*Hiệu lực (hay quả lành) của sự giữ giới, là không phải chỉ riêng cho mình, mà còn cho tất cả chúng sinh. Dĩ nhiên trong đó có mình, là người giữ giới !
*Không thể không giữ giới mà có thể sống hướng về chúng sinh được, vì biệt nghiệp và cộng nghiệp hợp lại, mới đủ làm cho chúng sinh và «mình» được an vui.
*Biệt nghiệp và cộng nghiệp không thể tách rời. Hành giả ít nói và «vào rừng tu thật sự» không phải là tạo «biệt nghiệp», chỉ tốt cho riêng mình, mà là tạo «thân giáo», hay tạo «cộng nghiệp» tốt cho xã hội, tốt cho nhân quần. Vì hành động nào cũng có người bàng quan nhìn thấy, xem như một cái gương (xấu hay tốt). Gương xấu thì bị chê trách. Gương tốt thì người ta kính trọng. Nó có khả năng thuyết phục quần chúng noi theo, hơn là hùng biện lý thuyết.
*Theo tinh thần Phật giáo, cái áo nằm trên thân chúng ta, không phải là «kết quả» của biệt nghiệp, chỉ do ta mua được. Mà nó liên quan đến nhiều cộng nghiệp trong xã hội, từ người trồng bông vải đến người thợ cắt may, từ người tiểu thương mua sĩ bán lẽ, đến ông chủ phát lương hằng tháng cho nhân viên..v.v…, để sau cùng dẫn đến thực tại, là chúng ta và những người lãnh lương, có tiền mua áo.
*Tất cả hợp lại thành những chu kỳ cộng nghiệp. Nghĩa là vui khổ của người nầy, luôn luôn tùy thuộc vào một số người kia. Nhưng ít ai ý thức. Đó là lý do «hàng con phật» sống suốt đời luôn luôn biết ơn xã hội, chúng sanh, và yêu chuộng hòa bình.
*Hai chữ «chánh pháp» (Sammà dhammo) trong Phật giáo vốn đầy ý nghĩa hướng về trung đạo. Nó rất ôn hòa, thanh nhã. Do đó, không nên hiểu là «chánh pháp để tiêu diệt tà pháp», mà «chánh pháp để hóa giải tà pháp». Và trung đạo cũng không phải là cái khung để cố chấp, mà là một cách sống lành mạnh, cởi mở, sáng suốt, hướng thiện, hòa đồng, và hỷ xả…với tất cả những gì, thích hợp và không thích hợp.
*Khi cố chấp, thì sống và chết trở thành hai «vấn đề» rất khó khăn, đáng sợ, vướng mắc, của một thực tại. Nhưng khi hỷ xả thì sống và chết là hai «đánh dấu» của một chu kỳ, trên con đường biến hoá. Ai chưa thực sự hỷ xả trong hiện tại, mà bàn đến «vô ngã», về thoát ly sinh tử, thì chỉ là nói chuyện lý thuyết, “hoang đường”.
*Theo Phật giáo, «tâm thức» không phải là sản phẩm của thần kinh, nghĩa là không phải là sản phảm của vật chất ! Nó là «cái gì» người phàm, dù thông minh đến đâu, cũng không thể nắm vững được. Chúng ta là người phàm, không thể biết nó, là lẽ tự nhiên ! Nhiều người nói «Tôi hoàn toàn biết rõ tâm tôi!» Điều đó chưa chắc !
*Thuở đức Phật còn tại thế, đã có người hỏi Ngài “tâm linh” là gì, Phật khuyên “hãy hành thiện, tiến hóa, trở thành bậc Toàn Giác, rồi sẽ biết.
*Cái mà chúng ta cần loại trừ, là vô minh, chứ không phải là «bản ngã», vì «bản ngã» trong chừng mực nào đó, vốn là lý do để có tinh thần trách nhiệm. Và luật nhân quả là một cách diễn tả tinh thần trách nhiệm. Nói «Vô ngã» trong cái nghĩa là không có linh thức gì hết, không có cái chi để chịu hậu quả», thì rất mâu thuẫn với lý nhân quả. Vì không có «tôi tạo nhân» thì làm sao có «tôi nhận quả». Nói «vô ngã» kiểu đó, dễ gây hiểu lầm là «làm gì cũng không sợ chính mình sẽ nhận quả báo, hay chịu trách nhiệm sau nầy».
