Trong tiếng Việt Nam, muốn diễn tả hai trạng thái đối nghịch, trên tiêu chuẩn triết học, xã hội và luân lý, người ta có khá nhiều cặp từ ngữ để phát biểu, chẳng hạng như thiện ác, phải trái, đúng sai, xấu tốt, hiền dữ, chính tà, tấn thối, sáng tối...v.v…
Nhưng thông thường, những từ ngữ phổ thông nhất có lẽ là các cặp chữ thiện ác (theo tôn giáo) và phải trái hay đúng sai (theo quần chúng). Ở đây soạn giả xin mạn phép được thỉnh thoảng xử dụng hai chữ thiện ác, và thỉnh thoảng xử dụng hai chữ đúng sai, để trình bày hai chiều ước định giá trị, của mọi hành động trong xã hội con người.
Dĩ nhiên chương nầy không bàn đến hành động của « xã hội » loài thú, vì phẩm cách luân lý (đạo đức), không hiện hữu trong đời sống thú vật.
Khi người ta nói đến « đúng » hoặc « sai » là người ta muốn ám chỉ cái hậu quả chung, trên một số hành động trong hiện tại, dẫn đến phản ứng nhận xét, từ một thế lực khách quan. Thí dụ anh A tướt đoạt tài sản của anh B, rồi nếu không có một người thứ ba (khách quan) nào biết đến, thì giữa anh A và anh B chẳng có vấn đề « phải trái » gì cả, mà chỉ có vấn đề thế lực, nghĩa là ai mạnh hơn thì kẻ ấy “có lý”, và đoạt lại hay thu hồi được vật tranh giành.
Nhưng xã hội loài người là một xã hội luôn luôn có thành phần thứ ba.Và cũng nhờ đó mà phát sinh ra « thế lực thứ ba », tức thế lực chế định luân lý, một nguyên tắc căn bản của sự sống chung.
Trở lại thí dụ nói trên : Nếu anh A cướp đoạt tài sản của anh B, rồi bị anh B đánh chết chẳng hạng, thì đối với thành phần thứ ba (tức những người hiểu biết hay chứng kiến cuộc xung đột ấy), vấn đề phải trái còn phải truy cứu trên một nền tảng đặc biệt hơn. -Nghĩa là sự thẩm phán phải được « ấn định theo mức độ ảnh hưởng tâm lý », giữa hai cá nhân trong cuộc, và nhất là giữa họ đối với sự an ninh cộng đồng xã hội nữa.
Tức là cả hai đương sự đều có phần trái (để trừng phạt, răn đời) và cả hai bên cũng đều có phần phải (cần bảo vệ, củng cố niềm tin chung). Trong trường hợp nầy, sự sáng suốt của quyền phán quyết thứ ba (ám chỉ thế lực luân lý) đóng một vai trò rất quan trọng.
Ở đoạn trước soạn giả đã bàn qua nhận thức của Phật giáo về hai mặt tốt và xấu hay thiện và ác rồi, bây giờ chỉ xin nhắc lại chứ không phân tích nữa. Vì mục tiêu chính của chương nầy là nói về các ước định dựa trên TÁC DỤNG của phải và trái, theo phản ứng xã hội, tức là theo nhu cầu của sự sống chung, giữa nhiều cá nhân với nhau, hay giữa các công đồng.
Trở lại thí dụ của 2 anh A và B. Về phương diện duy trì bình an cho xã hội, tức trên phương diện giáo dục quần chúng, vấn đề ấn định phải trái (để bênh vực hay để trừng phạt), trước những xung đột hằng ngày, trong sự sống chung, lại là một vấn đề thuộc phạm vi thông minh và tế nhị của bộ óc con người. Nói nôm na đó là vấn đề « công lý », một việc làm cần phải được thực hiện bằng một trình độ sáng suốt vượt bực.
Ðạo Phật là con đường dẫn đến trí tuệ, dẫn đến giải thoát. Phật giáo được ứng dụng trên thế gian, vốn không ngoài giá trị nầy. Mục đích của Phật giáo là giúp cho thế gian sáng suốt, để loài người tự bình an và tiến bộ, chứ mục đích của Phật giáo, không phải để cai trị thế gian. Và đây cũng chính là nét đặc thù của đạo Phật. Nét đặc thù ấy còn được một số học giả Phật Giáo gọi là tính nhập thế vị tha vô úy.
Từ xưa đến nay đạo Phật truyền đến đâu là biến thành “sản phẩm” của địa phương đó. Ðạo Phật không tạo một quyền lực hội tụ về trung ương để chỉ huy, hay để củng cố quyền uy của riêng mình. Ðạo Phật cũng chẳng sợ bị thế gian đồng hóa. -Mà một cách hoàn toàn vị tha, đạo Phật chỉ sợ thế gian, vì tham vọng mà lầm lạc, mất sáng suốt, rồi tự tạo lấy cảnh khổ.
Ðiều tối kỵ của đạo Phật là cuồng tín hay mê tín. Vì cuồng tín hay mê tín đóng một vai trò rất nguy hiểm, trong việc thiết lập hai quan niệm phải và trái, thiện và ác. Lại nữa, người ta vẫn thường hời hợt nói « Chỉ có duy tâm mới sinh ra cuồng tín hay mê tín, chứ duy vật thì không »(?) -Ðiều nầy chưa chắc đúng, vì trong chiều sâu và trên thực tế, “duy vật nhiều khi còn cuồng tín, cực đoan hơn duy tâm”!
