Câu hỏi thứ V

 Bát Chánh Đạo (Atthangikamagga) phải chăng là một Phật Pháp dễ học, dễ hành ?

 

Trước tiên, xin nói rõ, “Bát Chánh Đạo” không phải là một tập hợp của 8 con đường, lối nào cũng đưa đến mục tiêu giải thoát (cứu cánh). -Kiểu bắt chước một câu nói của Tây phương “Đường nào cũng dẫn về La Mã….” !

-Mà một cách khác, “Bát Chánh Đạo” là một “Diệu Pháp Liên Tiến”, nghĩa là pháp thứ nhất làm nền tảng cho pháp thứ hai. Nếu hành giả không chứng đạt pháp hành đi trước, thì không thể đắc được pháp hành theo sau. Hai chữ “liên tiến” ngụ ý như vậy. Xin trình bày thứ  tự :

1-Chánh kiến

*Khởi đầu “Bát Chánh Đạo” (Atthangika magga) là Chánh Kiến (Sammaditthi), tạm dịch là “thấy hiểu chân chánh. Thấy hiểu chân chánh” ở đây có có 2 phần tương quan mật thiết, là “thấy” và “hiểu”. Khi thấy đúng thì hiểu đúng. Còn thấy sai thì hiểu sai.

Vấn đề tiếp theo cần đặt ra, là thấy cái gì và hiểu cái gì ? -Người tu Phật có thực hành và chứng pháp thì nói “Thấy và hiểu tam tướng của thân tâm (ngũ uẩn) là vô thường, khổ (chịu đựng), và vô ngã.

-Nhưng sâu sắc hơn nữa, là phải thấy “tam tướng” (vô thường, khổ, vô ngã) ấy ở đâu ? –“Thấy” ở bên ngoài, hay “Thấy” ở bên trong ?

Đa số thường nghĩ là “thấy” ở “hiện tuợng”, tức là thất ở bên ngoài. Ví như thấy “vô thường” ở một người khác, mới đó còn thanh xuân, mà bây giờ đã trở thành già nua, lụm khụm. Một kẻ mới mập mạp khỏe mạnh đó, mà bây giờ đã ốm nhom, như bộ xương, ăn không vô, thở không nổi…..

-Còn ngoài xã hội, thi tiền tài, danh vọng, địa vỉ của mình hay của một người khác, mới thấy đó, bây giờ đã đổi chủ, hay vào tay kẻ thù, hoặc gặp tai nạn tiêu ra mây khói..v..v…..

-Từ đó, “nạn nhân” muốn hay không muốn, cũng “thấy” luôn đau buồn chịu đựng (khổ), và “thấy luôn” giá trị cái “tôi” của một người, sau khi chết, sình thúi, không đáng 3 xu (vô ngã) !

Những cái “thấy” ấy tuy không đáng phủ nhận, là nó giúp cho người đời bớt hung hăng, tử tế phần nào với đồng loại trong xã hội. Nhưng sau khi người ta đã bao phen “thấy” hiện tượng bên ngoài, và khổ như thế, thì người ta vẫn dễ ngươi, rồi đâu vẫn hoàn đó. Và cuộc sống lại tiếp tục lôi kéo người ta vào những khung cảnh vui sường tạm bợ, phiêu lưu khác.

-Nhất là khi con người chưa thực sự lâm vào tình trạng suy tàn, chưa thấy nội tại từ bên trong bản thân, thì người ta dù có “thấy” vô thường bên ngoài thật nhiều lần đi nữa, cũng chỉ để “thấy vậy thôi”, cho ra vẻ “hiểu đạo”. -Chứ hiệu lực sự thấy ấy vốn rất yếu ớt, rất dễ quên !

-Thử xét lại, trên đời có biết bao người, sau khi “thấy cảnh khổ”, đã nói rằng “tham là khổ, sân là khổ, mà mấy ai bỏ được tánh tham, tật sân ?

 

Như vậy, cái “thấy chân thật”, để giải thoát chính mình, là “thấy bên trong”, hay “thấy nội thân”, chứ không phải thấy hình thức bên ngoài, hay thấy ở người khác (ngoại cảnh). “Thấy bên trong” hay “thấy chính mình” cũng không ám chỉ sự cảm giác là mình đã già yếu, mà là “thanh tịnh thấy những biến đổi tự nhiên, theo từng “sát-na”(khana), do thực tập thành công pháp Như Lai thiền.