*Trong một xã hội mà mọi người không có «cái tôi xứng đáng», không biết tự trọng, độc đoán, tham ô, không có tinh thần trách nhiệm, không xác nhận luật nhân quả nghiệm đúng, thì cuộc sống xã hội đó sẽ hỗn loạn, đau khổ. Ngược lại với đức từ bi trong đạo Phật !
*Vả lại, mục đích của đạo Phật không phải là đạt đến vô ngã, mà cứu cánh của người tu Phật là sự toàn xả, không mắc dính vào cả hai khái niệm phân biệt đối nghịch ngã và vô ngã, để bình đẳng giải thoát.
*Sở dĩ đức Phật thuyết về “vô ngã” là vì loài người vướng sâu trong cố chấp sắc tướng hợp tan (ngũ uẩn), chịu khổ, lầm cho đó là ta, là nguồn hạnh phúc. Phật vì từ bi cứu khổ, nên nói rằng «Sắc tướng hợp tan (hay năm uẩn) kia không phải là ta».
*Tiếng Phật nói là «Anattalakkhana», dịch là «vô ngã tướng», chứ không phải «vô ngã». Khi diễn dịch không nên bỏ chữ «tướng» (tức là tứ đại hợp tan). Một nửa ý nghĩa của danh từ kép ấy, không chuyên chở hết sự ám chỉ của nó. (Xin chú thích : Atta là ngã. Anatta là vô ngã. Lakkhana là tướng, Sutta là kinh). Anattalakkhanasutta dịch là «Vô ngã tướng kinh».
*Nhưng nếu chúng ta hiểu «vô ngã» một cách thanh tịnh rằng : «Sắc thân ngũ uẩn nầy không bền vững. Nó chẳng phải là ta. Còn linh thức tiến hóa, chịu trách nhiệm trước mọi việc ta làm, thì HẰNG CÓ. Nó rất kỳ diệu. Nó có thể biến thiên theo từng hoàn cảnh, theo từng cấp độ thiện ác, để thành ma cũng nó, thành Phật cũng nó. Chính khả năng kỳ diệu ấy xác nhận là nó có !».
*Hiểu như vậy rồi hành giả sống hạnh vô ngã tướng, hay vô ngã chấp. Nghĩa là tôi KHÔNG vì tôi mà làm khổ chúng sanh, không VÌ muốn người ta khen TÔI, mà đề cao «vô ngã», nói
«không có tôi». Chứ cái TÔI vô thường nầy hằng có. Nó luôn luôn biến hóa, thăng đọa trong vòng luân hồi, để hiện thân là hậu quả của những nghiệp tôi đã làm, không phủ nhận trách nhiệm. Đó là thiện pháp. Đó là thực hiện vô ngã, chứ không phải «nói và mê tin vô ngã», không rơi vào «đoạn kiến» !
*Chính vô minh (avijjà=ignorance) đã che áng tâm linh, và làm cho tri thức hướng về «tập ấm» hay «uẩn», xem những «tập ấm» hay «uẩn» giả hợp ấy là «ngã», là bản lai của mình.
*Một danh nhân đã nói : «Tất cả những gì con người phát biểu không đại diện hết cho sự thật». Và tất cả những gì «hợp lý» mà con người chưa chứng minh được, là vì họ chưa kinh nghiệm đạt tới và chưa biết, chứ không phải là không có».
*Xem ra, mọi vật hay vạn pháp luôn luôn là như vậy. Chúng không đeo dính chúng ta, mà chính chúng ta bị vô minh che áng, chấp vào mọi vật hay vạn pháp, rồi đeo dính chúng.
*Không một lời dạy nào của đức Phật, hướng dẫn loài người đi vào sự đóng khung, cực đoan, cố chấp cả !». Vì vậy, hàng «con Phật» không bao giờ chủ trương phiến diện, chỉ phát triển tâm linh, bỏ rơi vật chất, mà phải cải thiện cả hai, nhưng không cố chấp, và nô lệ cái nào cả.