Phật giáo bác bỏ tư tưởng phiến diện trên đây, vì Phật giáo quan niệm rằng : « Cả hai cực đoan mê tín và cuồng tín đều có thể phát nguồn từ duy tâm lẫn duy vật ». Ngày xưa, khi nền khoa học kỹ thuật chưa phát triển mạnh, xã hội tiêu thụ chưa có dịp xuất hiện, thì người ta chỉ thấy « cực đoan duy tâm » lắm khi dẫn đến tình trạng cuồng tín hay mê tín. Nhưng ngày nay chính cực đoan duy vật và say mê quá độ xã hội dục lạc, mới là thủ phạm gây ra cảnh tượng mê tín hay cuồng tín vật chất trên thế giới.
Thực ra, ý nghĩa của hai từ ngữ mê tín và cuồng tín, chỉ đơn giản là « tin một cách mù quáng, không cần chứng minh, không cần phân tích », chứ ý nghĩa của hai từ ngữ ấy chẳng có liên quan gì đến chuyện duy vật hoặc duy duy tâm cả. Ðối với Phật Giáo, cuồng tín hay mê tín vốn là kết quả của sức mạnh tham vọng, hay đó là kết quả của ác tính.
Trên thế giới gọi là “tân tiến” ngày nay, chắc nhiều người hẳn cũng đã tìm thấy không ít những chủ nghĩa, chủ thuyết tuyên truyền rất khoa học, bề ngoài rất biện chứng, nhưng trên thực tế, người tin theo nó đã tỏ ra mê tín, gấp trăm gấp ngàn lần các tôn giáo cuồng vọng nhất ngày xưa !
Còn gì mê tín hơn, khi ta nghe một thành viên, của một đảng phái chính trị nầy, hay của một chủ thuyết xã hội nọ nói rằng : « Nếu anh làm việc nhận thù lao trong chế độ tư hữu X, thì anh sẽ là công nhân bị bóc lột, và là người phản tiến bộ ! -Còn anh ngoan ngoản phục tùng theo chủ nghĩa Y, cả đời lao động với tinh thần cách mạng, không đòi hỏi quyền lợi gì hết, không cần tư hữu, đồng thời giảm thiểu sự hưởng thụ đến tận cùng, thì anh sẽ được gọi là anh hùng thi đua, cá nhân xuất sắc, phần tử tiến bộ, và là một cá nhân vinh quang của bài “quốc tế ca”, chống bóc lột ! » (?)
Ðạo Phật tuy đả phá mọi ác tính và tham vọng, nhưng đạo Phật không chủ trương chối bỏ quyền thụ hưởng hợp lý, những tiện nghi vật chất cần thiết trên đời, để từ những hạnh phúc tương đối ấy, con người có thể xây dựng các nền tảng văn hóa lành mạnh, thăng tiến hơn, thanh tịnh hơn, và đại đồng hơn. Đó chính là đời sống trung đạo của người Phật tử tại gia !
Trở lại hai tiêu chuẩn có tính cách xã hội là phải và trái, đạo Phật còn có một lối phân tích khác nữa. Theo đức Phật, tất cả hành động của một con người, có thể chia ra hai loại :
1-Loại tùy nghiệp (Kammakãra), và
2-Loại tùy ý (Attakãra).
« Loại tùy nghiệp » là do kết quả của những hành động tốt hay xấu, đã làm trong quá khứ, rồi kiếp nầy phải mang lấy, từ khi lọt lòng mẹ, hay kiếp nầy tự nhiên phát tác, mà con người không thể chọn lựa. Ðây gồm những hành động thuộc về bản năng, hoặc thuộc về di truyền.
Chẳng hạng như hành vi cử chỉ của những người đui mù, câm điếc, tàn tật, hay một số thói quen khác biệt, thuộc về nhân thể, như cách mang giày dép, kiểu nói chuyện, lối nằm ngủ, tướng đi, tướng đứng v.v… Toàn bộ động tác nầy trong Phật giáo gọi là hành vi tùy nghiệp. Nghĩa là nó không thiện không ác, vì nó chẳng phải là sản phẩm của sự đắn đo có tác ý, và nó cũng không nằm trong sự chỉ huy của dục vọng hay ác tính.
« Loại tùy ý ». Loại nầy ám chỉ tất cả những hành động có sự can thiệp của ác tính hay thiện tính. Nghĩa là những động tác nằm ngoài ảnh hưởng của nghiệp lực di truyền nhân thể, mà đây là những hành động con người có quyền lựa chọn, để « làm đúng hoặc làm sai » và « trong ý thức có sự ghi nhận trách nhiệm ».
Chính ở loại hành động tùy ý nầy mà người ta mới tìm ra hai quan niệm phải và trái, thiện và ác, lành và dữ..v.v… để ước định qui luật sống chung trong một xã hội. Và cũng chính ở loại hành động tùy ý ấy, mà hai yếu tố nhân và duyên, mới có cơ hội vận chuyển, để làm cho con người phát ra vô số hành động xấu có tốt có, đối với người và đối với mình.
