Phần ba
Về 37 Phẩm Bồ Đề
gồm
114 câu thơ đạo hợp thành
Tràng Hoa Giải Thoát
Đêm tàn, ngọn nến mong manh,
Lật trang kinh cổ, thắp cành hương xưa.(1)
Tìm trong giáo lý “không thừa”….(2)
Những “hoa đạo” nở bốn mùa vẫn như….
***
Thấy tràng hoa Thánh chân hư.
“Xứ.”, “Cần”, “Như ý ”, tịnh cư “Căn lành”(3)
Và thêm “Ngũ lực” hợp rành, (4)
“Thất chi”, “Bát chánh” tạo thành giác duyên.(5)
Ba mươi bảy pháp mầu chuyên.
Đưa đời hành giả vượt biên luân hồi.
Bể trần ai đã ra khơi,
Mang tràng hoa ấy, biết nơi quay về.
***
Đầu tiên, nhìn bốn hoa kề,(6)
Thân, Thọ, Tâm, Pháp, liệu bề thần đan.
“Niệm thân ô trược”, chiêu an….
“Niệm thọ thị khổ” chứng đàng ghét thương.
“Niệm tâm” rõ luật vô thường.
“Niệm Pháp” minh sát những tương quan hành.
Vô thường, vô ngã…..tử sanh.
Thì không chấp tưởng của mình, thân….ta
***
Kế là bốn đóa “Kinh Kha”,(7)
Một “Cần khởi thiện”, hai là lớn lên,
Ba “Cần dẹp ác lâu bền”,
Bốn “Cần chận giống mọc nên thức tà”.
Tứ Chánh Cần trổ được hoa,
Thì bao bất thiện mất đà, tiêu vong !
***
Rồi hoa “Như Ý Túc” trong.(8)
Bốn phẩm đầy đủ, đạp vòng nhân duyên…
Đó là Dục, Niệm, Tấn miên,
Và Tư Khán rọi mọi miền “thức trung”(9).
Dục như ý, muốn đến cùng,
Niệm như ý túc, tâm khung tròn đầy
Tấn như ý, đạo khôn lay
Tư duy như ý, khán bày giả chơn
Bốn hoa Ý-Túc vuông tròn,
Cắm vào “tràng giác”, thắm son tuyệt vời…
***
Ngũ căn, là những hoa khôi,(10)
Nở từ chứng đắc, chẳng chơi luận bàn.
Tín căn nở bỡi tâm an,
Tấn căn xác nghiệm, phá đàng buông lung.
Niệm căn, nhất điểm đến cùng
Định căn mà vững, không lung lạc thầm,
Tuệ căn quán chiếu cao thâm.
Năm hoa như những đá ngầm ẩn tên.
Ngũ căn là móng ôm nền
Nâng tràng hoa GIÁC vững bền sắc hương !
***
Tiếp theo “Ngũ lực” phi thường(11)
Ấy năm sức đẩy vô phương thụt lùi.
Đó là năng lượng tỉnh tươi
Luôn luôn củng cố sức chùi gương tâm
Thứ nhất, Tín lực đúng tầm.
Qua sự thực chứng cao thâm cỡ nào..
Thứ hai, Tấn lực ra sao,
Như người bắt kế thú vào dây ghe.
Tính rành sức mạnh kéo bè
Ngược giòng sinh tử, vượt khe luân hồi
Thứ ba, Niệm lực không rời,
Bốn oai nghi đúng theo lời Phật khuyên.
Thứ tư, Định lực thuần chuyên.
Tô bồi đều đặn triền miên vững vàng.
Thứ năm, Tuệ lực ngang hàng.
Với sức chọc thủng các màng vô minh.
Tuệ lực ấy, thanh kiếm linh.
Sắc bén chặt đứt rể sinh tử dài.
***
Thất giác chi ấy an bày(12)
Tuần tự tu chứng ngày ngày nở hoa.
Niệm Giác Chi phá vọng sa.
Xuyên thọ, tâm, pháp…vượt qua thân nầy.
Trạch Giác Chi, chọn cách ngay
Sáng suốt thích hợp, để dày công phu.
Tấn Giác Chi tánh đặc thù,
Tẩy trừ ảo tưởng lu bu kết vào.
Hỷ Giác Chi, hướng lên cao,
Khinh an cảnh giác, nối vào tĩnh tâm.
Định Giác Chi chiếu không lầm.
Cho dù ở giữa “bóng tâm” lọc lừa.
Soi nhị biên, lưới đong đưa
Tung mành thiên kiến, chẳng chừa lối ra.
Xả Giác Chi phá dục ma.
Rằng dù «trong có» vẫn là như không.
Chẳng thấy «mình vướng» ở trong.
Ở trong mà Xả, thong dong như ngoài.
***
Và hoa “Bát Chánh” nở khai.(13)
Tám đóa tinh khiết giũa mài trầm luân.
Có Chánh Kiến, thấy pháp chân.
