Bộ Đề Phần Thứ 3

TỨ NHƯ Ý TÚC  

(Catu Iddhipāda).

hay Tứ Thần Túc, gồm :

1- Dục như ý túc, hay mãn ý thần túc (Chanda iddhipāpa)

2- Tấn như ý túc, hay tinh tấn thần túc (Viriya iddhipāda)

3- Tư như ý túc, hay tư duy thần túc (Citta iddhipāda)

4- Khán như ý túc, hay minh sát thần túc (Vimaŋsa iddhipāda)

(Có sách dịch là «tuệ thần túc»).

(Theo Iddhivibhaṅga sutta. Saŋyuttanikāya No.51).

 

Trích kinh văn :

Bản dịch Anh ngữ : Bhikkhu  Thanissaro

                             Thoát dịch Việt ngữ : Cư sĩ Tuệ Lạc.

 

« ….TỨ THẦN TÚC là kết quả «vĩ đại kỳ diệu» và hoàn chỉnh của thiền lực, đã đuợc phát huy chuyên cần (đến cùng).

-Vậy kết quả ấy kỳ diệu như thế nào ?

-Tỳ khưu thuần thục<>trong pháp hành, được định lực hổ trợ, tăng cường sở nguyện (chanda) và luôn luôn chuyên cần tận cùng, thì ý thức rằng : Sở nguyện nầy không bị lười biếng và bồng bột tràn ngập, không bị nội thân hạn chế, và không bị ngoại cảnh chi phối.

 

Hành giả chứng thật rằng «Không gian trước mặt và sau lưng như nhau (đồng nhất). Những gì ở phía dưới và những gì ở phía trên chẳng khác nhau. Pháp hành trong hành giả hằng ổn định ngày và đêm, không có chướng ngại (nīvarana), thì chánh niệm (sammāsai) tự nó rất hùng hậu, để đạt thành :

       1-DỤC NHƯ Ý TÚC (hay mãn ý thần túc).

*Thế nào là sở nguyện không bị lười biếng tràn ngập ?

-Sở nguyện nào không để cho dễ duôi xen vào, gọi là «không bị lười biếng tràn ngập».

*Thế nào là sở nguyện không bị bồng bột tràn ngập ?

-Sở nguyện nào không có vội vàng, cẩu thả, cầu lợi xen vào, gọi là không bị bồng bột tràn ngập.

*Thế nào là sở nguyện không bị nội thân hạn chế ?

-Sở nguyện nào không bị lừ đừ và buồn ngủ xảy ra, gọi là không bị nội thân hạn chế.

*Thế nào là sở nguyện không bị ngoại cảnh chi phối ?

-Sở nguyện nào không bị ngũ trần qua 5 cảm quan làm cho phân tán (cản trở), gọi là không bị ngoại cảnh chi phối.

-Tỳ khưu thuần thục<>trong pháp hành, được định lực hổ trợ, tăng cường tinh tấn, (Viriya) và luôn luôn chuyên cần tận cùng, thì ý thức rằng : Tinh tấn nầy không bị lười biếng và bồng bột tràn ngập, không bị nội thân hạn chế, và không bị ngoại cảnh chi phối.                                

 

Hành giả chứng thật rằng «Không gian trước mặt và sau lưng như nhau (đồng nhất). Những gì ở phía dưới và những gì ở phía trên chẳng khác nhau. Pháp hành trong hành giả hằng ổn định ngày và đêm, không có chướng ngại (nīvarana), thì chánh niệm (sammāsai) tự nó rất hùng hậu, để đạt thành :

 

TẤN NHƯ Ý TÚC (hay tinh tấn thần túc).

-Tỳ khưu thuần thục<>trong pháp hành, được định lực hổ trợ, tăng cường tu duy, (Citta) và luôn luôn chuyên cần tận cùng, thì ý thức rằng : Tinh tấn nầy không bị lười biếng và bồng bột tràn ngập, không bị nội thân hạn chế, và không bị ngoại cảnh chi phối.                                 

 

Hành giả chứng thật rằng «Không gian trước mặt và sau lưng như nhau (đồng nhất). Những gì ở phía dưới và những gì ở phía trên chẳng khác nhau. Pháp hành trong hành giả hằng ổn định ngày và đêm, không có chướng ngại (nīvarana), thì chánh niệm (sammāsai) tự nó rất hùng hậu, để đạt thành :

 

TƯ NHƯ Ý TÚC (hay tư duy thần túc)

 

-Tỳ khưu thuần thục<>trong pháp hành, được định lực hổ trợ, tăng cường quan sát, (Vimaŋsa) và luôn luôn chuyên cần tận cùng, thì ý thức rằng : Tinh tấn nầy không bị lười biếng và bồng bột tràn ngập, không bị nội thân hạn chế, và không bị ngoại cảnh chi phối.                                

 

Hành giả chứng thật rằng «Không gian trước mặt và sau lưng như nhau (đồng nhất). Những gì ở phía dưới và những gì ở phía trên chẳng khác nhau. Pháp hành trong hành giả hằng ổn định ngày và đêm, không có chướng ngại (nīvarana), thì chánh niệm (sammāsai) tự nó rất hùng hậu, để đạt thành :

 

KHÁN NHƯ Ý TÚC (hay minh sát thần túc)

*Thế nào là nhận thức không gian trước và sau đồng nhất ?

-Khi sự nhận diện không gian trước và sau, được hành giả «trực giác», nhất tâm, thấy rõ, thông suốt, bằng tuệ lực phân biệt, thì gọi là nhận thức không gian trước sau đồng nhất.