Ngoài ra, như chúng ta đã từng tìm thấy trong tư tưởng Phật Giáo, rằng giá trị luân lý và đời sống tinh thần của con người, trước sự biến dịch của vũ trụ, vốn không phải là chuyện « có thể có » hay « không có thể có », mà chính là một pháp hành hằng có ! -Bởi vì song song với các luật di hóa vật thể, tức là ngoài việc hợp chất, tự nó nếu không « sống » dưới dạng nầy, thì cũng « sống » dưới dạng khác, vẫn còn một « cái » mà người ta gọi là « thèm khát tái sinh » (trong thức ham sống).
Tất cả những ý định của chúng ta dù thuộc cảm chứng (linh thức, trí tuệ), hay không thuộc cảm chứng (vô minh), cũng đều dẫn đến giai đoạn phát tác. Sự phát tác nầy chính là vô số hành vi thiện hay ác. Rồi hậu quả hằng có, của tất cả hành động thiện hay ác ấy, tự nó sẽ biến đổi bản chất hiện tại, và nắn đúc ra tánh khí của chúng ta trong tương lai.
Nghĩa là hình thể sự sống của một con người trong hiện tại vẫn biến đổi từng giây từng phút, từ ý định và động tác nầy, qua ý định và động tác khác. Hễ có bao nhiêu tác ý sinh lên, thì có bấy nhiêu lần bản chất của chúng ta tự biến đổi. Nếu tác ý lọt vào con đường hướng thiện, thì bản chất trở nên cao thượng, tiến hóa. Còn nếu tác ý rơi vào nẻo hắc ám, thì bản chất tức khắc biến thành hèn hạ, chật hẹp, tù ngục, thoái hóa, và sa đọa.
Trong Pháp Cú kinh (Dhammapada), phẩm Song Ðối (Yamakavagga), câu thứ nhất và câu thứ hai, đức Phật đã dạy:
« Vạn Pháp do tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm trách nhiệm tất cả. Nếu con người hành động hay nói năng bằng thiện tâm, thì quả tốt sẽ theo sau, như bóng theo hình ».
«Vạn pháp do tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm trách nhiệm tất cả. Nếu con người hành động hoặc nói năng bằng ác tâm, thì quả khổ cũng bám sát, như bánh xe lăn theo chân con bò ! ».
Nguyên văn chữ Pãlĩ như sau:
“Manopubbangamã dhammà, mano setthã manomayã,
Manasã ce pasannena, bhãsati vã karoti vã,
Tato nam sukkhamanveti, chãyã va anapãyinì’ti !”.
xxx
“Mano pubbangamà dhammà, mano setthà manomayà,
Manasãcepadutthena, bhãsativã karotivã.
Tato nam dukkhamanveti, cakkaŋ va vahato padaŋ’ ti!”
Lại nữa, trong kinh Apannasutta, đức Phật cũng thường nhấn mạnh về 3 yếu thuyết gọi là:
1-Kiriyavàda.- Thuyết duy ý, tức là tùy ý, hay tự do chọn lựa giữa hai động cơ thanh vọng và dục vọng.
2-Atthi paraloko.- Thuyết có thế giới khác, tức là quả đất chúng ta đang sống không phải là cõi duy nhất, mà vạn pháp hữu vi trong vòng luân hồi, còn bao gồm nhiều thế giới nữa. Tái sinh không nhất thiết là « trở lại » trên mặt đất nầy.
3-Hetuvãda.- Thuyết hữu nhân, tức sinh linh hành động luôn luôn có nhân thiện hay nhân ác, hợp với thực tế biến đổi bản chất hiện tại. Đó là những yếu tố nòng cốt của mỗi vòng luân hồi.
Ý nghĩa tổng quát của 3 yếu thuyết nêu trên có thể tóm tắc là :
« Bất cứ hành động nào từ thân, từ khẩu, và từ ý của một người, cũng đều dự phần vào việc biến đổi từng giây từng phút bản chất của kẻ ấy, và hậu quả của những hành động kia sẽ luôn luôn nghiệm đúng vào các kiếp luân hồi về sau
Nếu suy diễn sâu xa hơn, chúng ta cũng có thể kết luận rằng :
« Con người không nhất định như những gì hiện hữu. Vì tính hiếu động và bỡi chuỗi xoay vần của thời gian, tất cả mọi sinh vật đều có thể trở nên tốt hơn hay xấu hơn, trên một trong hai chiều tiến hóa và thoái hóa ».
Các « ân huệ » mà người đời tưởng là do thánh thần, thượng đế ban cho, hay những may mắn bất ngờ, thật ra không gì khác hơn, là kết quả của những hành vi, do chính kẻ được hưởng, đã tạo trong quá khứ !
Nhờ tư tưởng nầy, mà hai quan niệm phải và trái của Phật giáo, không bị đóng khung, bỡi những mục đích có dụng ý của thế gian. Trái lại, căn bản của các ước định phải và trái, thiện và ác trong Phật Giáo, chính là phản ảnh tác dụng từ hành động, tức trách nhiệm của người tạo tác.
Nói cách khác, « Nguyên nhân nào làm phát xuất ra hành động, Phật Giáo tìm hai lý lẽ phải và trái trong nguyên nhân ấy ».
