Namo tassa bhagavato arahato sammàsambuddhassa.
Kính đảnh lễ đức Thế Tôn.
Ngài là bậc thân khẩu ý trọn lành, đã vượt ra tam giới.
Bồ Đề Phần thứ nhất,
TỨ NIỆM XỨ.
(Đức Phật thuyết tại xứ Kuru, vào hạ thứ 20)
(Catu Saṭipaṭṭthāna),
hay 4 «nền tảng chánh niệm», gồm :
1- Niệm thân (Kāya anupassanà)
2- Niệm thọ (Vedaṇā anupassanà)
3- Niệm tâm (Citta anupassanà), và
4- Niệm pháp (Dhammā anupassanà)
A-Trích Phạn văn kinh Đại Tứ Niệm Xứ
(Mahā Saṭipaṭṭhāna Sutta) :
Idha bhikkhave bhikkhu
*Kāye kāyānupassanā viharati
ātāpā sampajāno saṭimā vineyya
loke abhijjādomanassū
*Vedanāsu vedanānupassanā viharati
ātāpā sampajāno saṭimā vineyya
loke abhijjhādomanassū
*Citte cittānupassanā viharati
ātāpā sampajāno saṭimā vineyya
loke abhijjhādomanassū
*Dhammesu dhammānupassanā viharati
ātāpā sampajāno saṭimā vineyya
loke abhijjhādomanassū.
Nghĩa Việt :
Nầy chư tỳ khưu,
Sống quán thân trên thân,
Tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,
Để (dần dần) chế ngự tham ưu ở đời
Sống quán thọ trên thọ
Tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,
Để (dần dần) chế ngự tham ưu ở đời
Sống quán tâm trên tâm
Tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,
Để (dần dần) chế ngự tham ưu ở đời
Sống quán pháp trên pháp
Tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,
Để (dần dần) chế ngự tham ưu ở đời.
__________
Mở đầu là NIỆM THÂN : Vì sao phải niệm thân ?
-Vì thân nầy là «chỗ chứa» tất cả cảm thọ khổ vui, là môi trường căn bản của vạn pháp. Niệm thân là bắt đầu đi vào 37 Phẩm Giác Ngộ, hay Thất Bồ Đề Phần. Niệm thân thuần thục là tìm ra đầu mối cuộc sống nầy, từ đó thấy pháp giải thoát.
-Thân người ví như biển khổ. Bao nhiêu thọ cảm, tưởng, hành, thức…huân tập trong hợp thể (hay ngũ uẩn) nầy, từ vô số kiếp luân hồi, ví như chiều sâu của nước biển. Tham, sân, si ví như 3 loại gió độc thổi mạnh không ngừng, làm cho nổi sóng, chao đảo ngọn đèn tri thức, chẳng phát được ánh sáng minh mẫn, tự soi thẳng vào. Nên niệm thân thuần thục, là phát triển được ánh sáng thanh tịnh, chiếu vào «biển thân» phức tạp, ô trược ấy. Hành giả nhờ đó sẽ phăng ra được chỗ khởi đầu của sinh tử mà hóa giải, thoát khổ !
-Một kiếp luân hồi có hai “chỗ nối tiếp”, là cửa SINH và cửa TỬ, mà mỗi sinh linh khó nắm vững, để bình yên bước qua.
-Hành thiền Tứ Niệm Xứ, bắt đầu bằng niệm thân, rồi niệm thọ qua hô hấp (hơi thở), khi thuần thục (tức là thường xuyên tiếp cận, nhìn kỹ hai cánh cửa sinh tử ấy), thì hành giả sẽ biết rõ sống chết như thế nào, và gặt hái được hai kết quả thiện, là sống tốt và chết tốt, đối với thân cũng như đối với tâm.
-Đó là chứng “thân trong thân, hay thân ngoài thân”, trước khi chứng “thọ trong thọ, hay thọ ngoài thọ”, “tâm trong tâm, hay tâm ngoài tâm”, và “pháp trong pháp, hay pháp ngoài pháp”, để “hóa giải” sinh tử.