*Và thế nào là trực nhận và an trú trong không gian ở dưới và ở trên như nhau ?

-Khi hành giả nhận diện chính bản thân mình, từ gót chân lên đỉnh đầu, từ đỉnh đầu xuống gót chân, bao bọc bỡi làn da, và chứa đầy những vật ô trược khác, rằng : Trong thân nầy, có tóc, lông, móng, răng…(kể tiếp cho đủ 32 thể trược, trang 43).

 

Đây là cách để hành giả trực gìác an trú, và nhận thức trên dưới thân đồng nhất.

*Thế nào là an trú như nhau, vào ngày cũng như đêm ?

-Vào ban đêm, hành giả phát triển THẦN TÚC, đầy định lực hổ trợ, trong sở nguyện (chanda) và chuyên cần tuyệt mức, cùng một cách và cùng một pháp với ban ngày như thế nào, thì ngược lại vào ban ngày, hành giả cũng làm giống ban đêm, như thế ấy.

Đây gọi là an trú ngày cũng như đêm như nhau.

*Và, nầy chư tỳ khưu, thế nào là chánh niệm (hay tỉnh giác), không có chướng ngại (nīvarana) ?

 

-Khi hành giả (§) tâm được khai sáng (bất cứ lúc nào trong 24 giờ), thì liền biết rõ chân quang thực tại, định tỉnh, thông suốt. Đây là minh tâm, không có chướng ngại (hay triền cái), để phát triển sở nguyện, còn gọi là  DỤC NHƯ Ý TÚC (chanda) vậy !

 

-Khi hành giả (§) tâm được khai sáng (bất cứ lúc nào trong 24 giờ), thì liền biết rõ chân quang thực tại, định tỉnh, thông suốt. Đây là minh tâm, không có chướng ngại (hay triền cái), để phát triển tinh tấn, còn gọi là  TẤN NHƯ Ý TÚC (Viriya) vậy !

 

-Khi hành giả (§) tâm được khai sáng (bất cứ lúc nào trong 24 giờ), thì liền biết rõ chân quang thực tại, định tỉnh, thông suốt. Đây là minh tâm, không có chướng ngại (hay triền cái), để phát triển tư duy, còn gọi là  TƯ NHƯ Ý TÚC (Citta) vậy !

 

-Khi hành giả (§) tâm được khai sáng (bất cứ lúc nào trong 24 giờ), thì liền biết rõ chân quang thực tại, định tỉnh, thông suốt. Đây là minh tâm, không có chướng ngại (hay triền cái), để phát triển quan sát, còn gọi là  KHÁN NHƯ Ý TÚC (Vimaŋsa) vậy !

 

 

*Khi hành giả phát triển và củng cố liên tục TỨ THẦN TÚC họ sẽ tự biết, và chứng nghiệm nhiều siêu lực, như :

 

-Phân thân, một hóa nhiều. Hợp thân, nhiều hóa một. Hiện ra và biến mất. Đi xuyên qua tường, thành lũy, núi, hư không. Di chuyển trong nước và trong đất. Nổi trên chất lỏng. Bay trên không trung. An tọa giữa trời. Tay chân có thể chạm nhật nguyệt. Tỏa phép lạ lên tận cõi Phạm thiên.

 

Và họ có đầy đủ 4 thần thông, là :

1/ THẦN NHĨ THÔNG : Nghe hiểu tất cả các loại ngôn ngữ (người, trời, thú, ma, qủy), ở gần hay ở xa.

 

2/ THA TÂM THÔNG : Biết hết “ý nghĩ” của tất cả chúng sinh, riêng cũng như chung, đồng thời làm cho chúng sinh biết được ý nghĩ của mình, phân biệt tình cảm và tri thức, phân biệt thiện cảm và ác cảm, phân biệt tâm si mê và tâm sáng suốt, phân biệt kẻ giữ giới và người không giữ giới, phân biệt tâm mở rộng và tâm hẹp hòi, phân biệt tâm xuất sắc và tâm ngu ngốc, phân biệt tâm an tịnh và tâm bấn loạn, phân biệt tâm giải thoát và tâm vướng mắc.

 

3/ TÚC MẠNG THÔNG : Nhớ nhiều kiếp, từ 1 đến vô số, rồi đến a-tăng-kỳ kiếp, hay kiếp trái đất và kiếp vũ trụ,. Nhớ hết tên họ, hình dạng, thực phẩm, niềm vui, vòng luân hồi tái sinh như thế nào, của từng kiếp một.

 

4/ THẦN NHÃN THÔNG: Nhìn thấy tất cả vòng sinh tử luân hồi của chúng sanh, phân biệt chúng sanh nào cao thượng hay thấp hèn, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, nghiệp lành hay nghiệp dử, thấy đủ thân thể, trí thức, giai cấp xã hội, thấy có chánh kiến hay tà kiến, thấy sau khi chết sẽ đọa vào đâu, hay sẽ tiến hóa lên cõi cao. Thấy chúng sanh nào tâm thanh tịnh, khi tan rã xác phàm được sinh vào tịnh thiên .

___

TỨ THẦN TÚC là quả lành tuyệt diệu trong hiện tại của thánh tâm. Vì vậy, hành giả luôn luôn được an ổn, viên mãn trong tri thức hướng đến giải thoát, biết mình đã “an ninh, lành mạnh” như thế nào trong hiện tại, và sau nầy.

Bồ Đề Phần thứ hai                                                        Bộ Đề Phần Thứ 4