Tịnh Đạo Ca P2

Phần hai :

Về Quán Tứ Đại

1-Pathama mahàbhùta : Paṭhavì

   (Đệ nhất đại : Đất)

2-Dutiya mahàbhùta : Àpo

   (Đệ nhị đại : Nước)

3-Tatiya mahàbhùta : Tejo

   (Đệ tam đại : Lửa)

4-Catutthì mahàbhùta : Vàyo

   (Đệ tứ đại : Khí hay Gió)


Quán về «đất».

Paṭhavì Anupassanà

(hay về Pháp hành của đất).

Những gì hợp thành thể,

Thì phải có dạng hình.

Thô kệch hay vi tế,

Gọi là sắc cấu sinh.

***

Trong vật chất, tứ đại. (1)

Thì thổ đại là «nền».

Cứng, mềm, đa trạng thái (2)

Ngoại tướng mang lắm tên (3) !

***

Nói nôm na là đất.

Biến dạng mãi không ngừng

Vừa giả cũng vừa thật.

Đầy, vơi….hoán chuyển luôn. (4)

***

Thân người là thổ chất,

Nên phải có lớn, già.

Thủy, hỏa, khí….tương tác

Hỗn hợp như phù sa. (5)

***

Đất không nước, tan rã….

Nước không đất vô nơi (6)

Bồng bềnh muôn vạn ngả.

Động và tĩnh theo thời.

***

Đất chứa lửa, và nước,

Chứa cả khí, «dung môi».

Hợp, tan, thanh và trược.

Tùy nghiệp hóa ra thôi.

***

   Đất “vận chuyển”muôn loài.

Trên con đường tiến, thoái

Từ thấp, noãn, thai phôi (7)

Đến dục, sắc, nhân loại.(8)

***

Tâm vọng, là đất…. trần

Tâm tịnh, là đất…. lạc.

Hành xả, đất….vô nhân. (9)

Chẳng hạt gieo, quả tác.

***

      “Tâm xả” là đất thật.(10)

Đất “tịnh độ” quang minh

Không tốt xấu, đắc thất.

Đồng nghĩa với vô sinh.

***

Vô sinh thì vô tử.

Thổ đại nguyên vĩnh hằng.

Không ly không nhập xứ.

Dứt cấu kết, siêu thăng !

TL

Ivry /Seine 3/10/2009)


 Chú thích:

(1)Tứ đại (Catu mahàbhùtàni) là bốn vũ trụ tố, gồm : 1/Thổ đại (hay tạm gọi là đất), 2/Thủy đại (hay tạm gọi là nước), 3/Hỏa đại (hay tạm gọi là lửa), và 4/Khí đại hay phong đại (cũng tạm gọi là gió).

(2)Cứng, mềm là hai tánh bất di bất dịch của Đệ Nhất Đại (hay“đất”). “Hai tánh” ấy không có hình dạng. Người ta chỉ cảm giác, chứ không nhìn thấy được.

(3)“Lắm tên” : Ám chỉ đất có nhiều hình tướng, nhìn thấy được. Mỗi tướng hiện một dạng khác, nên “có lắm tên”.

(4)“Đầy vơi…hoán chuyển luôn”, tức là biến hóa không ngừng, ý nghĩa tương đương với các câu “Sông biển một ngày kia có thể hóa ra ruộng vườn, và ruộng vườn thành ra sông biển”.

(5)Phù sa là khối đất do giòng nước chảy bồi lên. Ví như thân người cũng do chất bổ từ thực phẩm, hòa tan trong giòng máu, nhờ hơi thở tuần hoàn tô bồi. Và nếu đất phù sa ngoài sông biển một ngày kia có thể biến mất, thì thân người giữa cuộc đời cũng như thế..

(6)Vô nơi là không trú xứ nhất định.

(7)Thấp, noãn, thai phôi là thấp sinh, noãn sinh, và thai sinh, 3 trong 4 loại sinh hành, do Vô Minh luân hồi vận chuyển. Nói theo nhà Phật, đó là các giống ra đời từ ba cảnh, như thấp duyên (trong môi trường vật chất mục nát, ẩm ướt), như noãn duyên (trong trứng), và như thai duyên (trong lòng mẹ), thì luôn luôn si mê, không biết mình từ đâu đến. Sau cùng thứ tư là hạng hóa duyên là sinh trong địa ngục hay sinh trong các cõi trời, như chư thiên và rất hiếm chư đại Bồ Tát.

