Câu hỏi thứ III

Duyên khởi là gì ?

Duyên khởi là một “tập hợp giáo lý” gồm 12 pháp “nhân duyên” để “hệ thống hóa tiến trình của một chu kỳ nghiệp quả luân hồi”.

Kinh Duyên Khởi thuyết minh : “Hễ có pháp khởi đầu thì phải có pháp tiếp theo”. Có 12 pháp hành tất cả, gọi là Thập Nhị Nhân Duyên trong nhà Phật.

Sở dĩ nhà Phật không nêu đủ 5 chữ “Thập Nhị Nhân Duyên Quả”, là vì.cái quả ca diễn tiến đi trước, trên phương diện danh pháp (tinh thần), thì nó lại là cái nhân trong diễn tiến theo sau, cứ thế tương ứng cho đến khi có đủ danh pháp lẫn sắc pháp phối hợp, làm ra một chu ký luân hồi danh sắc, ngũ uẩn, sinh tử và tử sinh.

Điều rất khoa học ở đây, là cái “khoen” nhân duyên đầu tiên có tên là vô minh (Avijjà=mù mờ).

Chúng ta dang sống trong một thời đại mà lòng tham thường thắng thế, và “khoa học” không ngừng đi tới.

-Lòng tham thường thắng thế, và “khoa học không ngừng đi tới, có nghĩa là con người vừa khao khát hưởng thụ vừa mù mờ trước mọi lý do hiện hữu. Con người chẳng những phải tìm cho ra nguyên ủy của sự sống, mà con người còn muốn khám phá tại sao sự sống không ngừng thay đổi, hay vô thường ?!.

Vậy duyên khởi đầu tiên,  hay Vô Minh (Avijjà) là gì ?

Vô minh (Avijjà) có nghĩa chính trong triết học Phật giáo, là “không rõ ràng”, ”mù mờ”, “chẳng phân biệt”, “không nhất định”, cái tình trạng “thật giả đi liền với nhau, xoay chiều, giao thoa, lẫn lộn”, “mọi vật trước có hình dạng A sau phải tinh vi biến thành thành  B”.

Cái thấy biết trong vô thường của một sinh linh trước tình trạng ấy, dĩ nhiên là không thật. Nhưng sinh linh vì vô minh, cứ chấp vào đó, nên tâm thức bị phân tán, hoan mang, mất định hướng, quay cuồng !

Vô minh” vì vậy là một duyên khởi loạn động, bất tịnh, một pháp tác lầm lẫn, -chứ “vô minh” không nhất thiết có nghĩa là không thấy biết gì hết.

Vì quay cuồng, lầm lẫn…vì biến đổi như vậy vô minh dễ dàng làm cho chúng sanh si mê vướng chấp thấy trắng thành đen, thấy hại thành lợi, thấy ác thành thiện, thấy hạnh phúc gần không phản ảnh được đau khổ xa, gp trăm ngàn lần (Sukhadukkhapaccaya), thấy lầm cái vừa ý chứa đau khổ hấp dẫn hơn cái không vùa ý, mà được bình an..v..v…rồi sinh linh không ngừng tạo nghiệp bất thiện  !

Đến đây, chúng ta phải lưu ý một điều : Vô minh là một tình trạng, một “duyên hành”, chứ không phải là một động cơ, hay nguồn gốc”. –Như vậy, vô minh sẽ không hiện hữu, nếu không có một “cái gì đó”, để “cái ấy” nằm trong tình trạng vô minh.

Nghĩa là phải có “tâm thức”, để tâm thức đó vọng động, rơi vào tình trạng vô minh, duyên hành tạo nghiệp, đầu tiên là nghiệp ý (khởi danh pháp vi tế). Tiếp theo “tâm thức” ấy vì đã có ý nghiệp vọng động, nên chấp vào mà trở thành “tâm thức tham sống”, hay Danh pháp hướng đến tạo nghiệp cụ thể.

Từ đó, tâm thức tham sống cứ chồng chất ý nghiệp, rồi phối hợp với sắc pháp (Tứ Đại, kể từ Lục Nhập, hay khoen thứ 5 trở về sau) để tạo tác cả ba nghiệp thân khẩuý, và luân hồi dưới “dạng” ngũ uẩn.