Việc đời vẫn thế, không phân biệt gì.
Chánh Tư Duy vượt nghĩ suy,
Chẳng thiên chẳng vị, chẳng vì thấp cao.
Khi “đúng” thì đúng thế nào.
Khi “sai”, căn cứ thật vào nhân duyên
Đúng sai, hai niệm hai biên.
Rõ thông rồi mới an nhiên thốt lời.
Chánh Ngữ chân thật tô bồi,
Thiện pháp thực tại sáng ngời phúc âm.
Chánh Nghiệp như búp sen ngầm,
Hướng lên ánh sáng cao thâm sinh tồn.
Ngày ngày sinh kế sạch chơn
Không gieo oan trái giận hờn xung quanh.
Thêm hoa Chánh Mạng trong lành
Với Chánh Tinh Tấn một cành thanh cao.
Siêng năng, thiện pháp tô vào,
Cho hoa Chánh Niệm lúc nào cũng tươi.
Niệm mà không vướng tham, lười.
Thì quả Chánh Định mười mươi vẹn toàn.
Thiền-Na chín phẩm vàng son.
Định mà Xả mới viên tròn Thánh duyên.(14)
Tử sanh, phiền não, xích xiềng
Không còn chấp trước, chung, riêng kiếp nầy,
Thảnh thơi như giải mây bay,
Hợp tan chẳng bận tháng ngày trôi qua.
***
Quang minh, chánh giác một tòa
Hoa Bồ Đề đó, có mà cũng không.
“Từ bi hương” đốt tâm lòng,
Tỏa ra tam giới chứng KHÔNG để CÒN !
Tuệ Lạc
(Ivry Sur Seine, Pháp Quốc : 24/02/2009)
Chú thích :
(1) «Thắp cành hương xưa» = Đốt cây nhan cũ khi đọc cổ kinh.
(2) Không xem mình thuộc tông phái, hay «thừa» nào cả.
(3) «Xứ» là viết tắc của Tứ-Niệm-Xứ. «Cần» là Tứ-Chánh-Cần. «Như Ý» là Tứ-Như-Ý-Túc (hay Tứ-Thần-Túc). «Căn» là Ngũ Căn.
(4) «Ngũ Lực»,, năm phẩm song hành với Ngũ Căn.
(5) «Thất Chi» là Thất-Giác-Chi. «Bát Chánh» là Bát-Chánh-Đạo.
(6) Bốn hoa hay Tứ-Niệm-Xứ» là Niệm Thân, Niệm Thọ, Niệm Tâm, và Niệm Pháp.
(7) «Bốn đóa Kinh Kha» ám chỉ Tứ-Chánh-Cấn gồm : Chuyên cần làm cho thiện pháp chưa phát sinh, sẽ phát sinh, Chuyên cần làm cho thiện pháp đang có sẽ tăng trưởng, Chuyên cần làm cho ác pháp chưa phát sinh sẽ không phát sinh, Chuyên cần làm cho ác pháp đang có sẽ tiêu diệt. Kinh Kha là người hùng, không ngại nguy hiểm, trong sử Tàu.
(8) Tứ-Như-Ý-Túc (hay Tứ-Thần-Túc) gồm Dục-Như-Ý-Túc (=Dục-Mãn Thần-Túc), Niệm-Như-Ý-Túc (=Niệm-Tâm Thần-Túc), Tấn-Như-Ý-Túc (=Tinh-Tấn Thần-Túc), Tư-Duy Như-Ý-Túc (=Khán Tư Thần-Túc). Chú ý, chữ Pàlì «Chanda» ngoài 2 nghĩa «dục», hay «mãn ý», còn có nghĩa là «tự nguyện». Như vậy, «Dục như ý túc» hay «Mãn ý thần tú»c, cũng có thể hiểu là «Nguyện như ý túc». (Theo Buddhaghosa, ghi trong 13 điều Tăng Tàn, Sanghàdisesa, Thuộc Tạng Luật).
(9) «Thức Trung» là trong tâm thức
(10) Ngũ Căn» gồm Tín Căn, Tấn Căn, Niệm Căn, Định Căn, và Tuệ Căn.
(11) Ngũ Lực gồm Tín Lực, Tấn Lực, Niệm Lực, Định Lực, và Tuệ Lực, là năm sức mạnh của Ngũ Căn
(12) Thất-Giác-Chi, gồm Niệm-Giác-Chi, Trạch-Pháp Giác-Chi, Tinh-Tấn Giác-Chi, Hỷ-Giác-Chi, Khinh-An Giác-Chi, Định-Giác-Chi, va Xả-Giác-Chi.
(13) Bát-Chánh-Đạo gồm Chánh Kiến, Chánh Tư-Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh-Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Định.
(14) Định thành Xả la không chấp trong định. Lấy cái sức mạnh và diệu dụng của định, để minh sát, chứ không dính trong sự đắc định, hay không dính trong các bậc thiền.