Tịnh Đạo Ca P1

Phần một :

Về hạnh phúc

(Diễn dịch theo kệ ngôn Hạnh Phúc Kinh, Maṅgalasuttagàthà)

Tâm hương đốt trước Phật đài.
Lật trang sách cổ, đọc bài kinh xưa.
Tìm trong bảo điển Phật thừa :
Lời vàng vừa pháp, cũng vừa phúc âm.
Bao gồm đạo lý phương châm.
Giúp đời tạo phúc, gieo mầm vui xa..
***
Tích rằng khi Phật Thích Ca
Ngự tại tịnh xá Tu-Đà, Kỳ-Viên….
Có hàng thiên chúng thiện tiên.
Hào quang sáng rực cả miền lạc cư.
Đến lễ Phật với tâm từ,
Thỉnh Ngài nói Pháp phước dư lưu truyền.
Rằng trong tam giới tu hiền.(1)
Chúng sinh mong được phước duyên tròn đầy.
Làm sao cho kiếp sống nầy.
Vui chen với khổ vẫn ngày ngày an.
***
Phật bèn theo ước nguyện ban,
Những lời pháp nhũ rõ ràng kinh thơ (2).
Làm lành tức tạo chỗ nhờ.
Không cần có đấng «toàn cơ» chủ trì.
Nhân nào quả nấy liền khi,
Là ba mươi tám pháp ghi rõ ràng.
Chia làm mười đoạn «sen vàng”…
Sau đây xin được muộn màng diễn ca.
Thành thơ Việt, tiếng nước nhà.
Văn vần dễ nhớ, để mà noi theo.
***
I
Thứ nhất tránh kẻ đức nghèo,
Si mê, hung dữ, sống đeo hận thù.
Thứ hai gần bậc khiêm tu,
Là thiện trí thức, lòng từ tỏa luôn
Thứ ba năng được cúng dường
Các hàng thanh tịnh tha phương lục hòa.
Ba pháp đầu vừa kể ra,
Là ba hạnh phúc, sáng lòa thanh cao..
***
II
Tiếp theo, thứ nhất…”-Ở đâu…?”,
Nơi nào quốc độ cung cầu quân phân (3)
Thứ hai, tiền nghiệp thiện nhân
Giờ đang trổ quả, gặt phần an vui.
Thứ ba hiện tại trau dồi,
Sống trong chánh đạo, không rơi đường tà.
Ấy là ba phúc sâu xa,
Giữa đời ô-trược khó mà được chung.
***
III
Rồi thì…thứ nhất “-Học cùng….
Những ai quảng kiến tâm trung chân thành” (4)
Nghe nhiều thì biết rộng, nhanh.
Ít nói tránh được lộng hành đại ngôn.
Thứ hai, tinh tấn hằng ôn,
Những pháp Phật để bảo tồn đời tu.
Của hàng nguyện thoát “gia tù” (5),
Lẫn hàng cư sĩ còn du mộng đời.
Thứ ba giữ giới không dời,
Thứ tư ăn nói không rời thật tâm.
Ấy là bốn pháp cao thâm,
Làm cho đời sống phúc ngầm có luôn
***
IV
Bước qua đối xử luân thường
Phật dạy, thứ nhất báo ơn mẹ già
Thứ hai, kính phụng dưỡng cha
Thứ ba tiếp độ ôn hòa vợ con.
Thứ tư, nghề nghiệp chu toàn,
Tránh xa ác pháp, lẫn ngoan gian kề.
Đó là bốn đức khôn chê,
Có phước cao thuợng, chở che hằng ngày.
***
V
Nói về xã hội vần xoay
Thứ nhất bố thí, phước dày ơn sâu,
Thứ hai sống đúng nhu cầu, (6)
Theo pháp Phật dạy, tự câu thúc mình, (7)
Thứ ba gương mẫu độ sinh,
Và độ quyến thuộc, vô minh loại trừ
Thứ tư nghề nghiệp hèn, hư
Quyết không để vướng tâm tư bỏ liều.
Đây là bốn hạnh phúc nêu,
Trong cuộc sống lắm nhiễu điều giá gương.
***
VI
Nói về thói xấu “lập trường”
Phật dạy thứ nhất hãy “thương” lấy mình,
Biết hổ thẹn trước tội tình
Ghê sợ rồi tránh, chớ khinh lỗi lầm (8)
Thứ hai là tật nghiện ngầm
Chất say là thứ chứa mầm ngu si.
Thứ ba tinh tấn tư duy
Đừng xem Phật pháp nghịch thì thế gian, (9)
Mà luôn suy tưởng chu toàn,
Để hiểu thiện lý tránh đàng đọa sa.
Ấy là ba “hạnh phúc hoa”
Làm cho đời sống đủ đà tiến cao.
***
VII
Nói về đức hạnh dồi dào
Từ bi đại lượng liệt vào Sa Môn.
Phật dạy, thứ nhất kính tôn
Thứ hai khiêm nhượng, bảo tồn chân tâm
Thứ ba tri túc vui thầm
Những gì mình có trong tầm nhân duyên
Đừng mơ ước chuyện đảo điên,
Hưởng thụ những thứ không tiền để mua
Thứ tư ơn nghĩa nhân thừa
Phải luôn tưởng nhớ xứng vừa chiều sâu (10)
Thứ năm nghe pháp nhiệm mầu,
Vui tươi, gần gũi, tiếp thâu, thực hành.
Thời gian sắp đặt luôn dành,
Gần hàng thiện trí soi rành đức tin
Ấy là năm hạnh phúc xinh,
Làm cho đời sống tâm linh huy hoàng..
***
VIII
Luyện tâm như phép lọc vàng,
Phật dạy, thứ nhất dẹp đàng sân si,
Nhịn nhục là nước thánh quy, (11)
Giúp cho hành giả giác chi an lành
Nhẫn thường tâm mát màu xanh
Nhìn đời sẽ muốn chân thành sống chung (12)
Thứ hai dễ dạy đi cùng,
Làm cho học hỏi kiến khung tròn đầy (13)
Thứ ba may mắn mỗi ngày
Gặp Sa Môn đủ đức bày gương xưa
Thứ tư, Phật Pháp luận ưa
Thì bao nghi hoặc sớm trưa tẩy trừ.
Đó là bốn pháp hữu dư
Làm cho hạnh phúc trọn từ tháng năm.
***
IX
Thế gian vốn cảnh nguy nàn
Vui buồn lẫn lộn, hoang mang từng giờ
Hợp tan bao cảnh giả hờ
Phật dạy, thứ nhất phá “bờ” ác tâm,
Không để tri giác nhận lầm
Làm cho đạo đức quanh năm lu mờ.
Thứ hai, phạm hạnh duyên cơ
Tròn “Ba La Mật” nương nhờ cao thâm (14)
Thứ ba, Tứ Đế chứng tầm (15)
Khổ, Tập, Diệt, Đạo minh tâm sáng ngời.
Thứ tư, sinh tử bẻ rồi
Niết Bàn tịch tịnh, tinh khôi tỏ tường.
Đó là bốn pháp tuyên dương
Tràn đầy hạnh phúc, miên trường niềm vui.
***
X
Giữa cõi thiện, ác, chôn vùi
Sinh linh lặn hụp, bao mùi đắng cay
Phật ngôn, thứ nhất tỏ bày
Nếu tâm không động, không say sự đời,
Thứ hai, nếu hết uất thời (16)
Không lo, không sợ, không rời định căn
Thứ ba, tình dục san bằng
Chẳng còn lưu luyến băng khoăng hữu tồn.
Thứ tư tự tại pháp môn
Thảnh thơi toàn thiện linh hồn siêu thăng
Đó là bốn hạnh phúc hằng
Tuyệt không thay đổi, không băng hoại gì.
***
Cuối bài hạnh phúc kệ thi
Thế Tôn xác nhận rằng khi thực hành
Đủ ba mươi tám pháp lành *
Thì chư thiên lẫn chúng sanh cảnh nào
Cũng đều phúc đức thanh cao
Tam giới không có phúc nào tốt hơn.
T L
(Ivry Sur Seine, 10/03/2009)

