Bộ Đề Phần Thứ 4

 NGŨ CĂN

 (Pañcindriyāni)

hay ngũ quyền, 5 quyền năng, gồm :

1- Tín căn, quyền năng của đức tin (Saddhā indriya)

2- Tấn căn, quyền năng của tinh tấn (Viriyā indriya)

3- Niệm căn, quyền năng của chánh niệm (Saṭi indriya)

4- Định căn, quyền năng của tâm định (Samādhi indriya)

5- Tuệ căn, quyền năng của sự trong sáng, do toàn định (Pañña indriya)

Chú ý :

Bồ Đề Phần thứ 4, và Bồ Đề Phần thứ 5 tiếp theo,

được trình bày dựa theo kinh Indriya-bhāvanā sutta.

(Tạm dịch là «Kinh thanh tịnh ngũ căn, nhất định ý căn»)

TL chuyển ra Việt văn, đồng thời tham khảo

các bản dịch Anh ngữ của Ngài Thānissāro.

Cũng như chú giải của Piya Tan.

(Ai biết tiếng Anh có thể đọc thêm 2 bản nầy, trên internet).

 

KINH THANH TỊNH CÁC CĂN.

(Majjhima Nikàya 152)

(Phật thuyết tại Trúc Lâm Tự, Vương Xá thành).

Tôi (A-Nan-Đa) đã nghe như vầy : Một lần nọ, đức Phật ngụ tại Trúc Lâm, trước thính chúng Kajjangala. Khi ấy có thanh

niên bà-la-môn tên Uttara, đồ đệ của Parasiri, đến gặp Phật. Sau khi chào kính thân hữu, và ngồi sang một bên.

Phật (hỏi chuyện) thanh niên Uttara :

-Nầy Uttara, thầy bà-la-môn Parasiri có dạy chư đệ tử phát triển các căn không ?

-Có, thưa Ngài Cồ Đàm.

-Vậy ông ấy dạy phát triển các căn như thế nào ?

-Thưa, như trường hợp, một người mắt thấy hình sắc, tai nghe âm thanh, nhưng khi định tâm, thì họ có khả năng không còn thấy, không còn nghe gì cả.

-Nầy Uttara, như vậy theo ông Parasiri, người mù mắt không thấy hình sắc, và người điếc tai không nghe âm thanh, tức là họ «đã» phát triển (2 khả  năng ấy) rồi ?

Nghe như thế, thanh niên bà-la-môn Uttara liền ngồi im, cuối đầu, vai hạ xuống, không còn lời lẽ gì nữa.

Thấy Uttara ngồi yên, (với trạng thái như thế), Phật bèn hướng đến đại đức A-nan-đa :

-Nầy A-nan-đa, sự phát triển các căn, mà thầy bà-la-môn Parasiri, dạy đồ đệ đó là một chuyện. Nhưng sự phát triển khả năng vô song ở các căn, theo phẩm hạnh của bậc cao thương, là một chuyện hoàn toàn khác !

«-Đây là lúc, bạch Đức Thế Tôn, bậc chỉ rõ chánh đạo, Xin Ngài nói ra pháp phát triển khả năng các căn một cách vô song, theo phẩm hạnh cao thượng. Chư tỳ khưu (chúng đệ tử), sau khi nghe, sẽ ghi nhớ !»

-Nầy A-nan-đa, hãy lắng nghe, Như Lai sắp nói pháp đây !

«-Xin vâng, bạch Thế Tôn », A-nan-đa đáp lời Phật.

Phật nói :

-Nầy A-nan-đa ! Trong pháp hành của bậc cao thượng, có sự thanh lọc các căn (phát triển khả năng) như thế nào ?

1/-Trường hợp khi một tỳ khưu mắt thấy hình sắc, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, và điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

-Tỳ khưu ấy nhận rõ rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”.

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, dửng dưng, tự tại).

-Với pháp phát triển vô song nhãn căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy.

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong nhãn căn), vị tỳ khưu (đã thanh lọc phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả.

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là (thanh lọc) phát triển nhãn căn, đối với các hình sắc mà đôi mắt có thể tiếp nhận.

2/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, tai nghe âm thanh, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

-Tỳ khưu ấy nhận rõ rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”.