Tuy Phật Giáo căn cứ vào cái quả để nói rằng vui hay khổ (lành hay dữ), nhưng Phật Giáo lại duy vô cái nhân để định rõ phải hay trái. Và như trên đã nói « nhân hành bao giờ cũng tùy ý », nên luôn luôn tương đối, nghĩa là có thể cải sửa được !
Do đó, Phật Giáo nhìn kẻ làm tội, không phải với con mắt cố chấp, cô lập, mà với thái độ tương duyên. Vì một người xấu trong tương lai rất có thể sẽ trở thành tốt. Và một người hiện tại rất đạo đức, về sau nếu không gìn giữ thiện tánh, biết đâu sẽ chẳng biến ra xấu !
Cho nên, sự phát triển hạnh kiểm cộng đồng để sống chung (thể hiện luân lý), và lành mạnh hóa tinh thần cá nhân (nuôi dưỡng ý đức), đối với Phật Giáo không phải là con đường đưa đến ngõ cụt (chỉ vì cho rằng nó trừu tượng), mà chính là con đường duy nhất, tiến đến hạnh phúc giữa xã hội, và trong đời sống cá nhân hằng ngày. Hạnh phúc nầy vốn đặt căn bản trên cởi mở hoàn toàn, giải thoát mọi xung đột, mọi ràng buộc khổ đau.
ĐI SÂU VÀO
QUAN ĐIỂM PHẢI TRÁI
Người ta thường nói « Suy nghĩ đúng thì làm đúng, suy nghĩ sai thì làm sai », Phật Giáo cũng đồng ý với lập luận nầy. Nhưng Phật Giáo còn đào sâu thêm nữa, bằng cách nêu ra các câu hỏi sau đây :
–« Cái gì làm cho con người suy nghĩ đúng ? », và…
–« Cái gì làm cho con người suy nghĩ sai ? » hoặc…
–« Cái gì khiến người ta phân biệt giữa hai cái sai và đúng ? », rồi…
–« Ðâu là ranh giới của đúng và sai ? », cuối cùng…
-Phải chăng chỉ có hậu quả (vui hay khổ) của việc làm mới định được điều đó ?
Ðây không phải là những câu hỏi mới mẻ gì, mà từ cổ chí kim, từ Ðông sang Tây, đã có khá nhiều triết gia, phát biểu ý kiến của họ về vấn đề nầy. Lạ một điều là khi đi vào nội dung chi tiết, rất ít các nhà tư tưởng trên thế giới, có chung quan điểm, về bản chất cũng như về tác dụng, của những hành động phải và trái.
Tuy nhiên, trên bình diện tổng quát, họ cũng không phải là không đồng quan điểm, về một số lối phân tích hai cái bản chất và tác dụng ấy.
Chúng ta có thể góp nhặt những « điểm chung » của họ thành năm loại quan điểm tiêu biểu sau đây :
1-Do đấng tạo hóa. Như đã nói ở đoạn trước, những người tin tưởng vào tạo hóa, thì cho rằng « Mọi hành động đều không liên quan gì đến con người, hay đến hoàn cảnh của con người đang sống, mà tất cả đều do thiên định. ». Loại nầy gồm các nhà lý thuyết siêu hình, hay còn gọi là các nhà thần học. Theo họ, hành động của con người không có vấn đề phải và trái, mà đó chỉ là « ý muốn » của Thượng Ðế hay Thần Linh. (?)
2-Do hoàn cảnh. Các triết gia theo trường phái nầy thì cho rằng « Hai quan điểm phải và trái là kết quả tự nhiên qua sự sống, của các hoàn cảnh xã hội ». Ðối với họ, con người vô thẩm quyền, chỉ hành động tùy hoàn cảnh và theo áp lực của thiên nhiên mà thôi. Cái gì tiện lợi và thích hợp với sự sống của loài người trong khung cảnh chung, thì gọi là phải, còn ngược lại là trái.
Trong quan điểm nầy, thậm chí có một số người đã tin rằng « Hành động nào tạo thỏa mãn tối đa cho con người trước sự sống, thì đó là điều phải ». Chính trực giác và thực dụng là hai phương thức đo lường được « kích thước » của phải và trái. Họ cho rằng hai khía cạnh phải và trái đều có thể tiếp nhận bằng trực giác, như trong toán học « hai cộng hai thành bốn thì phải, và ba trừ một còn năm là trái (sai) ». Hay phải và trái cũng có thể tiếp nhận được bằng giác quan, như ra đường thấy đèn xanh là « quyền phải », còn đèn đỏ là « quyền trái ».
Nói tóm lại, trực giác và kinh nghiệm chính là thước tấc, của hai quan điểm phải và trái, theo trường phái duy hoàn cảnh nầy.
3-Do tâm cảm. Ðây là loại quan điểm hoàn toàn đối nghịch với hai lý thuyết trên, về nguyên tắc của phải và trái. Người tin tưởng vào lý thuyết nầy, thì cho rằng « Phải hay trái tùy thuộc nơi tư tưởng và cảm xúc của con người ». Khi người nghĩ và cảm thấy phải thì ấy là phải. Còn nếu người ta nghĩ và cảm thấy trái thì đó la trái. Ðối với họ, sự thực nghiệm chỉ là kết luận của tâm cảm và suy tư.