Và đối lại, khi nói đến triệt tiêu ngũ uẩn, hay “ngũ uẩn hoàn không”, chúng ta thấy đã có hàng ngàn cuốn sách nói về giải thoát, nhất là nói đến “Tánh Phật”. Nhưng xưa nay, chưa có cuốn nào định nghĩa rõ được “-Tánh Phật là gì ?” -Như vậy chúng ta có cảm giác “muôn đời không thể hiểu được “Tánh Phãt” ! –Dù cho chúng ta chỉ cầu hiểu một cách tương đối, “khái niệm” !?

Dĩ nhiên cũng có người khuyên : “Hãy tu thành Phật đi, rồi sẽ hiểu được tánh Phật”. Câu nầy chỉ có giá trị giáo dục đối với những kẻ tham lam, lười biếng, không chịu tu hành, mà muốn biết “Tánh Phật là gì ?”

Nhưng đối với những người dốc lòng hướng thiện, quyết tâm thực hành giáo lý, không muốn nhắm mắt đi càng, mà không tương đối hiểu biết đó là “mục tiêu gi”. -Trường hợp nầy, chảng lẽ chúng ta cũng nói “Hãy thành Phật trước, rồi sẽ hiểu biết mình tu để chi sau, hay sao”(?!). -Nếu như thế, thì Phật giáo chỉ để lại cho chư vị đã thành Phật hiểu, còn chúng sanh chưa thành chánh quả, thì phải mù tịt, cứ tin và làm đi, rồi “ngày kia” sẽ rõ !

 “Pháp trí độ” sao lại có vòng lẩn quẩn ?!

–Theo ý kiến của chúng tôi, chỉ là ý kiến thôi, xin thành tâm chia xẻ đến quí vị, chứ hoàn toàn không dám võ đoán : “Tánh Phật là cái Tâm Thức hết tham, sân si, hết chấp, toàn xả, và hết vọng động”. -Tâm thức đó nếu chúng ta (phàm phu) chưa có (để hiểu), thì chư Đại Bồ Tát, Chư Thinh Văn Sa Môn, hay chư Đại Hiền Cư Sĩ, đã dày công phu Ba La Mật thanh tịnh đã ắt có (để biết Tánh Phật là gi’) !

Quay lại Pháp Duyên Khởi (Paccayadhammà), hay Thập Nhị Nhân  Duyên (Dvàdasapaccayadhammà), chúng tôi xin nhắc lại các pháp :

                    1/Vô Minh (Avijjà) duyên Hành,

                    2/Hành (Sankhàrà) duyên Thức,

                    3/Thức (Vinnàna) duyên Danh Sắc,

                    4/Danh Sắc (Nàmarùpa) duyên Lục Nhập,

                    5/Lục Nhập (Salàyatana) duyên Xúc,

                    6Xúc (Phassa) duyên Thọ,

                    7/Thọ (Vedanà) duyên Ái,

                    8/Ái (Tanhà) duyên Thủ,

                    9/Thủ (Upàdàna) duyên Hữu,

                    10/Hữu (Bhava) duyên Sinh,

                    11/Sinh (Jàti) duyên Lão Bệnh,

                    12Lão Bệnh (Jaràmarana) duyên tử.

Tử trong tình trạng Vô Minh, thì Tâm Tham Sống lại vọng động, duyên trở lại Hành…! -Các “khoen” tiếp theo như thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, tử sẽ lập lại….., hết vòng (hay kiếp) nầy đến vòng (hay kiếp) khác. Sinh đi trước tử rồi tử cũng đi trước sinh, luân hồi bất tận !

Như  ngụ ngôn công án sau đây :

ba vật nguyên biệt, đầu tiên ngẫu nhiên nằm gần nhau : Một “ống dầu” (tượmg trưng cho tham vọng, có đặc tính loang sự kết dính ra), một nhóm đá cui” (tượng trưng cho tứ đại), và một “bàn tay” (tượng trưng cho Tâm thức chưa vọng động). Cả ba vốn ở trong trạng thái “vô hành”….

-Nhưng bàn tay bắt đầu vọng động, cựa quậy, một cách không mục đích, ví như Vô Minh, khoen thứ 1.