-Hành thiền NIỆM THÂN tuy là một pháp môn luyện tâm, nhưng đó là một pháp môn luyện tâm đi vào bản thân của mỗi cá nhân, nên nó chỉ trừu tượng đối với người khác. Nhưng đối với chính hành giả, khi làm đúng thì nó rất “cụ thể”.
Cụ thể ấy có thể ví như một kẻ lữ hành, chăm chỉ đi trên con đường hướng đến mục tiêu. Họ sẽ nhìn thấy (chứ không tìm kiếm) những gì trước mặt họ, như thế nào, thì người thuần thục trong NIỆM THÂN cũng sẽ “chứng thật” cảm thọ và hơi thở trong thân họ, rõ ràng như thế ấy !
-Nói rõ hơn “niệm biết toàn thân” là kỹ thuật mở cánh cửa “vận hành linh khí”, nguyên nhân của hơi thở. Đó là cánh cửa duy nhất bắt đầu sự sống và chấm dứt sự sống.
-Và toàn thân đang sống chính là nền tảng của mọi cảm thọ, hay toàn thân đang sống chính là phản ảnh của mọi tâm thức, đồng thời toàn thân đang sống, cũng chính là hiện trạng biến hành của vạn pháp.
-Mỗi chu kỳ tâm thức đi qua (cittavìthi), là mỗi lần một số tế bào trong thân sinh ra, và mỗi lần một số tế bào trong thân “lão hóa”, tự diệt. Sắc thân ngũ uẩn tiến dần đến chỗ tàn úa, ngừng hoạt động, rời rạc, rồi tan rã !
-Hành thiền Tứ Niệm Xứ là định thần “chứng kiến bốn cảnh” sinh trụ dị diệt của thân tâm, qua khám phá “bốn nền tảng” THÂN, THỌ, TÂM, và PHÁP.
____________
B-Lược kê và chú giải những chi pháp
(Sankhyà caṭṭhakathā) :
a/Niệm Thân tức là định tỉnh để nhớ biết toàn thân
(Kāyanupassanā), gồm :
1-Những gì thuộc về thân, như 32 thể trược (xem trang 43).
(Paṭikūla manasikāra).
2-Tình trạng thân hư hoại, như vật ở nghĩa địa (sīvatthika).
3-Bốn oai nghi chính của thân :
Đi (gacchando), Đứng (tiṭṭhito)
Nằm (sayano), và Ngồi (nisinno).
4-Những gì thân “cảm nhận” được (sampajañña) :
-Hiện hữu trong thân (satthaka sampajañña).
-Thuận chiều với thân (sappāya sampajañña).
-Sinh hoạt nơi thân (gocara sampajañña) : Hơi thở.
-Mờ ảo, vi tế trong thân (amoha sampajañña).
5-Những “cấu tố” của thân (dhātumanasikāra)
-Chất đặc (paṭhavī) : Đất
-Chất lỏng (āpo) : Nước
-Chất co giãn (tejo) : Lửa
-Chất di động (vāyo) : Khí.
b/ Niệm thọ là định tỉnh để nhận diện cảm giác.
(Vedanānupassanā) gồm :
1-Dễ chịu (mānāpa vedanā)
2-Khó chịu (amānāpa vedanā)
3-Trung cảm (adukkhamasukha vedanā)
4-Hợp thể xác (lokiyasukha vedanā)
5-Hợp tinh thần (niramisasukha vedanā)
6-Khổ thân (lokiya dukkhavedanā)
7-Khổ tâm (aniramisa dukkhavedanā)
8-Xả (upekkhā vedanā)
9-Bình đẳng (niramisa adukkhamasukhà vedanā).
