chỉ là cái quả, thì không cần tới bảo vệ. Vì bản chất của an vui hạnh phúc là chan hòa đến vô cực, mà « bảo vệ » kiểu thế gian, là tư hữu nó, ôm giữ riêng và cô lập nó, khiến nó giảm hiệu lực, phải tàn úa. Muốn duy trì một cái có đặc tính bành trướng vô biên, bằng cách ích kỷ, hạn chế hay đóng khung, là một điều nghịch lý. Hơn nữa, sống đúng theo luân lý thiện, chính là gieo nhân, còn hạnh phúc hay bình an chung chỉ là nhận quả.
Khi nhân còn thì quả còn, cũng như hạt giống còn thì sẽ có cây và trái. Nhưng nếu nhân mất, hạt giống mất thì người ta dù có quyền lực đến đâu, cũng không thể nào giữ mãi quả được.
***
TÍNH TỰ GIÁC
Từ ngữ « tự giác » thông thường được hiểu là « tự nguyện », « tự biết », hay « tự động ý thức bổn phận ». Nhưng nếu người ta dùng nó một cách chuyên biệt trong lãnh vực Phật học, thì « tự giác » là tự giác ngộ, tức tự chứng đắc một số chân lý sâu xa huyền diệu, mà xã hội xung quanh chưa ai, hay ít người đạt đến.
Cao siêu hơn nữa, tự giác là « tự thông suốt » tất cả những pháp hành trong cuộc đời và trong vũ trụ, mà ngay cả những bộ óc xuất chúng, cũng khó chứng đắc.
Phật Giáo tuy có đồng ý một phần với các « quan niệm » tổng quát nêu trên. Nhưng yếu nghĩa của Phật Giáo về tự giác, còn bao hàm một giá trị đặc biệt. Ðó là giá trị phản ảnh khả năng làm chủ và biết rõ mọi biến chuyển vi tế trong bản thân và bản tâm con người.
Tự giác trong nhà Phật, vốn không lấy ngoại cảnh làm đối tượng, mà nó chính là hiệu quả của trí tuệ thanh tịnh, và thuần thục trong phạm hạnh quán xét nội thân. Do đó, khả năng của tánh tự giác, lại còn chứa đựng một tiềm lực siêu việt khác, có đủ sức mạnh hướng dẫn tâm linh con người hướng về nẻo tiến hóa, một cách chắn chắn. (Tức cứu cánh Toàn giác).
Ngoài ra, trên khía cạnh tế nhị bình dân, từ ngữ « tự giác », còn có một hàm ý khác, là « được tự do quyết định », hay « tùy ý chọn lựa », mà không bị ảnh hưởng bỡi tập thể xung quanh. Chẳng hạng như trước một việc công cộng nào đó, người ta thường nói « Hãy để cho ông X, bà Y tự giác hành động », tức là « Hãy để cho ông X, bà Y tùy ý tham gia« , người khác không nên thuyết phục, hay lôi cuốn, ép buộc
Trong trường hợp nầy, tự giác ám chỉ cái tính cách tự do ý thức. Tức là đương sự có thể độc lập trong quyết định, chứ không bị ảnh hưởng bỡi kẻ khác.
Khi bàn đến cả ba chữ “tánh tự giác”, thì đạo Phật cho rằng : « Biết rõ mối tương quan đích thực, giữa nội tâm và ngoại cảnh, ấy là tính tự giác ». Do đó người có tính tự giác, là người luôn luôn tránh tối đa, làm những chuyện bất thiện, và bao giờ cũng tự nguyện đến cùng, làm những điều thiện. Vì việc thiện ví chẳng khác nào chất dầu, luôn luôn đốt sáng ngọn đèn trí tuệ, để soi rõ mối tương quan đích thực giữa nội tâm và ngoại cảnh.