4-Do thời gian. Ðây là quan điểm của những người chủ trương thuyết « tương ứng » (dựa theo dòng thời gian). Trong tư tưởng của họ, « phải » hay « trái » chỉ là hai sắc thái của cái vòng nhật nguyệt tuần hoàn. Nói cách khác, chính thời gian đã đẻ ra những nguyên tắc của « phải và trái ». Nhưng vì thời gian xoay vần, nên phải và trái cũng xoay vần theo. Tỷ như trên quả địa cầu, hễ bên nầy ban ngày thì bên kia ban đêm. Do đó phải và trái, dù có bị ảnh hưởng bởi những nền văn minh, hay bất cứ một thế lực nào khác, cũng không thể lọt ra ngoài sức chi phối của “nguyên tố”sinh ra nó là thời gian.
Bằng chứng là khi chúng ta truy tầm ngược giòng lịch sử, chúng ta sẽ tìm thấy tất cả những kết luận phải và trái, đều chỉ có hiệu lực từng giai đoạn (tương đối). Như môn hình học trước đây bảo rằng « hai đường thẳng song song là hai đường thẳng không bao giờ gặp nhau », thì ngày nay các toán học gia lại xác nhận điều đó không đúng. Nhiều chuyện trước đây năm bảy thế kỷ, người ta đã cho là đúng, thì bây giờ ngược lại là sai.
Như vậy, toàn bộ thiên nhiên (kể cả xã hội loài người), vốn chỉ là cái sân khấu để cho thời gian biểu diễn hai sắc thái phải trái của nó !
5-Do óc sáng tạo. Người tin vào óc sáng tạo thì cho rằng, các quan điểm về phải và trái (nền tảng của luân lý và đạo đức), đều hoàn toàn giả định. Ngay cả « bản chất » của phải và trái, tự nó cũng chỉ là kết quả của óc sáng tạo, mục đích để làm cho kẻ « chủ trương » nó, có đề mục mà tự kỷ ám thị, hành động theo một chiều hướng có chủ đích nào đó. Vì khi người ta đề cao điều tốt (thuận, phải), chỉ trích điều xấu (nghịch, trái), thực sự chẳng có một tác dụng nhất định nào, đối với bản thân hay xã hội cả, mà đó chỉ là một cách để tự mình tạm thời nhập cuộc với dụng ý chung, theo đòi hỏi của óc sáng tạo trong thế hệ.
Trong khi hai quan địểm 1 và 2 cho rằng « Con người hoàn toàn bất lực trước hai nguyên tắc phải và trái, và chỉ luôn luôn hành động, hoặc theo ý muốn của thượng đế, hoặc theo vận chuyển của thiên nhiên », thì trường phái chủ trương phải hay trái do cảm thức lại khẳn định « Chính cảm thức (hay tư tưởng) của con người mới đặt để ra phải hay trái ».
-Nghĩa là tất cả những hành động nào, được mọi người trong một cộng đồng ưa thích và chấp nhận, thì ấy là « phải », còn ngược lại là « trái ». Do đó, yếu tố « cộng đồng » mới là nền tảng chính, để cảm thức con người nhận ra « phải » hay » trái ». Và mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia, mỗi sắc tộc v.v…có những nguyên tắc về phải và trái riêng biệt, không giống nhau, và bất khả xâm phạm.
Trên đây là tất cả những quan điểm thông thường thuộc các trường phái triết học, về hai nguyên tắc phải và trái. Mặc dù họ đã cố gắng phát triển và bổ túc tối đa, song chưa có một quan niệm nào, có thể xem là hoàn toàn.
-Riêng Phật Giáo thì sao, Phật Giáo phát biểu như thế nào, về hai quan điểm thiện và ác, hay phải và trái ? -Và Phật Giáo có đồng ý với một cái nào trong năm “quan niệm” vừa nêu trên không ?
Ðể trả lời cho các câu hỏi ấy, chúng ta thử đi thẳng vào đề, và mở rộng hơn lối phân tích của nhà Phật, về hai phương diện phải và trái.
Phật Giáo thuyết minh rằng : Có hai loại « hữu phần », là hữu phần tịnh và hữu phần động. Hữu phần tịnh chính là toàn bộ vật chất ở trạng thái tĩnh, nghĩa là nó chỉ kết hợp, hiện hữu theo giòng thời gian, chứ không có sinh thức, chẳng hạng như đất, đá, cây, cỏ.v.v… -Xác chết của con người cũng là một « hữu phần tịnh », vì sau đó nó tuy mục nát tan rã, nhưng vẫn còn tiếp tục hợp tan, tức là « sống cái đời sống của cát bụi ».
Còn hữu phần động tức là các thứ vật chất ở trạng thái tịnh sinh đang cấu kết với pháp hành của thức ham sống. Ðức Phật gọi ấy là“hoạt uẩn” (khandha jĩva). Hữu phần động nằm trong tứ đại biến hóa chuyển nghiệp, của thức ham sống. Chúng ta nêu lên 2 loại « hữu phần » nầy, vì nó có liên quan đến việc phát xuất các đặc tính thiện và ác, hay phải và trái.