Đức Phật đã khám phá, và nêu ra pháp tu Tứ Niệm Xứ (Catu Satipatthàna), bắt đầu bằng Niệm Thân, thấy biết nội tại chính thân mình (Kàya Anupassanà). Nhưng đó là một đề tài khác. Nếu đủ nhân duyên sẽ cùng  thảo luận và thực hành  sau.

Trở lại “Bát Chánh Đạo”, khi có Chánh Kiến, “thấy hiểu và biết chân chánh, nội tại chính mình”, rằng vô thường ngay trong thân nầy, nó thay đổi từng giây từng phút, (dù cho bên ngoài vẫn còn mạnh mẽ “xinh đẹp”), thì hành giả mới không mắc dính với sắc tướng ngũ uẩn tự thân nữa. -Thân nầy mà không mắc dính, thì còn nói chi đến mắc dính cái gì khác !?

“Thân như hoa lá chiều tà

Muà xuân tươi tối, thu qua rụng rời

Khác chi suy thịnh ở đời,

Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành !”

Rồi hành giả có Pháp Xả, tự tại, bớt dần sự bất mãn vì chịu đựng những cảm thọ, vui hay buồn, thuận hay nghịch, bên trong lẫn bên ngoài bản thân, và xã hội. Cái “ngã” đại diện cho sắc tướng phù du (như hạt sương) kia, cũng từ đó thu nhỏ dần đến số không trong tâm thức hành giả, mà không cần nói ra, cũng không cần người khác chứng nhận, biểu đồng tình với mình về cái “thấy vô ngã tận cùng” ấy một cách vô ích.

2-Chánh tư duy

*Tiếp theo là Chánh Tư Duy (Samma Sankappo), hay suy nghĩ thanh tịnh, dẫn đến tác ý lành mạnh. Hành giả khi đã có Chánh kiến rồi, thì phải có Chánh Tư Duy, không thể có tác ý bất thiện được. Ngược lại, nếu không có Chánh Kiến, không thấy hiểu chân chánh, thì không thể nào suy nghĩ lành mạnh để có tác ý cao thượng, không gây hại chúng sanh.

Đa số phàm nhân, nếu không muốn nói là tất cả, đều vô tình hay cố ý tự phụ nghĩ rằng “ta đã có chánh kiến và có chánh tư duy”.-Nhưng kết quả trên đời, đa số những phàm nhân ấy, hay cả xã hội, luôn luôn sống trong xung đột, tranh giành, chia rẽ, đàn áp, bất công, thủ lợi, -nhất là sống trong đố kỵ, ích kỷ, chịu đựng những cái đúng ra không phải chịu đựng. Thực tế hỗn loạn, nhiễu nhương tiếp diễn hằng ngày…

Và hiếm khi chính những con người từng nhận mình đã có “chánh kiến” và “chánh tư duy” mà không tìm ra được một lối thoát nào an toàn, xứng đáng, để hóa giải những khổ đau cho riêng họ và cho cộng đồng xã hội.

Người ta vẫn thường nói đến hai chữ “tu tâm”. Và cũng ít ai “định phương hóa” tu tâm là hướng về pháp nào. Nơi đây, chúng tôi xin đề nghị rằng “làm sao cho mình có chánh kiến và chánh tư duy” là tu tâm đấy. Hay “Tu tâm không gì khác hơn là sự biểu lộ của sự thực hành 2 phẩm đầu tiên trong Bát Chánh Đạo, là chánh kiếnchánh tư duy.

3-Chánh ngữ

 

*Chánh ngữ (Sammàvàcà). Khi đã thấy hiểu chân chánh, và suy nghĩ đúng đắn rồi, thì lời nói không thể nào rơi vào 4 ác, là dối trá, chia rẽ (thấp hèn), thô tục, và vô ích được. Chánh ngữ cũng là “hạnh phúc” trong sự trao đổi kiến thức, thông tin, hướng đến hành động lành mạnh, trong sự sống chung hằng ngày (cộng nghiệp). Chánh ngữ thường là lời nói của chư vị Bồ-tát, của những Sa-môn, của những Thiện Sĩ, hay của những người hành trì thiện pháp, và tin tưởng vào đạo đức.

Nhưng rất tiếc, các hàng phạm hạnh vừa nêu trên, mỗi ngày một trở nên ít đi trong đời sống, lấy hưởng thụ vật chất làm “lý tưởng”, nên gương sáng thiếu hẳn. Một hiền nhân chánh ngữ khi phát ra lời nói, thì chẳng những nó làm thanh tịnh tâm thức người nói, mà nó còn đem lại an vui cho người nghe.