Hơn nữa, người Phật tử tu thân, đắc được tịnh quả trong thiền pháp minh sát (Vipassanà), là kẻ đã thuần thục trong việc quay lại khám phá một cách vô tư, chính nội tâm cũng như nội thân của mình, xem nó chuyển biến như thế nào, khi nó tiếp xúc với ngoại cảnh.
Nhưng thế gian là một môi trường mâu thuẫn, xã hội loài người là một sân khấu xung đột. Một người rất có thể vừa có tính tự giác, vừa bị hoàn cảnh xung quanh ép buộc, lôi cuốn, phải làm những hành động ngược ý muốn. Ðây hẳn là lý do phát sinh ra bốn chữ « tâm lý mâu thuẫn phàm tình ».
Từ đó Phật Giáo liền phân biệt : «Tự giác mà còn phàm tình là nhập thế», và «tự giác mà dứt phàm tình là xuất thế». Ðạo Phật quả là con đường cho cả hai đại dụng (nhập thế và xuất thế), song rất ít người chú ý để nhận thấy.
Về phương diện luân lý, tính tự giác là một yếu tố rất quan trọng. Người ta thường cho rằng « Áp lực xã hội chính là động cơ, khiến con người phải làm theo, và duy trì những qui ước sống chung, hay luân lý ».
Nhưng Phật Giáo chỉ tin vào áp lực ấy một phần. -Vì hành xử luân lý thì có thể do áp lực xã hội, song duy trì luân lý thì phải do tính tự giác, chứ không phải do áp lực quần chúng. Ðịnh luật nhân quả trong nhà Phật chính là chất liệu cần thiết, để làm vững chắc tính tự giác. Nếu một người không tin theo lý nhân quả, người ấy không thể nào có tính tự giác được.
Thử phân tích một cách sâu sắc, chúng ta sẽ thấy rằng : Tự giác là một “biểu lộ” của tinh thần trách nhiệm, tức sự chấp nhận « cái gì mình đã gây ra, thì trách nhiệm phải về mình, chứ không thuộc về ai khác ». -Mà tinh thần tự trách nhiệm lại phát sinh do đức tin lý nhân quả ! Nghĩa là lấy « ý thức tự lực » làm gốc, ngược lại với mọi tin tưởng vào « tha lực ».
Người có tính tự giác chẳng bao giờ nghĩ rằng : Tất cả hành vi cử chỉ của một người đều do ý muốn của thượng đế hay thần linh, còn con người thì vô trách nhiệm. Sở dĩ đức Phật trong kinh lúc nào cũng nhắc nhở các hàng Phật tử về hai chữ nhân quả, vì nó chính là chủng tử làm phát sinh ý thức trách nhiệm, và tinh thần tự giác.
Về phương diện đức tin, Phật Giáo cũng cho rằng : Người có đủ 4 chi tự giác sau đây, mới là người thực sự có chánh tín :
1-Tin nghiệp quá khứ (Atĩta kammã) là nguyên ủy của mọi hiện hữu.
2-Tin quả hiện tại là điều kiện phát sinh nghiệp nối tiếp, để cho quả trong tương lai.
3-Tin tất cả chúng sinh đều có nghiệp quả là của mình và do nơi mình.
4-Tin có sự giác ngộ giải thoát, không tiếp tục gieo nhân, là bẻ gãy cái vòng nghiệp quả ấy.
Bốn chi trên đây còn được gọi là bốn cội rễ, để giữ cho « thân cây chánh tín » (Samma saddhã rukkha) được vững chắc, rồi từ đó nở ra « hoa luân lý ».
Như thế, Phật Giáo không những đã cung cấp cho thế gian một hệ thống luân lý, có khả năng làm thanh cao cuộc đời, mà Phật Giáo còn xây dựng cái hệ thống luân lý ấy, trên một nền tảng tự lực vững chắc. Tự lực trong Phật Giáo tức là sức đẩy chính của mọi quá trình tiến hóa liên tục.