*Theo tinh thần trung đạo : KHÔNG tức là CÓ, và CÓ tức là KHÔNG. Vì nếu «không thật», thì chẳng gì sinh ra được. Cũng như nếu «có thật» thì không thể tiêu hoại. Như vậy, cái «đang có» trong thực tại, chỉ là tạm thời, rồi biến mất, không đại diện cho cái hằng CÓ. Còn KHÔNG ấy chỉ là tình trạng biến hóa. Tất cả tùy thuộc vào nhân duyên biến hiện. Chính sự biến hiện đó xác nhận rằng : Cả CÓ lẫn KHÔNG đều «THẬT».
Nghĩa là :
Cái nầy có thì cái kia có.
Cái nầy không thì cái kia không.
Hay như cổ đức đã nói :
“Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian nầy cũng không
Hãy xem bóng nguyệt dưới sông
Mới hay không có, có không là gì !.
*Nếu nghĩ rằng : Khổ đau và vui sướng vật chất, chỉ là giấc mộng, thì chỉ cần tỉnh mộng buông xuôi, tức khắc khổ đau và vui sướng sẽ chấm dứt ư ? -Chưa chắc ! -Vì sao ?
*Vì nếu tỉnh mộng vật chất, để cố chấp, dệt mộng tinh thần, thì khổ đau và vui sướng vẫn còn tiếp tục. Nhiều người tỉnh mộng vật chất, nói rằng «tham hưởng thụ làm cho tôi khổ». Nhưng sau đó nếu họ không hành thiện và định tâm quán chiếu, thì họ vẫn bị lòng tham đội lốt «giác ngộ», tiếp tục dẫn tâm tư đi dệt mộng khác. Đó là «mộng thoát ly», tiêu cực, một loại chán đời, tạo nhân cho lười biếng, bỏ bê bản thân và coi thường xã hội, không chịu cải thiện thực tại đang sống.
*Do đó, chỉ tỉnh mộng vật chất thôi chưa đủ, mà phải phát triển hạnh sống tích cực, tri túc, siêng năng làm việc, hướng thiện, bình đẳng, hòa đồng, và vô chấp. (Trung Đạo).
*Sống đạo đúng đắn trong Phật giáo, là thay vì trốn tránh cái khổ, hành giả cần đối diện, hóa giải cái khổ, và nhất là cố gắng vẹt màng vô minh. Vì còn vô minh, còn mơ ước, còn xây mộng, thì không thể nào hết khổ.
-Coi chừng : Cho rằng «ta biết nhiều Phật lý, có trí tuệ hơn người» cũng là 1 sản phẩm của vô minh sẻ dẫn đến cái khổ” !
*Để tiến hóa trong đạo Phật, không nhất thiết phải xóa bỏ «lòng tham». Vì dù sao, lòng tham cũng là động cơ của mọi hành động. Phải ngay thẳng mà nhìn nhận rằng «thích làm việc thiện cũng là một loại lòng tham». Không nên ngụy biện nói : «Tu phước hay làm việc thiện chẳng phải là do tâm tham hưởng phước, mà là do…lòng tốt». Loại người bất vụ lợi (toàn xả) ấy ít lắm. Ít như Phật đối với chúng sinh. Nhưng trước khi thành Phật, chư Bồ Tát cũng đã làm tất cả việc lành, để chỉ nhắm đến một điều (vụ lợi), là…. thành Phật.
*Lời Phật dạy vốn nghiệm đúng một cách tự nhiên, các mối quan tâm sâu kín của nhân loại, ở bất cứ nơi nào có phát tâm tiến hóa, hướng thiện. Phật giáo là một «khoa học», bao gồm sự phát triển quân bình tâm linh lẫn vật chất. Giải thoát tâm linh là giải thoát vật chất, và ngược lại. Niềm tin lành mạnh là một phương pháp làm quân bình tâm linh. Và cải thiện cái xấu xa của cá nhân, tức là cải thiện cái xấu xa của xã hội.