-Nó quờ quạng đụng bất cứ vật gì, cũng cầm hết (chấp), cầm cái nầy chung vi cái kia (uẩn), tạo ra sự nhập cục, ví như Hành, khoen thứ 2.

-Kết quả, hễ có cọ xác thì có nhiệt năng giữa các vật cứng sinh ra, và vì cọ xác tiếp tục, nên nhiệt năng  phực thành lửa, ví như Thức, khoen thứ 3.

-Lửa cháy kéo dài thì thành ngọn, soi ngược lên mọi vật, làm cho chúng có những bóng đen ngã ra các phía, ví như Danh sắc, khoen thứ 4.

-Rồi những pháp hành vừa nói gây chuyển động bầu không khí (trước đó yên tĩnh). Không khí chuyển động tức là gió, làm chao đảo ngọn lửa. Ngọn lửa chao thì các bóng đen trở thành lung linh “hoạt động”, ví như Lục nhập, khoen thứ 5.

-Bóng đen lung linh hoạt động ngã bên nầy ngã bên kia, tức là có sự xê dịch, cọ lên mặt phẳng trong hiện trường, ví như Xúc, khoen thứ 6.

-Gặp chỗ lồi lõm thì bóng đen méo mó đi, thay đổi tình trạng trước, thành tốt hơn hay xấu hơn, ví như Thọ, khoen thứ 7.

-Cường độ tốt hơn hay xấu hơn ấy chẳng thật hay giả, chẳng nhất định, cứ nhùng nhằng, không tách rời cũng không nắm chắc cái gì cả, ví như Ái, khoen thứ 8.

-Không khí chuyển động, gặp cả nóng (gần lửa) lẫn lạnh (xa lửa), tạo ra hơi nước, cô đọng thành một vũng. Dưới đáy vũng nước, phản chiếu những cái bóng sinh hoạt, ví như Thủ, khoen thứ 9.

-Rồi những bóng phản chiếu ở đáy nước ấy, bất chợt biến mất khi mặt nước chao, và bất chợthiện ra khi mặt nước yên lặng, ví như Hữu ( vô), khoen thứ 10.

-Bóng phản chiếu hiện ra và biến mất nhiều lần nối tiếp nhau, khi khi không, tạo ra chu kỳ, ví như Sinh Tử, khoen thứ 11 thứ 12.

 

Nói tóm lại, các pháp hành vốn sinh khởi tùy duyên và luân hồi để “hoàn không”. Pháp hành ấy gián tiếp “xác nhận” rằng, không phải tuyệt đối không có cái gì hết, Trái lại, ở trạng thái “tĩnh”, “CHÂN TÂM” vẫn ”còn đó”. Nhưng cái “còn” ấy không thể nào chứng minh trong môi trường vọng động, “có hoàn không” được !

Nghĩa là xuyên qua “Thập Nhị Nhân Duyên”, hay 12 khoen luân hồi (ghi trên), qua ngũ uẩn hoàn không, chúng ta thấy tàng ẩn “thức ham sống” dưới dạng tâm vọng động, nó không nhất định là cái gì cả, nên ta không thể nói nó “trường cửu” hay “ngắn ngủi phù du” (giai đoạn), còn bảo rằng có“ hay ”không có” thì rơi vào thường hay đoãn (tà kiến)..

Tà kiến (Micchàditthi) theo kinh Phật bao gồm nhiều kiến chấp khác nhau. Cái nào cũng không thật cả. Đặc biệt là đoạn kiến, cho rằng “chét là hết, không nghiệp quả, tội phước chi cả….nguy hiểm vô cùng !  

 

Chúng ta có thể suy ra rằng, “Nếu không có cái thức tham sống đi tái sinh, thì Vô Minh (tức khoen đầu tiên của 12 khoen duyên khởi) sẽ tác dụng vào đâu, để sinh ra các khoen nhân duyên kế tiếp ?

Đức Phật và chư tổ xưa nay đã không bàn nhiều về cái tâm “vô tướng” ấy, vì các Ngài không muốn đời sau hiểu lầm, xem nó như “linh hồn bất diệt” hay thc tánh toàn năng, hoặc xem nó là cái gì “hư ảo”, “tuyệt diệt”, “không có”.