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, dửng dưng, tự tại).

-Với pháp phát triển vô song nhĩ căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy.

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong nhĩ căn), vị tỳ khưu (đã thanh lọc phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả.

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là (thanh lọc) phát triển nhĩ căn, đối với các âm thanh mà hai tai có thể tiếp nhận.

3/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, mũi ngưởi mùi, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

-Tỳ khưu ấy nhận rõ rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”.

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, dửng dưng, tự tại).

-Với pháp phát triển vô song tỷ căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy.

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong tỷ căn), vị tỳ khưu (đã thanh lọc phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả.

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là (thanh lọc) phát triển tỷ căn, đối với các mùi mà lỗ mũi có thể tiếp nhận.

4/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, lưỡi nếm vị, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng..

-Tỳ khưu ấy nhận rõ rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”.

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, dửng dưng, tự tại).

-Với pháp phát triển vô song thiệt căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy.

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong thiệt căn), vị tỳ khưu (đã thanh lọc phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả.

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là (thanh lọc) phát triển thiệt căn, đối với các vị mà cái lưỡi có thể tiếp nhận.

5/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, thân đụng chạm, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

-Tỳ khưu ấy nhận rõ rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”.

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, dửng dưng, tự tại).

-Với pháp phát triển vô song thân căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy.

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong thân căn), vị tỳ khưu (đã thanh lọc phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả.

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là (thanh lọc) phát triển thân căn, đối với các vị mà làn da có thể tiếp nhận.

6/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, nghĩ tưởng về tâm cảnh hay ngoại cảnh, (ở đó) khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

-Tỳ khưu ấy nhận rõ rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”.

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, dửng dưng, tự tại).

-Với pháp phát triển vô song ý căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy.

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong ý căn), vị tỳ khưu (đã thanh lọc phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả.

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là (thanh lọc) phát triển ý căn, đối với các cái biết có thể tiếp nhận.

Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là (thanh lọc) phát triển ý căn, đối với các loại suy tưởng mà tâm thức có thể câu hữu.

-ooOoo-

+Và như thế nào là pháp hành cao thượng của một (tỳ khưu) tịnh luyện các căn (phát triển khả năng) ?

+a/Trường hợp….. Khi một tỳ khưu mắt thấy hình sắc rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòngkhông hài lòng. Tỳ khưu ấy nhận thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

+b/Khi một tỳ khưu tai nghe âm thanh rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòngkhông hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

+c/Khi một tỳ khưu mũi ngửi mùi rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòngkhông hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

+d/Khi một tỳ khưu lưỡi nếm vị, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòngkhông hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng,  điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

+e/Khi một tỳ khưu thân tiếp xúc, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòngkhông hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng ghê tởm, trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.

+f/Khi một tỳ khưu phóng tâm, đến ý cảnh hay ngoại cảnh, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, và điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng ấy.

-Đây là những cách sống được huấn luyện thanh tịnh (trong đạo hạnh cao thượng).

-ooOoo-

°Và như thế nào trong đạo cao thượng, một tỳ khưu vận dụng các căn  (phát triển khả năng) ?

°-Trường hợp, khi một tỳ khưu bình thường mắt thấy hình sắc, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng lẫn không hài lòng…..trong thọ uẩn.

Và  nếu ông muốn, ông (có thể) :

1/Thản nhiên nhìn thực tại hình sắc không thích hợp, thay vì nên nhìn thực tại thích hợp.

2/Thản nhiên nhìn thực tại hình sắc thích hợp, và cũng không tránh nhìn thực tại không thích hợp.

3/Thản nhiên nhìn những thực tại hình sắc không thích hợp, thích hợp, và thản nhiên nhìn cả hai.

4/Thản nhiên nhìn những thực tại hình sắc thích hợp, không thích hợp, và thản nhiên nhìn cà hai.

Nghĩa là trước tất cả các thực tại không đáng thích, đáng thich, và cả hai, vị tỳ khưu ấy vẫn tự tại, hỷ xả, bình đẳng,  giác tỉnh, và định tâm.