(8) Dục giới vá sắc giới

(9)Tứ Đại được hiểu chung chung là “nền tảng” của hai cõi Dục Giới (Kàma loka) và Sắc Giới (Rùpa loka).

(10)Tâm Xả = Tâm luôn luôn được hướng dẫn bằng pháp xả, hay hạnh xả


Quán về “nước”

Àpo Anupassanà

    (hay về Pháp hành của nước).

Những gì trượt lên nhau

Nối kết từ hạt bụi (1)

Bốc hơi trước và sau

Hiện thân thành sông, suối.

***

Ấy là nước cõi trần

Phật giáo gọi «thủy đại»

Tánh hợp tan, làm nhân (2)

Của muôn hình vạn thái.

***

Nước đóng vai «bản lề» (3)

Giữa đất, lửa, và khí

Khi tách khỏi hội tề (4)

Tứ đại liền diệt trị (5)

***

Nếu lìa ba thứ kia,

Đệ nhị đại vô xứ

Không thể phân lẫn chia

Vì chẳng còn vi tử (6)

***

Nước “dung dị” vô cùng

Hòa hợp không kỳ thị

Thuận nghịch đều kết chung

Bình đẳng phi giá trị. (7)

***

Nước làm tan chất bồi

Gặp dơ như gặp sạch

Tánh nước chẳng tanh hôi

Diệu dụng muôn ngàn cách

***

Khi lặng yên thì trong

Như tâm thiền thanh tịnh

Cáu cặn hiện rõ thông

Hết trộn đục, mắc dính.

***

Lạnh nhiều nước thành băng

Lạnh ít nước tan loãng

Nóng bức bốc hơi thăng

Thành mây rồi mưa thoáng.

***

Nước mát, nước Tịnh Bình (8)

Nước giải, nước hỷ xả (9)

Nước trong, nước tấn sinh (10)

Nước đục, nước sa đọa. (11)

***

Tâm người ví như nước

Trong, đục, và thoát hơi

Càng nhẹ càng ít trược (12)

Thì hạnh phúc muôn đời.

TL

(Ivry sur Seine 5/10/2009)

 


Chú thích :

(1)Nước có khả năng dán dính và cũng có khả năng làm rã, nên nó là nguyên nhân của hợp tan.

(3)“Bản lề”ở đây ám chỉ sự liên kết trong hoạt động, như bản lề nối cánh cửa vào khung cửa để làm việc mở đóng. Tương tự như vậy, trong Tứ Đại (đất, nước, lửa, và khí), thì nước là “một đại” liên kết những “ba đại” kia.

(4)Tứ đại hợp lại gọi là “hội tề”.

(5)Diệt trị : Y nói tứ đại khi tách rời, mỗi đại liền “biến mất”, “độc lập”, tự nhiên trong vũ trụ. Chúng tự do, vô định, vừa chỉ ở một điểm vừa ”có mặt” khắp mọi nơi. Nên gọi là Không hay Có đều đúng

(6)“Chẳng còn vi tử”: Tức là hình thể nhỏ nhất cũng không còn.

(7)Phi giá trị : Vượt lên trên mọi giá trị.

(8)Nước “Tịnh Bình” : Truyền thuyết ám chỉ một thứ “nước” thần diệu, tên là “Cam Lộ”, luôn luôn mát mẻ, chứa trong “tịnh bình” của Bồ-Tát Quán Thế Âm. Nó có thể cải tử hoàn sinh, tiêu trừ tất cả nghiệp chướng, phiền não, nóng giận trong con người.

(9)Hỷ xả = , Hoan hỷ, không mắc dính, hóa giải.

(10) Tiến sinh = Sinh lên cõi cao hơn.

 (11) Sa đọa : Sinh vào cõi thấp hơn.

 (12) Ít trược : Ít ô nhiễm; ít ác, ít tăm tối.