Trong Vi Diệu pháp (Abhidhamma) có bàn : « Thức ham sống » chính là nguyên nhân phát ra lực hiếu động, mà « lực hiếu động » lại có hai chiều là thanh (nhẹ=khinh) và trược(nặng=trọng), “đồng nghĩa” với thiện tánh và ác tánh. Thanh hay nhẹ thì hướng lên cao, trở nên tiến hóa. Trược hay nặng, trì trệ thì hướng xuống thấp, dẫn đến chìm đắm, chật hẹp, thoái hóa, xung đột, và trì kéo tại chỗ. Hai tính chất phải và trái (thiện và ác) không gì khác hơn là hai « bản tướng » của cặp thanh lực và trược lực nầy.
Nói cách khác, hành động nào làm cho tâm hồn con người nhẹ nhàng, lợi lạc và thân hữu, thì ấy là hành động phải (thiện), còn hành động nào gây ra đổ vỡ, đau khổ, hối tiếc, chật hẹp, cấu kết với hận thù oan trái, thì đó là trái (ác).
Ðến đây hẳn chúng ta đã thấy rõ cái tiêu chuẩn ấn định phải và trái, hay thiện và ác của Phật giáo rồi. Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ nói đến nguồn gốc của thiện và ác (hay phải và trái), một cách biệt lập như thế, thì vấn đề quả rất đơn giản, không còn gì phức tạp để bàn tiếp.
Nhưng việc đời thường không phải lúc nào cũng dễ dàng sáng tỏ. Vả cái phức tạp chính ở đây, lại là chuyện phải trái nằm trong ý thức luân lý, hay được đặt trong giềng mối xã hội, tức là nằm trong môi trường sống chung luôn luôn có từ ba phần tử trở lên.
Như đoạn trước đã nói, « nơi nào có thiện tánh là nơi đó có ác tánh », hay thanh lực phát động ở đâu là trược lực đến liền nơi đó.
Vì thế, trong một con người, hoặc trong một xã hội, tất cả những hành động đều chịu ảnh hưởng của cả thanh lực lẫn trược lực. Khi phán xét một chuyện xung đột, người ta luôn luôn tìm thấy cả hai đối thủ trong cuộc đều có chỗ đúng và cũng đều có chỗ sai(ước định).
Duy chỉ sự chênh lệch trong tỷ lệ đúng và sai của họ, mới là điểm phân biệt. Người nào « đúng nhiều sai ít » thì được xem tương đối là đúng, còn kẻ nào « đúng ít sai nhiều » thì tùy trường hợp gọi là sai. Và rất ít khi có một bên hoàn toàn đúng, còn bên kia hoàn toàn sai, để có thể thẩm xét vấn đề, qua hai cái đúng và sai, một cách riêng rẽ, nhất định.
Phật giáo nhờ biết rõ « nguyên ủy tương quan » trong mọi hành động tốt hay xấu của con người, là do thiện tính hoặc ác tính (thanh lực lẫn trược lực) như thế, mà Phật giáo mới thiết lập được cái tiêu chuẩn phải trái hay đúng sai, một cách khách quan chính xác, dựa trên ý và thức (tức Attakãra và Cittakàra) :
-Ý: Tự mình có quyền chọn lựa (tùy ý: Attakàra).
-Thức: Tự mình suy tư, hiểu rõ việc mình làm, và biết chắc hậu quả (tốt hay xấu) của nó. (Cittakàra).
Từ đó, Phật giáo mới có thể kết luận. Và trong khi kết luận Phật giáo luôn luôn chú trọng đến căn bản trách nhiệm, tức là « tự thân trách nhiệm » (tự giác) và « luân lý trách nhiệm » (tha giác), theo lý nhân quả.
Ðối với Phật Giáo, khởi đầu một hành động chính là tác ý (Cetanã). Tuy tác ý lành sẽ cho ra hành động lành, còn tác ý dữ sẽ gây nên hành động dữ. Nhưng nếu muốn cho hành động nhiều năng lực hướng thiện hơn nữa, hành giả chỉ có tác ý tốt không chưa đủ, mà phải có sự hiểu biết và thuần thục trong khi hành động.
Một hệ thống luân lý, có khả năng tạo vui giảm khổ cho xã hội, là một hệ thống luân lý vừa hội đủ những tác ý văn hóa tốt dựa trên thiện tánh, vừa phải thuần thục minh bạch, nhờ phát triển trí tuệ, và quan sát các thành quả tốt xấu của việc làm.
Hai chữ « phải » và « trái » đối với thế gian, rất có thể là những từ ngữ chế định, nếu không muốn nói là phỏng định. Vì lúc người ta dùng nó, người ta chỉ có một sự hiểu biết nôm na là « đồng ý » (phải), hay « không đồng ý » (trái), chứ người ta không thực sự nhận biết thực tế trong chiều sâu của vấn đề.
Nhưng trong đạo Phật, khi người học Phật đề cập đến hai chữ phải (thiện) và trái (ác), thì họ phải có ý thức đầy đủ về hai từ ngữ nầy.
Thử nêu vài thí dụ:
– Trường hợp thứ nhất : Một người cầm dao rồi đâm sâu vào da thịt của người khác. Nếu người nầy cố ý giết chết người kia, thì đó dĩ nhiên là một hành động ác (trái), không còn gì phải nói. Nhưng nếu người cầm dao là một y sĩ, cầm dao để giải phẩu, cứu mạng người bệnh, thì lúc bấy giờ việc cắt xẻ da thịt, lại là một hành động phải (thiện), chẳng ai phản đối vào đâu được.