°-Tương tự như thế, khi một tỳ khưu, tai nghe âm thanh, (hay mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân đụng chạm, ý suy nghĩ), rồi

khởi sinh điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng lẫn không hài lòng…, trong thọ uẩn

Và nếu ông muốn, ông cũng (có thể) :

1/Thản nhiên trước thực tại âm thanh, (hay trước thực tại mùi, trước thực tại vị, trước thực tại xúc cảm) không thích hợp, thay vì phải là thực tại thích hợp.

2/Thản nhiên trước thực tại âm thanh, (hay trước thực tại mùi, trước thực tại vị, trước thực tại xúc cảm) thích hợp, cũng không tránh đối diện thực tại âm thanh không thích hợp.

3/Thản nhiên trước thực tại âm thanh, (hay trước thực tại mùi, trước thực tại vị, trước thực tại xúc cảm) không thich hợp, thích hợp, và thản nhiên trước cả hai thực tại.

4/Thản nhiên trước thực tại âm thanh, (hay trước thực tại mùi, trước thực tại vị, trước thực tại xúc cảm) không thích hợp, thích hợp, và thản nhiên trước  cả ha thực tại.

Nghĩa là trước tất cả các thực tại không đáng thích, đáng thích, và cả hai, vị tỳ khưu ấy vẫn hỷ xả, bình đẳng, giác tỉnh, và định tâm.

-Đây là cách, một hành giả cao thượng phát triển khả năng các căn thanh tịnh, (giải thoát).

-Như thế, nầy A-nan-đa, Như Lai vừa thuyết đến các ông sự phát triển vô song các năng lực trong giáo pháp của bậc cao thượng. Việc một vị thầy nên làm là cống hiến pháp hữu ích đến các hàng đệ tử, bằng tâm từ bi. Kìa, ngoài kia là những gốc cổ thụ, những nơi trống vắng….để hành thiền !

Nầy A-nan-đa, hãy thực hành thiền định (jhàna). Đừng dễ duôi. Đừng để về sau hối tiếc thời gian. Đó là thông điệp của Như Lai gởi đến tất cả (thính chúng) !

Liền đó, đại đức A-nan-đa gương mặt rạng rỡ, (tỏ ra) đầy lòng biết ơn, và nói : «Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử tràn ngập hân hoan trong những lời dạy của Ngài».

Dứt phần dịch kinh.

_______________

Bồ Đề Phần thứ tư,

NGŨ CĂN 

PAÑCINDRIYĀNI.

Còn gọi là «Ngũ Quyền» hay 5 khả năng, gồm :

                             -TÍN CĂN (Saddhindriyaŋ).

-TẤN CĂN (Viriyindriyaŋ).

-NIỆM CĂN (Saṭindriyaŋ).

-ĐỊNH CĂN (Samādhindriyaŋ).

-TUỆ CĂN (Paññindriyaŋ).

1/TÍN CĂN : Quyền năng của đức tin trong tinh thần thanh tịnh, toàn định. Nghĩa là tin vào thực chứng.

Liên quan đến tín căn hay đức tin nầy, kinh Surakāṇi (S 55.24/75 :377) và sách Ngài Ledi SAYADAW có đề cập đến 3 loại đức tin như sau :

a-Tin vì lòng sùng bái (Pakati saddhā), như tin tưởng nơi Tam Bảo, tin tưởng vào nghiệp lành có quả thiện, nghiệp ác có quả ác. Tin oai lực chư Phật.

b-Tin vì thanh tịnh các căn (visuddhindriya saddhā), hay tin vì đã đắc thiền (bhāvanā saddhā). Tức là tự mình đã biết thế nào là an vui trong pháp thiền, hay thế nào là toàn định (jhàna).

c-Tin vì được kiểm điểm, xác nghiệm và đủ trí tuệ đắc chứng sự thật, dù vi tế sâu xa đến đâu (aveccappasāda saddhā). Đây là loại đức tin mà các tịnh giả và những nhà khoa học thực nghiệm có chung.

2/TẤN CĂN : Quyền năng của tinh thần tinh tấn bất thối trên căn bản nhất định, hay toàn tịnh (jhàna).