Quán về «lửa».

Tejo Anupassanà

       (hay về Pháp hành của lửa)

Vật chất khi đốt cháy,

Thì có ngọn lửa hồng.

Tướng lửa dễ nhìn thấy.

Nhưng tánh lửa thì không. (1)

***

Lửa trần có ánh sáng.

Loan ra khắp các chiều.

Gặp vật gì ngăn cản,

Thì nó lệch, mờ, xiêu….(2)

***

Mờ, xiêu…nó loang tới.

Bao vây vật làm hình.

Tạo một vùng u-tối,

Gọi là “bóng“….lung linh.

***

Lung linh thì giả có,

Nhưng từ “duyên thật” ra, (3)

Nên một mà vô số (4)

“Giả” và “thật” nhập nhòa !

***

Lửa gồm cả hai loại,

Lửa ngầm và lửa bùng. (5)

Lửa ngầm “vi biến”….hoại, (6)

Lửa bùng cháy phá tung….

***

Vật bị cháy phút chốc

Hóa tro bụi mong manh…

Chỉ một cơn gió lốc.

Kết thúc kiếp trụ thành.

***

Trụ thành qua thiền quán

Là thấy pháp bốn thời (7)

Theo chu kỳ tụ tán.

Trong diệu pháp “luân” thôi (8)

***

Lửa hiện là luân hữu.

Lửa biến là luân vô.

Cháy sáng là luân tựu.

Tắt ngấm là luân mờ (9)

***

Hiểu tròn được như thế,

«Tuệ quang» hết bị che.

Có không đều hỷ xả (10)

Tâm thanh tịnh Bồ Đề.

***

«Tâm Thanh» là thánh hỏa, (11)

Có Tam Muội soi thông

Không còn cháy tắt…nữa.

Dứt khổ vui xoay vòng ! (12)

***

Rồi vũ trụ lạc trú

Trong hiện tại niệm thân

Thảnh thơi vô biên xứ.

Ấy «quang minh» Niết Bàn.

TL

(Ivry sur Seine 30/09/2009)


Chú thích :

 (1) Ý nói tánh lửa chúng ta có thể hiểu, nhưng mắt thịt không thấy được.

(2) Lệch có nghĩa là phân tán và tỏa rộng ra xung quanh..

(3) Duyên thật tức là hữu gốc = Ám chỉ có một thân đang hiện hữu làm gốc trong không gian lúc ấy, và thân ấy có thể cho ra nhiều bóng khác nhau, khi nó ở trước ngọn đèn.

(4) Một mà vô số = Theo Phật học, mọi vật có (hay không có) hình dạng, hằng thay đổi luôn luôn. Bề ngoài của một vật hữu hình hằng biến hóa không ngừng. Cái sau hoàn toàn không giống cái trước……..nên gọi là “một mà vô số”.

(5) Lửa ngầm là loại lửa «cháy» triền miên trong mọi vật. Theo khoa học, đó là phản ứng hóa học của Oxy (dưỡng khí) khi tiếp xúc với vật chất.

(6) Bốn thời là : thành, trụ, hoại, không.

(7) Vi biến = Biến hóa rất vi tế, và sâu sắc, theo nghiệp lực. Ví như một đứa bé sinh ra, hít thở rồi, thì được dưỡng khi “đốt cháy ngầm” chất bổ trong thân, làm cho nó biến hóa, lớn dần lên thành người, để về sau suy tàn, già nua, rồi chết, biến mất.

(8) Luân = Luân chuyển, luân hồi theo chu kỳ.

(9) Luân mờ = Một trạng thái không ở trong thời kỳ hữu hình nhìn thấy, cũng không phải thuộc thời kỳ biến mất, mà nằm trong giai đoạn hành hoạt ngấm ngầm.

(10) Hỷ xả , xem lửa đến và đi không xa lạ = Xem chết sống không khác nhau.

(11)Tâm Thanh = Ám chỉ tâm Bồ Đề có chân quang của «Hỏa Đại» soi thấu, không bị ngăn ngại, không có sáng và tối, cũng gọi là tâm Toàn Tri, Toàn Xả.