c/Niệm tâm là định tỉnh để biết tâm
(cittānupassanā) gồm :
1-Tâm tham (rāgacittaŋ)
2-Tâm không tham (arāgacittaŋ)
3-Tâm sân (dosacittaŋ)
4-Tâm không sân (adosacittaŋ)
5-Tâm si (mohacittaŋ)
6-Tâm không si (amohacittaŋ)
7-Tâm hôn trầm (sankhittacittaŋ) : không tỉnh lâu
8-Tâm hỗn độn (vikkhittacittaŋ) : không rõ ràng
9-Tâm đại hạnh (mahaggatacittaŋ) : đại lượng, tiến hóa
10-Tâm hẹp hòi (amahaggatacittaŋ) : chật hẹp, cố chấp
11-Tâm hạ nghiệp (sanuttaracittaŋ) : sa đọa, bần tiện
12-Tâm cao thượng (anuttaracittaŋ) : thanh nhã
13-Tâm định (samādhitacittaŋ) : an trụ, tỉnh táo
14-Tâm hiếu động (asamādhicittaŋ) : bức rức
15-Tâm buông bỏ (vimutticittaŋ) : thảnh thơi
16-Tâm bám chặt (avimutticittaŋ) : vướng mắc
d/ Niệm pháp là định tỉnh để biết các pháp (dhammānupassanā) gồm :
1-Bốn pháp hằng thật (Sacca dhammā)
(hay Tứ Diệu Đế : Catu Ariyasaccāni) :
*Chịu đựng vui buồn, hay khổ đế (dukkha ariyasacca)
*Nguyên nhân chịu đựng, hay tập đế (dukkha samudaya)
*Niết Bàn, sự dứt chịu đựng, hay diệt đế (dukkha nirodha)
*Phương pháp chấm dứt chịu đựng, hay đạo đế (magga)
2-Năm pháp chướng ngại (5 nivaranāni dhammā) :
-Tham dục (kāmachanda) : Ưa thích ngũ dục
– Ác ý (abhijjjā vyāpāda) : bất mãn, sân hận
-Thụy miên, hôn trầm (thīna middha) : biếng nhác, lừ đừ.
-Vọng động (uddhacca kukkucca) : trạo cử, phóng tâm.
-Hoài nghi (vicikicchā) : do dự
3-Năm pháp tập hợp (5 khandhadhammā), hay ngũ uẩn :
-Tập hợp vật chất, hay sắc uẩn (rūpakkhandhadhammā)
-Tập hợp cảm giác, hay thọ uẩn (vedanakkhandhadhammā
-Tập hợp suy tư, hay tưởng uẩn (saññakkhandhadhammā)
-Tâp hợp phản ứng, hay hành uẩn(saṅkhārakkhandhadhammā)
-Tập hợp nhận biết, hay thức uẩn (saññakkhandhadhmmā)
4-Mười hai pháp liên hệ (12 āyatanadhammā) :
-Nhãn căn (Cakkhāyatana) liên hệ với sắc trần (Rūpāyatana)
-Nhĩ căn (Sotāyatana) liên hệ với thinh trần (Saddāyatana)
-Tỷ căn Ghānāyatana) liên hệ với hương trần (Gandhāyatana)
-Thiệt căn (Jīvhāyatana) liên hệ với vị trần (Sāyanāyatana)
-Thân căn (Kāyāyatana) liên hệ với xúc trần (Phassāyatana)
-Ý căn (Manāyatana) liên hệ với pháp trần (Dhammāyatana)
5-Mười hai pháp chịu đựng, hay khổ
(12 dukkhadhammā)
-Chịu đựng sự sanh (jātidukkhā)
-Chịu đựng sự già (jarādukkhā)
-Chịu đựng sự chết (maranadukkhā)
-Chịu đựng lo âu (sokadukkhā)
-Chịu đựng than tiếc (paridevadukkhā)
-Chịu đựng khổ thân (dukkhadhammā)
-Chịu đựng khổ tâm (domanadhammā)
-Chịu đựng tuyệt vọng (upāyāsadhammā)
-Chịu đựng ghét phải gần (appiyehidhammā)
-Chịu đựng thương phải xa (piyehidhammā)
-Chịu đựng bất toại (yampicchaṃ nalabhatidhammā)
-Chịu đựng ngũ uẩn (sankhittena pañcakhandhadhammā).
6-Ba pháp nguyên nhân (samudayadhammā) :
-Dục ái (kāmatanhā)
-Hữu ái (bhavatanhā)
-Phi hữu ái (vibhavatanhā)
7-Một pháp tịch diệt (nirodhadhammā)
-Niết Bàn dứt sinh tử (nibbānadhammā)
____
C-Tứ Niệm Xứ thuộc đề ĐỊNH hay QUÁN?