– Trường hợp thứ hai : Anh X đang bị cơn bệnh hoành hành. Chị X đi chợ về thấy chồng như vậy quá nóng ruột, chị cuốn quít vội chụp lấy chai thuốc, đưa cho chồng uống cạn. Sau đó người chồng ngã lăn ra chết, vì bị vợ cho uống nhầm thuốc.
Trước trường hợp thứ hai, người ta không thể nào nói vợ anh X là một người ác tâm được, vì thực tình chị không có tác ý giết chồng. Trái lại chị đã rất thương chồng, và vô cùng đau khổ vì sự sơ ý của mình, đã làm cho chồng thiệt mạng. Riêng những ai thông cảm nỗi lòng của chị X còn bảo rằng: « Chị X đã làm một việc phải làm, còn chồng chị ngộ độc chết, là một điều rủi ro, hay bỡi « số mệnh » !
Bây giờ chúng ta thử phân tích trường hợp thứ hai, theo quan điểm của Phật Giáo : Từ ngữ thiện (Pàlì : Kusala) trong đạo Phật, ngoài việc diễn tả cái « tác ý tốt » , nó còn hàm chứa phần hành động theo sau phải được thuần thục, và có kết quả vô hại nữa !
Nghĩa là tuy Phật Giáo không kết tội chị X giết chồng, nhưng Phật Giáo không nhìn nhận chị X đã làm điều « thiện », vì kết quả của việc chị làm trong lúc hốt hoảng (vô minh), đã đem đến sự thiệt mạng cho chồng.
Do đó, chỗ « tiêu chuẩn” về thiện và ác (hay phải và trái) trong Phật Giáo, là một « tiêu chuẩn” không những chỉ đặt nền tảng trên tác ý (văn hóa), mà còn căn cứ vào tình trạnghiểu biết minh bạch, và mức độ thuần thục biết rõ, hay “an toàn trong hành vi ».
Nhắc lại chữ “Kusala”, tiếng của đức Phật nói ngày xưa, ngoài cái nghĩa là “thiện”, là tốt, còn có nghĩa là thuần thục, sáng suốt hiểu rõ nữa.
Khi người ta nói « Anh kia ăn trộm rất thiện nghệ », không có nghĩa là người ta bảo hành động của anh ta tốt (thiện), mà người ta ám chỉ việc ăn trộm của anh ta rất “thạo”. Tiếng « thiện nghệ » trong câu nầy chỉ có nghĩa là thuần thục, thạo việc. Dù khổ chủ có cảnh giác, canh giữ chỗ cất của, cẩn thận đến đâu, người ấy vẫn bị anh ta ăn trộm dễ dàng như thường.
Soạn giả mạn phép trình bày như thế, để quí vị thấy rằng, đối với Phật Giáo, một hệ thống luân lý hướng thiện cho xã hội, không phải là một hệ thống luân lý chỉ tạo cho con người phân biệt nôm na hai nguyên tắc phải và trái, mà nó còn có khả năng giúp họ thực hiện điều phải, tránh điều trái một cách không nhầm lẫn nữa.
Nhắc lại một Phật ngôn trong kinh điển làm tiêu biểu
« Viceyye dãnaŋ dãtabbaŋ ! » Nghĩa là :
« Có thiện ý giúp người không chưa đủ, mà cần phải giúp người một cách an toàn, sáng suốt nữa ».
“Sáng suốt” ở đây tức là cái phẩm cách thuần thục bình tĩnh trong khi làm, để biết rõ hậu quả nào sẽ đến, hầu tránh khỏi tổn hại. Từ đó, tinh thần “hành giả” mới tự tại, hoan hỷ, sẵn sàng hướng lên các sinh hoạt khác tiến hóa cao hơn, đại đồng hơn.
Nói cách khác, cứ mỗi lần một thiện nghiệp được thực hành (sống theo luân lý), là một lần chủng tử lành mạnh trong tâm hồn của hành giả được củng cố, trong chiều hướng mở rộng. Ấy là một phẩm cách luân lý sống hòa ái, thanh tịnh, hữu dụng, không những cho riêng mình, mà còn cho cả xã hội nữa !
Khi hai tiêu chuẩn thiện và ác được nhận thức rõ rệt, người Phật tử thấm nhuần giáo lý, sẽ không cảm thấy mơ hồ, trong bất cứ hành động nào của mình. Ðồng thời họ cũngkhông tự thấy rằng « thứ tự tạo thiện thục độ mình trước, để vững chắc độ người sau« , là một quan niệm ích kỷ, như một số người lầm tưởng, thường chỉ trích. Vì chính nhờ hai giai đoạn « tự giác rồi mới giác tha » hay « tự độ rồi mới độ tha », mà con đường tiến hóa đến giải thoát tối thượng, của từng cá nhân và của cả xã hội, mới được thành lập vững chắc !
Ai mê mờ, ham danh, đảo lộn phương pháp sống đạo ấy, thì ví chẳng khác nào kẻ chưa đủ sức lội một mình trên giòng nước, mà vì « lòng từ bi »(?), đòi nhảy xuống sông, để cứu vớt những người đang chới với, là một việc làm hết sức tai hại và hoàn toàn vô lý. Vì kết quả, chẳng những họ sẽ không giúp ích được ai, mà chính bản thân cũng diệt vong.