Chánh ngữ cũng không ám chỉ sự khách sáo, văn chương ru ngủ, âm thanh du dương, khen tặng vô cớ, phát ngôn sao cho vừa tai người nghe, với dụng ý tư lợi, thuyết phục. Chánh ngữ nhiều khi còn không phát ra lời, mà nó được diễn tả bằng một cử chỉ thanh tịnh, tự tại, vô âm thanh, nhưng đầy ý nghĩa. Như câu chuyện “nâng đóa sen” hiểu Diệu Pháp” của Thánh Tăng Đại Ca-Diếp, trước mặt Đức Phật, khi Ngài còn sinh tiền.

Sau cùng, Chánh Ngữ với tâm thanh tịnh, có thể được nghe biết và cảm nhận bỡi nhiều loại chúng sanh khác nhau. Chúng ta há đã chẳng thấy một bậc chân tu, hiền từ nói tiếng người, nhưng Ngài được nhiều loài động vật, kể cà dã thú xung quanh “nghe hiểu” và phục tùng, không làm hại lẫn nhau ? -Đó chính là “Chánh Ngữ Tương Thông” trong nhà Phật.

4-Chánh nghiệp

 

*Chánh Nghiệp (Sammà Kammanto) là hành vi chân chánh, vô hại. Hai chữ “vô hại” (ahimsa) ở đây cần hiểu sâu sắc hơn một chút, rằng hành động vô hại ngoài cái nghĩa không gây tổn hại đến chúng sanh, nó còn có nghĩa là gương mẫu, sách tấn, khuyến khích xung quanh hướng thiện.

Nói một cách cụ thể, những hành vi nào do thân, do khẩu (miệng) hay do ý, mà vô hại, đem lại sự bình an, cho xung quanh, làm gương tốt cho xã hội, thì nhà Phật gọi đó là Chánh Nghiệp. Nó cũng có nghĩa là hành vi giải nghiệp. -Tức là hành vi chẳng những không có hậu quả ràng buộc người hành động với một chúng sanh khác, mà nó còn giải được nghiệp quả cũ, lưu lai từ nhiều kiếp trước.

5-Chánh mạng

*Chánh mạng (Sammà àjìvo), hay Nuôi Mạng Chân Chánh là một chi pháp quan trọng trong Bát Chánh Đạo, liên quan đến sự sống con người. Nó ám chỉ tất cả những gì, một người có thể mua sắm hay thu được, để duy trì hay dinh dưỡng sinh mạng, một cách trong sạch, lành mạnh, hợp lẽ đạo.

Duy trì hay dinh dưỡng sinh mạng, gồm có hai phương diện, là duy trì hay dinh dưỡng vật chất, và duy trì hay dinh dưỡng tinh thần. Về sự sống vật chất, con người luôn luôn cần bốn loại vật dụng, là thực phẩm, y phục, chỗ ở, và thuốc men. Nếu một người tại gia (gọi là cư sĩ tu Phật) mà phạm mgũ giới* hay phạm “thập ác”#, để có bốn món vật dụng kể trên mà nuôi thân, duy trì và dinh dưỡng vật chất, thì người ấy sống theo tà mạng, chứ không phải sống trong chánh mạng !

Chú thích * và # :

*Phạm ngũ giới là sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống những chất say.

 

#Phạm thập ác, gồm -thân ác có 3 là 1/sát sinh, 2/trộm cắp, 3/tà dâm. -khẩu ác (hay miệng ác) có 4, là 1/nói dối, 2/nói đâm thọc, 3/nói chuyện mê tín, hoang đường (như nịnh bợ, bói tướng số, làm mai, dị đoan, đoán cờ bạc, cá ngựa..v..v…), 4/nói cộc cằn, thô lỗ, tục tĩu. -Và ý ác cũng có  3, là 1/tham lam, 2/sân hận, và 3/si mê, cực đoan, cuồng tín theo tha lực, thần thánh. (Tổng cộng : 3+4+3=10 tội, hay thập ác).

 

Còn duy trì hay dinh dưỡng tinh thần gồm : 1/Niềm tin chân chánh, 2/An tịnh, và 3/Tâm hoan hỷ, vô ngại.

Giải :

1/Niềm tin chân chánh, là tin nghiệp quả, tin giới hạnh, tin Ân Đức Tam Bảo, và tin mỗi chúng sanh đều có nghiệp quả là của mình. Từ đó, mỗi chúng sanh có thể tu hành, tự giải nghiệp, để thoát khổ, trở thành Phật, chứ không nhờ một tha lực nào khác.