Ngoài ra, Phật Giáo chủ trương phát triển và bảo vệ sự sống chung trong một xã hội, không phải với chủ trương cầm tù tư tưởng, định chế phong tục, hay củng cố quyền hành cho bất kỳ ai. -Mà một cách độ thế hơn, luân lý Phật Giáo chính là một nghệ thuật sống hướng thiện và hướng thượng, vượt lên khỏi những lằn mức, biên giới, chấp thủ.
Nghĩa là Phật Giáo là một khoa học đồng tiến, tùy căn cơ và căn duyên của mỗi cá nhân. Phật Giáo dứt khoát không nêu lên một khuôn mẫu “luân lý” cứng ngắc, để cho những kẻ nuôi dưỡng tham vọng lạm dụng, hầu « thuần phục hóa » quần chúng, rồi đặt họ dưới quyền chỉ huy và khai thác của mình.
Hơn nữa, nhân loại ngày nay đang lâm vào một tình trạng khủng hoảng tư tưởng không lối thoát. Trước hoàn cảnh đen tối ấy, thiểu số người nầy thì nói rằng đây là hậu quả của khủng hoảng chính trị. Ða số người khác lại bảo đó là phản ảnh của khủng hoảng kinh tế. Rồi nhà cầm quyền càng dùng những « giải pháp » chíng trị và « kinh tế » để giải quyết, thì khủng hoảng càng gia tăng.
Nhưng Phật Giáo xin thẳng thắn xác nhận rằng : « Ðây là khủng hoảng tinh thần, của bế tắc niềm tin » (hay khủng hoảng luân lý). Nhất là sự khủng hoảng ấy trầm trọng đến độ, mà đời sống con người mỗi lúc một mất dần những giá trị đạo đức. Và ngày nào còn khủng hoảng tinh thần, còn khủng hoảng đạo đức, là ngày ấy xã hội còn bị bế tắc tư tưởng, và con người còn cần phải quay về với đạo lý khai sáng giác ngộ.
“Giác ngộ” vì Phật Giáo không tạo cho con người những tín điều để giới hạn tri kiến, mà chỉ mang đến cho họ những niềm tin được soi sáng, được mở rộng, tự lực và tiến hóa. Ðó là niềm tin nơi chính khả năng tìm ra nguồn hạnh phúc bất tận nằm ngay trong mỗi cá nhân. -Hoặc nói một cách cứu cánh hơn là niềm tin nơi sự giải thoát chân chính và nhất định của mỗi con người !
___________________________________________
NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỌN LỌC
Ô NHIỄM
Người ta lo sợ rồi phản đối các sự “ô nhiễm”, như ô nhiễm không khí, ô nhiễm cây cỏ, ô nhiễm nước uống, ô nhiễm thức ăn, ô nhiễm biển cả..v.v…Nhưng chẳng ai báo động về sự “ô nhiễm tinh thần”. Và quả thật rất ít kẻ nhận thấy rằng : Chính sự ô nhiễm tinh thần đã gây ra tất cả những sự ô nhiễm vừa kể !
NGHỈ NGƠI
Hầu hết xã hội đều lo lắng quá nhiều cho các sự nghỉ ngơi của thể xác, như đi nghỉ mát, nằm nệm êm, nghe âm nhạc, và dùng thuốc an thần, dịu tim dỗ giấc ngủ, nhưng rất hiếm kẻ biết chăm sóc (hầu như không có) đến sự nghỉ ngơi của tâm linh, là thanh tịnh tinh thần khỏi những chi phối trùng vây của ngoại cảnh. Thật là một điều đáng tiếc !
HẠNH PHÚC
Nhiều tiền mà không hài lòng, không tri túc, thì chưa chắc đã hạnh phúc hơn kẻ ít tiền mà biết tri túc. -Nghĩa là người tri túc biết an phận, hay biết tự đủ là người đại phúc vậy ! (Dựa theo Phật ngôn)
NHÂN ÐẠO hay THƯƠNG NGƯỜI
Lắm người sẵn sàng tung ra khá nhiều tiền để « làm việc thiện » giữa công chúng để được vỗ tay, nhưng rất ít ai tỏ lòng thương xót trước một kẻ bần cùng, trơ trọi, đang chết dần chết mòn vì đói, trong một hẻm tăm tối !