-ĐỊNH và QUÁN là hai vấn đề đang còn “thảo luận” trong giới “tu Phật”. Thảo luận có nghĩa là đóng góp ý kiến của mình, và lắng nghe, học hỏi ý kiến của người khác.
*Một số người cho rằng hành “thiền định” rất khó thành công. Vì phải vận dụng tuyệt mức tâm thần, để hợp nhất với đề mục. Nếu đạt được kết quả, thì cũng chỉ đến cõi “vô sắc” là cùng, rồi hành giả “hưởng phỉ lạc” chấp vào quả thiền, mà trở thành tà kiến. Nhưng nếu không thành công, thì tinh thần sẽ bất thường, tẩu hỏa nhập ma, rất nguy hiểm cho thần kinh não bộ.
*Một số người khác nêu ý kiến có vẻ “phân tích” hơn, rằng hành “thiền định” đã không chắc giải thoát, mà còn có thể có hại. Họ khuyên nên học Vi Diệu Pháp để “biết” các loại tâm, rồi hành thiền quán, “quan sát” tâm từng giây từng phút. Cách nầy vừa tương đối dễ làm, vừa an toàn. Vì thiền quán là “thiền tuệ”(minh sát), hành thiền ấy tâm sẽ sáng suốt.v.v….
-Nghĩa là khi thuộc lòng «bản đồ tâm» rồi, thì cứ thường xuyên “quan sát” tâm mình, biết “nó” loại gì, lần lượt phát sinh như thế nào, thì các phiền não sẽ tự nhiên tiêu trừ, giải thoát (?!). Dường như hễ ai đã hành «thiền quán» một thời gian lâu, thì người đó chắc chắn được giải thoát vậy.
-Nhưng thực tế không phải như thế ? Người hành “thiền quán” cũng rơi vào cố chấp. Nhiều khi họ dám“xác nhận” với «phái» hành thiền định một cách quá lố, rằng “minh biết mình đang tham (hay đang sân), thì tâm tham (hay tâm sân) sẽ diệt”. (?)
-Sự thật, bất cứ ai (biết Vi Diêu Pháp hay không biết Vi Diệu Pháp), khi nổi lòng tham (hoặc sân), thì ngay lúc đó hay về sau họ cũng biết. Họ còn biết thêm rằng lòng tham (hoặc sân) hằng làm cho họ khổ. Nhưng biết lúc đó, hay biết về sau, tiềm lực của tánh tham (hoặc sân) trong mỗi người vẫn nguyên vẹn. -Không vì “biết nó liền”, hay “biết nó sau” mà nó suy giảm !
-Lại nữa, cả hai loại người (buồn vì thất bại, hay vui vì thành công) trong cuộc đời, đều chịu đựng cái khổ, dưới nhiều dạng khác nhau. Khi nghe giảng sư “thuyết pháp” họ rất thích thú, rồi họ nhất định “không tham nữa”. Lòng tham trong họ được dịp ngủ yên, “dưỡng sức”, chứ không phải vì vậy mà nó yếu đi. “Nạn nhân” của nó vốn vì mệt với “mộng vật chất” mà tạm bỏ, để xây “mộng tinh thần”, thèm khát “an lạc” đó thôi.
-Nguyên nhân cơ bản của sự chịu khổ ấy, là sắc thân ngũ uẩn nầy, mà người ta không “khảo sát” bằng hành thiền để biết. Đi tìm “giải pháp an lạc” trong tưởng uẩn thì sẽ bị “nó” gạt. Vì vậy mà “nó biến mất”(không thèm tham) rồi “nó hiện ra”(lại tham), một cách nguyên vẹn, mạnh mẽ, trong cả hai loại người cuồng tín vật chất, và cuồng tín tinh thần.
-Lòng tham (hay sân) chỉ yếu đi, khi tưởng uẩn được thanh lọc, hóa giải bằng TRUNG ĐẠO, tức là quân bình thiền pháp trong thân, và hội tụ thần lực thanh tịnh nơi tâm. Chúng tôi đề nghị quí vị hãy sống trung đạo, phối hợp hai pháp thiền định và quán, lấy định làm nền tảng cho quán (minh sát), và thực hành 37 pháp giác ngộ.
-Vì sao ?