2/An tịnh là tự tại trong chánh định, có sức mạnh tách rời phàm tâm, ra khỏi trần cảnh, và ma vương phiền não. An tịnh trong chánh định cũng có thể thuần thục tâm tánh con người trong Tịnh Tâm Minh Sát (Vipassanà), thấy rõ ba nguyên nhân luân hồi là tham, sân, si, –An tịnh như vậy là “Pháp chất” duy trì và dinh dưỡng tinh thần cao thượng và hữu hiệu nhất !

 

3/Tâm hoan hỷ, vô ngại ở đây ám chỉ từ bi hỷ xả, hay tứ vô lượng tâm của Thánh Nhân. Nhưng đối với người tu còn phàm, tâm “hoan hỷ, vô ngại” là tâm an tịnh trong pháp thiền, là tâm thường xuyên quán tưởng đến vô thường, chịu đựng (khổ), vô ngã.

 

Duy trì và dinh dưỡng sự sống (vật chất lẫn tinh thần) như thế gọi là thực hành đúng theo chánh mạng.

 

6-Chánh tinh tấn

*Chánh tinh tấn (Sammàvàyàmo) là khi một hành giả đã tu đúng theo 5 chi Bát Chánh Đạo đi trước (là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng) rồi, thì tiếp theo, sự siêng năng của hành giả ấy phải là Chánh tinh tấn, không thể nào sai lạc, cố ý ép xác, hay phiêu lưu, hoang đường được.

Chánh tinh tấn ở đây cần nhấn mạnh là tinh tấn một cách bền bĩ, thoải mái, để diệt tận tham sân si, xóa nghiệp, giải thoát, chứ Chánh tinh tấn không cầu “đi nhanh”, đốt giai đoạn, đạt thành quả siêu nhiên, hưởng quả thiền thâm hậu, hay hưởng phước báu lâu dài kiếp sau gì cả.

Trong chánh tinh tấn có tinh tấn buông xả nữa. Và nhờ buông xả những “công phu” cũ, mà hành giả mới tiến tới viên tròn những “công phu” (ba-la-mật), giải thoát rốt ráo hơn.

“Công phu” có thể ví như nước chuyên chở những vật tốt xấu, từ sông nhỏ đổ vào sông cái. Rồi từ sông cái đẩy trôi mạnh mẽ, không giữ lại bất cứ món gì của dòng đời mắc dính, và sông cái hằng toàn xả, để vất hết ra biển… thì lòng sông mới sâu, dòng nước mới trong, và toàn bộ mới sạch sẽ…. -Nghĩa là Chánh Tinh Tấn giúp cho sự xả trôi của dòng “sông lớn tư tưởng thanh tịnh” đươc thông suốt, không bị tắt nghẽn bỡi bất cứ ở đâu, trong tam giới, suốt chiều dài thiền đạo !

7-Chánh niệm

*Chánh niệm (Sammàsati) ở đây, xin nhắc lại là sự thanh tịnh, nhớ biết mình, ngay trong giây phút hiện tại, tức là hành giả luôn luôn sống trong Tứ Niệm Xứ, căn bản là niệm thân. Chánh niệm cũng không phải là sự thường xuyên “tụng nhập tâm” một đề mục hay một danh hiệu “Phật hay Thánh” nào đó, vang vang trong đầu…, mà chánh niệm là thanh tịnh tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh, thuận cũng như nghịch.

Đặc biệt chú ý :

Người cuồng tín, vận dụng tối đa sự “định tâm”, căng thẳng thần kinh, lúc nào cũng “mật niệm” một đề mục hay một “danh hiệu linh thiêng”, vang vang trong đầu. Khi “nhập tâm”, họ thường phải bị những phản ứng cơ thể, tâm lý, bộc phát (như tẩu hỏa nhập ma chẳng hạng), hay họ bị phản ứng cơ thể, tâm lý ngấm ngầm, một cách rất nguy hiểm !

-Ấy không phải là Chánh Niệm trong Phật giáo. Và khi “hành giả” “chịu đựng” được sự “phản ứng” như thế, mà không bị điên khùng (dĩ nhiên rất hiếm), thì họ sẽ có những “khả năng kỳ lạ” rất tà đạo. Họ có thể tiếp xúc vói ma quỉ, thế gới vô hình. (-Dĩ nhiên phải coi chừng giả mạo !) -Từ đó, họ có  thể “phô diễn” nhiều hiện tượng khác thường, và tạo nhiều nghiệp bất thiện, đẩy họ vào con đường thu lợi đen tối (tà mạng). -Còn kẻ giả mạo thì vì lừa gạt, mà tạo oan trái, sa đọa , luân hồi cho chính mình.