Ngay trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikãya), quyển I, đoạn 46, đức Phật cũng khuyên nhủ các hàng đệ tử những lời, ngụ ý tương tự :
« Không có chuyện một người hai chân đang bị vướng chặt trong vũng lầy, lại có thể kéo nổi kẻ cùng cảnh ngộ ra khỏi nơi ấy. Cũng như chỉ có người đã sáng suốt thoát hiểm, thì mới đủ khả năng cứu đồng loại, khỏi vòng nguy khốn ».
Thực ra, “lòng vị tha” là một đức tánh có tác ý tốt, nhưng trong một phàm nhân, khi thiếu sáng suốt, đem thực hiện “nó” không đúng chỗ, và không hợp thời, cũng chưa chắc đã tạo được một hành động thiện !
Các từ ngữ như “hy sinh” “xả thân”, “vì người” hay “cứu giúp”..v.v……nếu hiểu theo thị hiếu phần đông, là hành động đáng ngưỡng mộ, đáng đề cao, và nếu bằng ý thức vướng mắc, sẽ trở thành những cái bẩy rất nguy hiểm, vì ở đó đã có sẵn một nguyên nhân háo danh (mâu thuẫn), để bị sa lầy, vướng mắc, và không lối thoát !
Như câu chuyện nói trên, một người chưa biết lội mà khăng khăng bảo rằng « Tôi phải thực hiện hạnh cứu giúp, dù chết cũng cam !(?) ». Rồi họ phóng mình xuống nước, toan vớt những người đang chới với, thì rõ ràng người ấy đã rơi vào cạm bẩy chấp ý thức, chẳng những họ không thực hiện được việc « thiện » (cứu người), mà còn vô tình tự hủy mình. Ấy chỉ là một hành động bất thiện, vì cả hai « kẻ đi cứu » và « người cần cứu » đều vong mạng ! Nhưng cái mâu thuẫn ở đây, là sau đó họ lại đuợc người đời khen ngợi, ghi danh.
Trước tình trạng tỉnh ít mê nhiều, và mê tỉnh lẫn lộn trên thế gian, Phật giáo hiếm khi dùng các từ ngữ « hấp dẫn » (như « vị tha », “hiến thân” chẳng hạng), đễ gây ảo tưởng công cộng. Thay vào đó Phật giáo luôn luôn đề cao các đức tính bác ái và đại đồng, vì :
–Bác ái là tình thương bao la, trong đó không quên là có mình nữa, hay,
–Ðại đồng là xây dựng hạnh phúc chung, tương quan giữa hạnh phúc của mình với “của người”.
Và với một ý nghĩa sâu rộng, hai chữ “của người” được nêu ra ở đây, không ám chỉ gì khác hơn là “của toàn thể thân thuộc” chúng ta, từ muôn vạn kiếp trước.
Nói về thái độ trước hạnh phúc của mình và của người, kinh Phật cũng ghi rõ rằng nhân sinh có bốn loại :
1-Kẻ chẳng biết lo cho bình an của riêng mình và cũng không màng đến bình an của người khác (ngu muội).
2-Kẻ luôn luôn chăm lo hạnh phúc của riêng mình, và bất chấp an nguy của người khác (ích kỷ).
3-Kẻ vừa nghĩ đến sự bình an của bản thân mình, vừa cũng quan tâm đến an nguy của người khác (hòa đồng).
4-Kẻ luôn luôn xem hạnh phúc của người và của mình là một. Nếu gây thiệt hại cho người, tức là gây thiệt hại cho mình, hoặc đem sự toại ý đến cho người, tức là mang lại sự vừa lòng cho mình. Rồi họ sống trọn đời thiện hạnh như một lẽ tự nhiên, không phân biệt mình đạo đức hơn người, cũng không thấy rằng người kém thiện tâm thua mình (thiện hạnh và tự tại).
Và kinh kết luận :
”Trong bốn loại đó, hạng người thứ ba nhiều an vui, và hạng người thứ tư được Giải Thoát !”.
Cho nên, khi Phật Giáo đề cập đến các hành động thiện, làm gương cho đạo lý thế gian, là Phật Giáo muốn ám chỉ hai hạng người thứ ba và thứ tư, tức hạng người luôn luôn sống sao lợi mình, mà cũng đem an vui đến cho người, và cao thượng nhất là hạng người sau cùng, chuyên sống vì xã hội như vì mình, mà không gây tổn thương đến cá hạnh hướng thượng của toàn thể.
Mặt khác, khi nói đến hạnh phúc hay lợi ích thế gian, người Phật tử còn phải phân biệt rõ rệt hai loại « tác dụng » của hạnh phúc hay lợi ích ấy nữa. Ðó là chân hạnh phúc và giả hạnh phúc !
-Chân hạnh phúc là loại hạnh phúc không những đem lại bình an cho người thụ hưởng trong hiện tại, mà nó còn biến thành điều kiện để hành giả tái tạo nhân lành, hầu còn tiếp tục có hạnh phúc về sau.
-Giả hạnh phúc là thứ hạnh phúc nhất thời làm thỏa mãn dục vọng của người thụ hưởng, nhưng tự nó cũng là nguyên nhân để cho hành giả say mê, mất sáng suốt, tạo ra nghiệp dữ và sẽ gặt hái quả khổ trong tương lai.