Hai chữ “không có” ám chỉ đơn giản “sự không hiện din” hay có rồi không, không rồi có, vô thường, tuy không chính xác, vẫn còn dễ hiểu. Nhưng hai chữ “toàn năng” mà chúng tôi dám “qui về” cho “tâm thức” thì thật là một chuyện “không thể nói khác được”. -Không thể nói khác được, vì hầu hết chúng ta đều biết rằng : “Tâm linh”ấy có thể hiện ra muôn hình vạn trạng. Nghĩa là “nó” rất kỳ lạ, có thể thành Phật, mà cũng có thể thành ma !

Và khi cái tâm tham sống “vô tướng” ấy chưa hoàn toàn  thành Phật, hay chưa hoàn toàn thành ma, thi “nó” được mệnh danh là “linh hồn”, vì “nó” rất “rắc rối”, rất linh hoạt. “” có khả năng “điều động” tất cả mọi hành vi cử chỉ, vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống một con người. “Biểu lộ”của đã khiến cho hai phe “trí thức” duy vậtduy tâm, từ trước đến nay có đề tài tranh luận sôi nổi, bất phân thắng bại. -Rằng “Vật chất có trước hay tinh thần có trước” ?

 

Phe duy vật thì dựa vào “giác quan” của con người, cảm nhận được, mà cho rằng “Vật chất có trước”, “tinh thần có sau”. Nghĩa là khi các thành phần vật chất “kết hợp, sinh hoạt tốt” thì tinh thần biểu lộ. Ngược lại, khi các thành phần vật chất già nua, cằn cỗi, bệnh hoạn, “kết hợp xấu, bế tắc, tê liệt, ngưng hoạt động” thì tinh thần biến mất. Không còn gì để đặt thành vấn đề, và phân tích cả. Duy vật kết luận bằng một câu giản dị : “Tử giả biệt luận” hay -Chết là hết, không còn gì để nói. . -Nhà Phật gọi ấy là Đoạn kiến. (Ucchedaditthi).

Còn phe “duy tâm, hay duy thần thì khác. Họ chủ trương “tâm linh thiêng liêng và trường cửu, hằng có trước”. Vât chất nhờ tâm linh chiêu cảm” mà sinh ra sau. Nghĩa là tâm linh có thể “tạo ra” vật chất, từ cực tiểu đến cực đại. Khi nào tâm linh “không muốn vật chất trường tồn, thì tâm linh triệt tiêu toàn thể. Sự tận thế là kết quả của pháp hành tâm linh. -Phật giáo gọi quan niệm nầy là Thường kiến. (Sassataditthi).

Trước khi bước qua quan điểm của nhà Phật, chúng tôi xin có chút góp ý, liên quan đến 2 ”lập trường“ trên, rằng Phật giáo tuy không đồng ý với cả hai. Nhưng giữa 2 kiến chấp, thà “duy tâm”, “duy thần” hay “duy linh”, để không dám làm tội, vì biết sợ thần thánh trừng phạt, trong cõi nào đó sau khi chết (?), còn hơn là duy vật, đoạn kiến, việc gì cũng dám làm, cho rằng chết là hết, vô tội vạ. -Xã hội con người sẽ hỗn loạn, đau khổ !

Riêng hàng tu Phật thì không vướng vào một trong hai sự tranh luận nầy. Chúng ta nhờ học Phật mà trung đạo hiểu rằng “Vật chất và tinh thần vốn là 2 “cu phn” to nghiệp quả, hay duyên khởi của nhau. Vật chất là duyên làm bộc lộ tinh thần. Tinh thần cũng là duyên để nẩy sinh vật chất. Nhưng khi cả 2 trở về nguyên tịnh, cực vi “vô hành, hoàn không, thanh khiết, vô tướng, hết hợp tan, thì vật chất và tinh thần chính là MT” (Pháp bất nhị).

Chú ý :

Vật chất khi ở trạng thái cực vi, biến thành hạt “Paricule” vô hình, định một điểm, hay biến thành sóng “Onde quantiquexut hin khắp mi nơi, do dụng cụ tối tân khoa học phân tích và thực nghiệm, theo Phật giáo, ấy chưa phải là vật chất nguyên tịnh đúng nghĩa !

Trang trước                                                                               Trang tiếp