Trái lại, Chánh Niệm trong Bát Chánh Đạo chính là trạng thái tâm thức thường xuyên thanh tịnh của người tu Phật. Chánh niệm giúp cho họ luôn luôn khỏe mạnh bình thường, “giác tỉnh, biết mình” trong giây phút hiện tại. Không có một pháp gì xảy ra trong tâm, liên quan đến “ngoại cảnh” hay “nội cảnh” (=ý tưởng, tư duy), mà hành giả chánh niệm không hay biết, để dùng pháp xả hóa giải.

Nói cách khác, Chánh niệm cũng là “biết thực tại không gián đoạn” hằng cảnh giác trước tất cả những cảm thọ, xảy ra trong thân tâm hành giả, để kịp thời đối trị, không cho nó lung lạc tâm thức, phát sinh tác ý gây nghiệp bất thiện.

Tóm lại, Chánh Niệm là “tâm thường xuyên thanh tịnh, nhớ biết nội thân và nội tâm mình”. Chánh Niệm luôn luôn câu hữu với bốn ân đức, là Ân đức Tam Bảo, Ân đức giới hạnh, Ân đức trí tuệ, và Ân đức tứ vô lượng tâm. Bốn ân đức nầy là bốn trụ cột, hằng nâng đỡ nền tảng chánh niệm, cho luôn luôn được vững vàng, và không bị gián đoạn.

8-Chánh định

Và sau cùng là Chánh Định (Sammà Samàdhi).*Chánh Định ở đây ám chỉ nhất định, hay toàn định. Tiếng Pali Phật nói là “Sammà Ekaggatà”, có nghĩa là “Tâm thiền chỉ duyên trên một đường duy nhất,” đó là đề mục biết mình, chứ không phóng theo đối tượng ngoại trần nào khác. Chữ Palì “Sammà” ngoài cái nghĩa là chân chánh, lành mạnh, còn ám chỉ “toàn thể, toàn diện”.

Chánh Định (Sammà Samàdhi) trong “Bát Chánh Đạo” Phật giáo (Atthangikamagga), -có kinh còn gọi là “Bát Thánh Đạo” (Atthangika Ariyamagga) là phẩm thanh tịnh cao thượng, phải được xem là tương đương với ít nhất là đệ tứ thiền (Tâm Nhất Điểm =Ekaggatàcitta) trở lên. -Vì hành giả ở trình độ nầy đã vượt qua được 1/Tầm (Vitakka=Nhất thiền), 2/Tứ (Vicàra=Nhị thiền), 3/Phỉ lạc (Pìtisukha=Tam thiền). Và “Trụ” hay Nhất định (Sabba jhàna=Ekaggatà=Tứ thiền).

-Sở dĩ chúng tôi nói như vậy, là vì ba bậc thiền trước thường có thể ảnh hưởng người tu thiền, làm cho tiến bộ tâm linh không khéo bị dừng lại. Nhất là ở bậc thiền thứ ba “Phỉ lạc”, hành giả có thể dễ dàng bị “cảm giác”an vui phỉ lạc ảnh hưởng dẫn lệch (!).

Như trên đã nói –Hành trì Bát Chánh Đạo là “giải nghiệp”. Có người sẽ “thắc mắc” rằng “Luật nghiệp quà nếu luôn luôn nghiệm đúng”, thì quả của nghiệp không thay đổi được, thế sao còn gọi là “giải” ?

Xin thưa : “Luật nghiệp quả” có thể nói khác đi, là “Luật nhân duyên quả”. (Nghiệp=Nhân+Duyên). Nội dung nầy chứa chữ duyên. -Nghĩa là chuyện quá khứ không biết ra sao, nhưng nếu trong hiện tại ta gặp và củng cố được duyên thiện, thì quả xấu có thể giảm đi (giảm chứ không phải tiêu mất), còn quả tốt thi nhờ duyên thiện được củng cố, có thể tăng trưởng. -Ngược lại, nếu trong hiện tại ta gặp duyên ác, thì quả xấu của nghiệp ác quá khứ có thể gia tăng, còn quả tốt của nghiệp lành quá khứ sẽ bị giảm bớt.

-Đó gọi là “Sống theo Bát Chánh Đạo thì được giải nghiệp quả” vậy !

Trang trước                                                                               Trang tiếp