*Người ta có thể sống thiếu tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng người ta không thể sống thiếu niềm tin. Có hai loại niềm tin, là niềm tin xứng đáng, và niềm tin không xứng đáng. Niềm tin vốn luôn luôn là động cơ của mọi hành động (xấu hay tốt).
*Đáng tiếc thay là hai loại niềm tin xứng đáng và không xứng đáng ấy, đã gây ra tình trạng mâu thuẫn giữa cuộc đời, trong nhân loại, khiến người ta vừa chế mìn nổ, vừa sau đó chế tay chân giả cho nạn nhân, để làm việc «thiện».
Tuệ Lạc (Nguyễn Điều)
(2010)
*40 đề mục thiền định.
(40 Samatha kammatthànà), gồm :
I-10 đề mục «sạch» hay không nhờm gớm (Dasa Subha kasiṇà) :
1/Đất (Paṭhavì kasiṇa), 2/Nước (Àpo kasiṇa), 3/Lửa (Tejo kasṇna), 4/Khí, hay gió (Vàyo kasiṇa), 5/Màu xanh (Nìla kasiṇa), 6/Màu vàng (Pìta kasiṇa), 7/Màu đỏ (Lohita kasiṇa), 8/Màu trắng (Odàta kasiṇa), 9/Hư không (Okàsa kasiṇa), 10/Ánh sáng, hay tia sáng (Àlokaramsì kasiṇa).
II-10 đề mục không sạch, hay đáng nhờm gớm (Dasa asubha kasiṇà) :
1/Tử thi nổi trên nước (Uddhumàtaka), 2/Tử thi sình xanh (Vinìdaka), 3/Tử thi xì máu mủ (Vipubbaka), 4/Tử thi còn nửa phần (Vichiddaka), 5/Tử thi bị thú ăn lỗ chỗ (Vikkhàyitaka), 6/Tử thi nhiều đoạn (Vikkhittaka), 7/Tử thi bị bầm nát (Hatavikkhittaka), 8/Tử thi trong vũng máu (Lohitaka), 9/Tử thi cửu khiếu có vòi (Pulùvaka), 10/Tử thi chỉ còn bộ xương (Atthika).
III- 10 đối tượng tưởng niệm (Dasa Anussati) :
1/Niệm tưởng Phật (Buddhànussati), 2/Niệm tưởng Pháp (Dhammànusssati), 3/Niệm tưởng Tăng (Saṅghànussati), 4/Niệm tưởng giới hạnh (Sìlànussati), 5/Niệm tưởng bố thí (càgànussati), 6/Niệm tưởng chư thiên (Devatànussati), 7/Niệm tưởng sự chết (Marananussati), 8/Niệm tưởng thân vô thường (gồm các thể trược, với sinh, lão, bệnh, tử (Kàyagatà), 9/Niệm tưởng hơi thở (Ànàpànasati), 10/Niệm tưởng Pháp giải thoát hay Niết Bàn (Nibbàna).
IV- 10 đối tượng vô lượng, vô biên (Dasa Brahmavihàra) :
1/Tâm từ vô lượng(Mettà), 2/Tâm bi vô lượng (Karunà),,3/Tâm hỷ vô lượng (Mudità), 4/Tâm xả vô lượng (Upekkhà), 5/Không vô biên (Àkàsànancàyatana), 6/Thức vô biên (Viññànañcàyatana), 7/Vi tế vô biên (Àkiñcaññàyatana), 8/ Phi tưởng và phi phi tưởng vô biên (Neva saññà nàsaññàyatana), 9/Bất tịnh vô biên (qua dinh dưỡng) (sañña bhojanaṃ), 10/Tứ đại vô biên, hay tứ đại không tướng (Vanatthàna).
__________________
*32 thể trược gồm :
Tóc, lông, móng, răng, da, da dày, thịt, gân, xương, tủy, bao tử, thận, tim, gan, lá lách, phổi, ruột già, ruột non, vật chực chưa tiêu, phẩn, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, màng nhầy, mỡ, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước tiểu, óc
Hết