*Tấn căn có «Tứ-Chánh-Cần» (catu sammàpadhāna) làm “hậu thuẫn” hành động. Như chúng ta đã từng thảo luận trước đây, «Tứ-Chánh-Cần», ngoài việc ám chi các thực hành thuần thục chuyên cần, như :

-Chuyên cần chế ngự các căn (saŋvara padhāna)

-Chuyên cần xa lìa ác ý (pahāna padhāna)

-Chuyên cần an trú trong pháp thiền (bhāvanā padhāna)

-Chuyên cần giữ đúng giới hạnh (anurakkhanā padhāna), hay :

-Chuyên cần tiêu trừ pháp ác đã và đang có

-chuyên cần ngăn ngừa pháp ác chưa có

-Chuyên cần phát triển pháp thiện đã và đang có

-Chuyên cần sinh khởi pháp thiện chưa có.

Chúng ta còn thấy danh từ Pali «Sammà-padhàna», tuy thường đươc dịch là «chánh cần», nhưng nó còn có các nghĩa hoàn chỉnh hơn, là làm đến nơi đến chốn, không bỏ dở, làm đến cùng ….bốn công hạnh thanh tịnh nói trên.

3/NIỆM CĂN : Quyền năng của chánh niệm trong Tứ-Niệm-Xứ, nhất là niệm thân và niệm thọ. Khi chánh niệm thuần thục đến mức, từng giây từng phút hành giả thấy rõ sắc thân chỉ là tứ đại biến dạng, hôi thúi, nơi chứa những thọ cảm hai chiều, phù du, thấp hèn, thì đó là «quyền năng» của dứt khoát xả bỏ.

4/ĐỊNH CĂN : Quyền năng của nhất định (ekaggatà) trong Tứ Niệm Xứ, nhất là nhất định trong niệm tâm và niệm pháp thuần thục đến mức độ, từng sát-na hành giả nhất định «thấy»

tâm vô biên, không đối tượng khác, không chi phối bỡi cảnh pháp nào cả. Đó là «quyền năng» của “TRỤ XẢ” trong định căn ! Không có cảnh thứ hai, thì cảnh duy nhất là vô biên.

5/TUỆ CĂN : Quyền năng của toàn tịnh, trong sáng, thanh khiết vô biên, không còn sự ngăn che nào cả. Trí tuệ giải thoát vượt khỏi năm uẩn, 12 xứ, và 18 giới. Khi ấy, bốn đạo bốn quả

chỉ là trình tự giải thoát, chứ không phải là pháp mong đợi, gợi cảm, ưa thích, cầu đạt.

Ngoài ra, liên quan đến tam độc (tham, sân, si) hay vô minh tà kiến, khi Ngũ Căn đã thanh tịnh, thì hành giả sẽ phân biệt rõ, qua sáu “cảm quan” (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý) như sau :

Nhãn căn

     -Nhìn mà không thấy là vô minh

-Thấy mà thấy sai là tà kiến

    -Thấy mà ham thích là tham ái

      -Thấy rồi bất mãn là sân hận.

Nhĩ căn

-Nghe mà không hiểu là vô minh

-Nghe hiểu mà hiểu sai là tà kiến

   -Nghe hiểu mà thích thú là tham ái

    -Nghe hiểu rồi bất mãn là sân hận

Tỷ căn

                       -Ngửi biết mà không phân biệt là vô minh

      -Ngửi biết mà tin lầm là tà kiến

       -Ngửi biết và thích thú là tham ái

         -Ngửi biết rồi bất mãn là sân hận

Thiệt căn

-Nếm mà không biết là vô m

-Nếm mà tin lầm là tà kiến

  -Nếm mà thèm khát là tham ái

 -Nếm rồi bất mãn là sân hận.

Thân căn

 -Tiếp xúc mà vô cảm là vô minh

   -Tiếp xúc mà tin lầm là tà kiến

  -Tiếp xúc mà ưa thích là tham ái

      -Tiếp xúc rồi bất mãn là sân hận

Ý căn

-Nghĩ mà không suy là vô minh

   -Nghĩ suy mà suy lầm là tà kiến

 -Nghĩ suy mà hài lòng là tham ái

     -Nghĩ suy rồi bất mãn là sân hận.

Bộ Đề Phần Thứ 3                                                       Bộ Đề Phần Thứ 5