(12) Khổ vui xoay vòng = Khổ vui luân phiên, xen kẻ nhau, không bao giờ tách rời, để chỉ có cái nầy mà không có cái kia.


Quán về “khí”

Vàyo Anupassanà

 (hay về Gió, tức là về các Pháp hành của khí).

Tướng của khí là động

Tánh của khí là tĩnh (1)

Hễ mặt nước nổi sóng

Thì nước hết an tịnh.

***

Khi chiếc lá đu đưa

Tướng khí hiện trên lá

Lá thay màu bốn mùa

Tướng khí là hoang dã.

***

Khí không có thường tướng (2)

Phải nương vật hữu hình

Để pháp hành biểu tượng

Qua hai chiều trọng khinh. (3)

***

Hành của khí là gió

Gây chuyển động một vùng

Trong thân người «vui khổ»

Thì khí xoay vòng cung. (4)

***

Hít vào, khí trộn nước (5)

Thở ra, khí hóa hơi (6)

Ra vào sau và trước

Có thổ, hỏa chung thời. (7)

***

Hơi thở gồm tứ đại

Nhưng tỷ lệ bất đồng

Cả bốn đều cùng tải (8)

Một nhip sống hoàn không

***

Khí trở thành sức đẩy

Khi có nghiệp phô bày

Bỡi lạnh, nóng đốt cháy (9)

Tạo co giãn, vần xoay. (10)

***

Phồng, xẹp là hành khí

Giữ cảm giác trong thân (11)

Hô hấp thuần nội trí

Thì tâm thức niệm chân. (12)

***

Niệm chân là pháp độ (13)

Thông thấu từng tế bào

Đắc “tuệ quán” thấy rõ

Thân là “cõi” chiêm bao

***

Rồi tâm minh không vướng

Trong kiếp sống hợp tan

Lìa chấp, ly uẩn tưởng (14)

Vô Vi ấy Niết Bàn !

           TL

(Ivry /Seine 7/10/2009)


Chú thích :  

(1)Tướng và Tánh là «hai mặt» linh hoạt của vạn vật. Đối với khí, thì hai mặt đó là động và tĩnh.

(2)Thường tướng = Ám chỉ tướng thường trực.

(3)Hai chiều trọng khinh = Tức là hai hướng nặng và nhẹ. Hướng nặng đi xuống. Hướng nhẹ đi lên.

(4)Xoay vòng cung = Ám chỉ hơi thở từ mũi vào phổi, rồi từ phổi ra mũi theo vòng cung.

(5)«Hít vào khí trộn nước» = Ý nói trong nước có khí. Nước tượng trưng cho «trú sở» của dưỡng khí. Nơi nào trong Sắc Giới có một nguyên tử nước thì nơi đó có dưỡng khí.

(6)«Thở ra… khí hóa hơi» = Ám chỉ chất nào đã bị dưỡng khí đốt cháy thì hóa hơi, còn gọi là «thán khí».

(7)«Thổ hỏa cùng thời» = Ý nói thủy và khí không hoạt động riêng rẽ, mà có cả thổ và hỏa cùng pháp hành.

(8)Cả bốn = Ám chỉ đủ tứ đại (Đất, Nước, Lửa, Khí).

(9)Từ lạnh sang nóng là sự đốt cháy.

(10) «Co giãn vần xoay» = Ám chỉ sự «teo lại rồi nở ra». Cũng gọi là «phù trầm», theo cách của người tu thiền «niệm hơi thở», chú ý đến sự «phồng xẹp» nơi bụng

(11) Giữ cảm giác trong thân = Ý nói tâm hành giả tu thuần thục, được hơi thở giữ tâm trong thân, không cho phóng túng ra ngoại cảnh, để luôn luôn biết mình trong hiện tại.

(12) “Tâm thức niệm chân” = Chánh niệm.

(13) Pháp độ = Pháp tiếp dẫn đến giải thoát.

(14) Ly uẩn tưởng = Không vướng trong tưởng uẩn. Một trong năm uẩn tạo ra danh sắc, hay con người.

(Trên đây là những cảm hứng nhờ hành thiền)

Tịnh Đạo Ca P1                                                                                       Tịnh Đạo Ca P3