CHỮ HIẾU
Xã hội hưởng thụ và chủ nghĩa duy vật đã làm cho con người nghĩ rằng : « Cha mẹ sinh ta ra và nuôi dưỡng ta khôn lớn. Rồi đây ta cũng sẽ sinh con ra và phải nuôi dưỡng chúng khôn lớn. Hiếu là một bổn phận luân phiên không thể tránh được, chứ không phải là một đức hạnh mà con người lo sợ không có dịp để làm tròn ».
Nếu ai cũng quan niệm như thế, thì một ngày kia từ ngữ « hiếu » sẽ được định nghĩa là « bổn phận của cha mẹ đối với con cái », chứ không phải bổn phận của con cái đối với cha mẹ. Thật là trái ngược !
TƯƠNG ÐỐI
Một điểm tối trong một bầu ánh sáng thì không làm nên trò trống gì, và có thể bị loãng mất, nhưng một điểm sáng trong một bầu đen tối, thì thật là hữu dụng và không bao giờ biến mất, nhất là đối với những ai nằm trong tầm soi sáng của nó. Tương tự như thế, một bậc thiện trí thì rất hữu dụng cho xã hội !
THÀNH TÍCH
Nước từ trên trời rơi xuống đến ngập cả đồng bằng, tràn hết sông rạch, tạo thành những trận đại hồng thủy, không phải do một cái vòi khổng lồ, mà là do vô số hạt mưa nhỏ có lớn có hợp lại ! Công hạnh tu thân độ thế và giải thoát trong đạo Phật cũng thế. Nghĩa là phải liên tục, tròn đủ tất cả từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, thì mới viên dung !
CHÂN PHÁP
Giải thoát tâm linh không hẳn phải chặt đứt tất cả những quan hệ vật chất, mà là sáng suốt lẫn hùng lực tách rời khỏi những sợi dây nguy hiểm ấy, không làm nô lệ chúng. Còn chặt đứt tức là bạo động dưới hình thức khổ hạnh. Ðức Phật không bao giờ dạy các hàng Phật tử bạo động, dù cho là bạo động với chính thân và tâm của mình.
BẤT SINH TỬ
Bất sinh tử là đại nhập chứ không phải là biến mất, vì biến mất là trở thành cái “không để có”, rồi luân hồi thay đổi, và là đoạn kiến, còn đại nhập là trở về với pháp giới, vô cực chân như. -Như một thí dụ giản dị sau đây : Một thỏi đường nếu hẹp hòi đem bỏ vào một chén nước, thì sẽ biến chén nước thành chén nước đường. Nhưng nếu đem nó hoà tan trong tất cả nước trong vũ trụ, thì chỉ có người thiển cận, mới nói rằng chất đường đã hoàn toàn biến mất !
TỊCH TỊNH
Chánh định đến tận cùng là để đạt tới tịch tịnh, chứ không phải để dẫn đến trạng thái vô thức, đoạn cảm, như một số người duy vật, hay vô thần lầm tưởng. Vì đoạn cảm là lý lẻ của luân hồi và vô minh, còn tịch tịnh là kết quả của thực nghiệm, tiến hóa và giải thoát !
VÔ NGÃ
Vô ngã trong Phật Giáo chỉ là một nhận thức đúng đắn, để vẹt màng ảo tưởng, tin lầm rằng “ái ta (gồm tâm phối hợp với vật nầy) là một thực thể trường tồn và bất biến, trong sinh tử luân hồi” Chứ vô ngã trong nhà Phật hoàn toàn không phải là 1 lý thuyết tán đồng với vô thần và đoạn kiến, lạm dụng để kết luận rằng « Giải thoát khỏi sự sinh tử luân hồi là tuyệt diệt ».