Chú thích:

(1) Tam giới : Dục giới, sắc giới, và Vô sắc giới.

(2) Kinh thơ : Kệ ngôn, Phạn ngữ là “Gàthà”, tương đương với thi phú trong văn chương VN.

(3) Ám chỉ quốc gia nên ở để có hạnh phúc. Ấy là nơi “nhu cầu” và “cung cấp” trong đời sống được quân bình, mới an lành. Vì nếu nơi nào “cung nhiều”, mà “cầu ít” thì con người ở đó sung túc, dễ trở thành hư hỏng. Ngược lại nếu sống nơi “cầu nhiều” mà “cung ít” (hay thu nhập thấp), thì người dân phải thiếu thốn nghèo khổ, không hạnh phúc.

(4) Quảng kiến là thấy rộng.

(5) “Gia tù” : Ý nói “gia đình là tù ngục”. –Và câu “Của hàng nguyện thoát gia tù”, nghĩa là “Của hàng tu sĩ xuất gia” (nguyện thoát cảnh “gia đình ràng buộc”).

(6) “Đúng nhu cầu” là không khổ hạnh, cũng không lợi dưỡng, hay không say mê hưởng thụ lạc thú thế gian.

(7) “Tự câu thúc mình” là vui vẻ tình nguyện sửa mình.

(8) “Khinh lỗi lầm” là coi thường lỗi nhỏ.

(9) “Xem Phật Pháp nghịch thì thế gian” ám chỉ đua đòi “văn minh”, cho Phật giáo là lỗi thời, là chạy trốn cuộc đời.

(10) “Tưởng nhớ xứng vừa” là biết ơn đầy đủ.

(11) Người biết nhịn nhục ví như người đã uống nước “thánh”.

(12) Ám chỉ người kham nhẫn, dễ sống chung với kẻ khác.

(13) Ý nói người dễ dạy thì học được nhiều.

(14) “Ba La Mật” là “Tàu âm » của danh từ tiếng Phạm “Pàramì”, dịch nghĩa “đáo bỉ ngạn”, ý nói vượt khỏi ba “bờ” của vòng luân hồi, sinh tử.

(15) Tứ Đế hay Tứ Dìệu Đế, là Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế, và Đạo Đế. Đây là bốn nền tảng giáo lý trong đạo Phật

(16) “Hết uất” tức là “hết uất ức”, không còn bất mãn.

*Ba mươi tám pháp lành ghi lại như sau :

– Đoạn I, ba điều lành

– Đoạn II, ba điều lành

– Đoạn III, bốn điều lành

– Đoạn IV, bốn điều lành

– Đoạn V, bốn điều lành

– Đoạn VI, ba điều lành

– Đoạn VII, năm điều lành

– Đoạn VIII, bốn điều lành

– Đoạn IX, bốn điều lành

– Đoạn X, bốn điều lành. (Tổng cộng 38 điều an lành, hay 38 hạnh phúc).

  

  Tịnh Đạo Ca                                                        Tịnh Đạo Ca P2