-Vì thiền định trong đạo Phật là nguyên nhân đưa tới chánh định, chứ không phải chỉ đưa đến “chú định” bằng mọi giá, như mục đích của các tín ngưỡng cổ xưa, hay cùng thời với đức Phật. Nhất là các giáo phái tôn thờ “tha lực”. Đối với họ “định” chỉ để giao cảm, “tiếp xúc” với đấng “toàn năng”.
-Vả lại, trong kinh Bát Chánh Đạo, đức Phật đã dạy phải có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, rồi mới đến chánh định. Và trong kinh Tứ Niệm Xứ (hay phần khởi đầu của 37 Phẩm Bồ Đề), đức Phật cũng dạy niệm thân (kàya anupassanà), hay định trong thân làm nền tảng. Thân chính là bể khổ, hành giả phải định trong bể khổ ấy, thì mới biết sóng gió tham sân si trong đó do đâu mà có, và chúng công phá như thế nào.
-Những «vật dụng» dùng làm đề mục, như đất, nước, lửa, khí, không gian, màu sắc, hay các hình thức đáng nhờm gớm..v.v…ghi trong kinh Phật (xem trang 43), mới nghe qua tưởng như những vật chất ấy, để giúp cho tâm định ngoài thân. Kỳ thực, những thứ ấy chỉ là phương tiện thực tế, dễ tìm, để đầu tiên dẹp phóng tâm qua năm căn (năm giác quan), hầu sau cùng “thu thần lực vào trong”, giúp tâm thức hành giả “định tỉnh và nhìn” nội thân, quan sát ý thức, nhận diện tứ đại trong thân, đồng nhất với tứ đại bên ngoài. Tất cả đều vô thường.
-Từ đó suy ra, niệm thân (hay niệm toàn thân gồm hơi thở) trong Phật giáo, tuy đầu tiên là thiền định, để có chánh định. Nhưng sau đó nó tự nhiên trở thành thiền quán (=minh sát), khi hành giả bước qua giai đoạn niệm thọ, phẩm thứ hai trong 37 pháp giác ngộ. Nghĩa là, tâm đã định trong toàn thân rồi, thì những gì trong thân, như hơi thở và cảm thọ, từ thô kệch đến vi tế, tâm đều “thấy và biết” một cách khách quan. “Thấy và biết” ở đây là “thấy và biết” trong thực trạng minh sát ngũ uẩn, chứ không phải thấy và biết theo tư thức thường tình.
-Cũng xin nói thêm rằng : Chưa toàn định (jhàna) thì không thể quán được. Vì quán là quan sát. Ví như một người vừa chạy vừa quan sát, thì thấy tất cả đều mờ ảo di động, không nhận rõ cái gì hết. Tâm phóng túng liên tục, ví như người đang chạy. Dù vừa dừng bước, nhưng chưa phải là yên. Đừng nói là đang chạy, không thấy rõ, ngay cả người mới dừng lại cũng chỉ thấy đối tượng tổng quát, thô sơ mà thôi, không thể nào thấy rõ ràng, bằng kẻ đã yên định một chỗ từ lâu, thấy thực tại.
-Trên đây chỉ là mượn thí dụ vật chất cho dễ hiểu. Nhưng thiền định rồi quán, pháp hành của tinh thần thì lại rất vi tế, khó nắm bắt hơn. Người không hành thiền không thể nào “tri thông” dễ dàng được.
-Nói tóm lại, Tứ Niệm Xứ là thiền định lẫn thiền quán. Nó dẫn tới chánh định và minh sát. Bốn phẩm bồ đề đâu tiên (Tứ Niệm Xứ) nầy, khi thực hành đúng thì không bị bế tắc. Và nếu thực hành đến nơi đến chốn, thì sẽ có hiệu lực giải thoát.
Mặt khác, pháp thiền trong Phật giáo đưa đến sự giải thoát, không phải nói ra cho người ta tin, mà là nói ra cho người ta biết, để thực hành, chứng thật. Ví như sự tái sinh luân hồi là pháp hành của ngũ uẩn. Tin tái sinh hay không, chẳng thành vấn đề. Nhưng hễ có ngũ uẩn thì phải tái sinh, không phải vì người ta không tin mà chết hết tái sinh, khỏi trả quả báo !