Niềm tin phải chăng là một loại “vô minh” ?
Người ta lý luận rằng, Tin thì thường khi là chưa “biết”. Còn một khi đã biết thì không đặt ra vấn đề tin nữa.
Người ta cũng phân biệt rõ “nội dung” giữa hai tình trạng “hiểu” và “biết”. -“Hiểu” cần dựa trên “sự hợp lý” (logique), nhưng “Biết” thì căn cứ trên thực nghiệm.
Ví dụ, tôi đứng ngoài cửa kính, nhìn thấy chị hàng xóm đang nói chuyện với anh bán bánh mì, phía trong khung kính. Sau đó tôi về nhà thì thấy chồng chị hàng xóm ấy cầm gói bánh mì (giống như bánh ngoài tiệm), rồi để lên bàn….
Tôi hiểu theo “logic” (sự hợp lý) rằng chị hàng xóm đã mua bánh mì cho gia đình ăn. Đây là một chuyện bình thường, chẳng có gì rắc rối, đáng cho tôi quan tâm cả.
Nhưng một lúc sau, thằng con chị hàng xóm qua nhà tôi chơi. Nó thấy tôi đang ăn bánh mì, bèn buộc miệng nói “Nhà con hôm nay không có bánh mì để ăn”.
Tôi nghĩ bụng “Thằng này láo thật. Chính tao “thấy” má mày mua bánh mì trong tiệm. Tao lại còn thấy ba mày cầm gói gánh mì bọc giấy kiếng, đặt lên bàn. Bây giờ mày bảo nhà mày hôm nay không có bánh mì để ăn, là nghĩa làm sao ? Chắc mày muốn “chia” phần bánh mì của tao hẳn ?”
Nghĩ vậy, nhưng nó vẫn là thằng bé, tôi liền bẻ cho nó một mảnh bánh. Nó tươi cười ăn xong, cám ơn tôi, chạy về nhà, thì tôi thấy một người quen khác, đứng trước cửa nhà nó kêu to : “Tèo ơi, đưa gói bánh mì cho bác đi ! Ông chủ tiệm nói đã gởi má con cầm bánh mì về cho bác rồi”.
Rồi tôi nghe tiếng thằng bé “dạ” ! -Té ra thằng bé đã hoàn toàn nói thật. Nó không “nói láo”. Nghĩa là cái “logic” mà tôi hiểu và “kết tội” thằng bé vừa rồi…. đã không xác thực !
Giá trước đó ấy tôi bước vào trong tiệm, nghe lão chủ tiệm nói cái gì với mẹ thàng bé, thì tôi đã “biết” sự thật rồi. Vấn đề “hiểu theo logique” và chuyện “tin” mẹ thằng bé mua bánh không cần đặt ra nữa.
Ngoài ra, hễ hiểu theo lý thuyết thì tin theo lý thuyết, vốn có thể không luôn luôn nghiệm đúng. Nhưng hiểu qua thực hành, thì biết và không cần có vấn đề tin, cũng không cần đến xác chứng nữa !
Một ví dụ khác, anh đóng chặt nắm tay lại, và bảo với tôi rằng trong đó có viên kim cương. Tôi vì thấy nhà anh lớn, xe anh đẹp, tiền anh nhiều, nên “hiểu” theo logique rằng anh rất giàu, thừa sức mua nổi viên kim cương như thế. Tôi “tin” anh có viên kim cương trong tay liền.
Nhưng khi anh mở nắm tay ra, trống rổng, tôi “biết” anh không có kim cương. Anh chỉ nói đùa thôi. Do đó, khi hiểu và tin thì phải đặt lại vấn đề chứng minh. Nhưng khi “biết” và tin tự nó đã chứng minh rồi.
-Trong Phật giáo “chân tri giác” hay “chân giác ngộ” là “biết xác thực” qua pháp hành, chứ không phải “hiểu biết” qua logic, hay lý thuyết, đầy thắc mắc được.
Khi đi vào thực hành, nếu còn “thắc mắc” là “thắc mắc” lên mức thực hành cao hơn, do chưa tự thân chứng đắc, chứ không phải “thắc mắc” cái mà mình đã thực hành thuần thục, và đang xác nghiệm.
Quay lại câu hỏi thứ tư, “Niềm tin phải chăng là một loại vô minh ?” Chúng tôi trình bày đến đây, chắc quí vị có thể xác nhận rằng, “Niềm tin phát sinh từ kết quả của pháp hành (thực nghiệm) là một loại niềm tin không đồng loại với vô minh. Còn niềm tin qua hợp lý (logique) là niềm tin rất có thể thuộc loại mù quáng.
Ví như người tinh cần và tu chứng chân chánh, đắc được nhất thiền. Họ cảm thấy kết quả thanh tịnh, an vui như thế nào, thì họ cũng tin tưởng vào kết quả các bậc chánh thiền cao hơn, mà họ sắp tinh cần thực hành, như thế ấy.
Nghĩa là, “niềm tin” khi đồng loại với vô minh, là loại niềm tin trong sở tri chướng (mọt sách), niềm tin của lý thuyết, niềm tin của khả năng biện bác (vốn như con dao hai lưỡi), hay niềm tin bị kẹt trong nhị biên tương đối.
Niềm tin đó hoàn toàn khác với niềm tin dựa vào sự sáng suốt thực hành, và dựa vào tuần tự kinh nghiệm ! Trong ngũ căn và ngũ lực (10 trong 37 phẩm Bồ-Đề), niềm tin đó đứng đầu các khả năng, gọi là “tín căn” hay “tín lực” (Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ). Nhà Phật gọi niềm tin đó là đức tin (Saddhà).