Câu hỏi thứ I

 

Luật nhân quả” có luôn luôn nghiệm đúng không ? (Hetuvipàka dhammà  niràkaraniyavajja ?)

 

Người ta thường thấy nhân quả nhãn tiền, chỉ nghiệm đúng một cách chung chung, trên các loài thực vật (gieo hạt ớt có trái ớt, trồng hạt xoài mọc cây xoài), và trong những phản ứng khoa học, tương quan lý hóa.

Nhưng trên những chu kỳ sinh hoạt thần kinh của động vật, nhất là xuyên qua toàn bộ các pháp hành của loài người, “luật nhân quả” không luôn luôn nghiệm đúng, và hầu hết chúng biểu lộ một trạng thái “nhân quả sai biệt”.

“Sai biệt” trong xã hội loài người đến độ, mà người ta nhận thấy nhân một nơi, quả một nẻo. Nhân đàng đông quả đàng tây. Nhân cao quả thấp. Nhân tốt quả xấu, và ngược lại. -Hay ông A tạo nhân thì bà B nhận quả…v…v…, khiến cho bao nhiêu người tin vào sự “công bằng” của luật nhân quả, nhìn thấy “thực tế” như thế, rồi đâm ra hoang mang, không biết đâu là định hướng của giá trị cuộc sống đạo đức.…(?)

Ví dụ, một người suốt đời ăn ở hiền lành, tuy đời sống rất khó khăn, nhưng họ luôn luôn sống lương thiện, thì người ấy lại gặp toàn chuyện bất hạnh, như nghèo cực, hay chịu nhiều hàm oan, không thể giải bày được. Ngày ngày người ấy phải kéo dài đời sống đày đọa, với cảnh chịu đựng lắm bất công….

Trong khi đó thì một kẻ gian ác, dẫm lên đạo đức, sống bất kể phê phán của nhân quần xã hội, coi thường luật pháp, xu nịnh bề trên, tàn nhẫn với kẻ dưới, phản bội đồng bào…, thì kẻ ấy lại thường khi gặp may mắn, làm ăn phát đạt, giàu có vinh hiển, “thịnh vượng” lây cả đến thân nhân, họ hàng xa gần.

Tiền bạc bất chánh, kẻ ấy thu được dồi dào, rồi biến thành “tiền sạch”, gởi ra ngân hàng ngoại quốc hằng nhiều tỷ đơn vị. Còn nhà cửa của họ thì sang trọng, con cháu học dở cũng đậu cao, lại được cho học bỗng xuất dương, chọn trường danh tiếng, từ Âu sang Mỹ, hay Úc…..

Ai chứng kiến cảnh “nhân quả bất công” ấy mà không cho rằng ”luật nhân quả không chính xác”, hay đó chỉ là “một lý thuyết xã hội, để an ủi người  bất hạnh ?”.

-An ủi, vì viện dẫn rằng ”Những gì ta đang nhận trong hiện tại, vốn do ta đã tạo ra từ kiếp trước, và ta bây giờ đang ăn ở hiền lành, quả vui sẽ đến trong kiếp sau. Hãy an phận và kiên nhẫn chờ đợi kiếp sau sẽ ‘thấy” nhân quả minh xác, hưởng phước hay chịu khổ !

Nếu không nắm vững giáo lý nhà Phật, mà chúng ta nhân danh Phật giáo dùng câu trả lời, tạm gọi là “huề vốn” hay “an ủi” như thế, thì thật là đáng tiếc !

-Đáng tiếc, vì ý nghĩa của câu trả lời vừa nêu trên tuy không sai, nhưng đó chỉ là lý thuyết. Mà lý thuyết thì thường khi không nghiệm đúng được trong thực tế.

Chưa kể “đàng sau” giáo lý giải khổ, vốn còn nhiều diệu pháp tối quan trọng cần phải được nêu ra. Nếu chúng ta không đào sâu, không bổ túc, chỉ hài lòng có vậy, thì Phật học sẽ trở thành phiến diện.

Chính vì hài lòng với lý thuyết suông, và trước các trạng thái không nghiệm đúng ấy, mà Phật giáo xưa nay thường bị hiểu lầm một cách tai hại, là xa rời thực tế, “tạo nguồn” cho sự bi quan yếm thế, hay chán đời, buông xuôi..v..v….

Nhưng giáo lý Phật Đà vốn không phải đơn giản như thế. Vì “Luật nhân quả (Hetuvipàka dhammà) mà xưa nay chúng ta thường quen miệng nói, đúng ra phải gọiLuật Nghiệp Quả (Kammavipàka dhammà).

Và để bổ túc, chúng tôi xin thưa “Lụât nhân quả” (Hetuvipàka dhammà) chỉ là “lý thuyết giản dị, hay châm ngôn ngắn gọn, cho dễ hiểu dễ nhớ, tạo sự chú ý thông thường mà thôi”. Còn “Luật nghiệp quả“ (Kammaviapàka dhammà) mới là “pháp hành có “nội dung nghiệm đúng”.

Vậy để giải tỏa thắc mắc, tốt hơn chúng ta hãy bàn về Luật Nghiệp Quả (Kammavipàka dhammà).

-Trước tiên, xin nói về danh từ “Nghiệp”. Danh từ  nghiệp nầy được dịch từ tiếng Phạn (=Phạm), hay tiếng Phật nói ngày xưa, là KAMMA=KARMA. “Nghiệp” (KAMMA, KARMA) vốn có nghĩa là hành động với tác ý. Và trong cái khung của nghiệp (KAMMA) bao giờ cũng gồm 1 số điều kiện, nghĩa là phải có đủ nhân phối hợp với duyên, như công thức sau đây :

        Nghiệp    =   Nhân  +   Duyên

 

Hay Phạn ngữ :

          (Kamma   =   Hetu   +   Paccaya)

Công thức nầy chứng minh rằng, Nhân mà thiếu duyên, thì nghiệp tốt hay xấu, tạo tác để sinh quả sẽ không thành tựu“.

Xin giải nghĩa theo phương trình toán học :

“NHÂN”(Hetu) hay hạt. Nếu chúng ta nói A=A=0 hay nhân=nhân=0, thì triệt tiêu, chẳng có gì để bàn. Còn nếu chúng ta viết A=A’ thì lại vô lý, nên chúng ta phải viết A+b=A’ thì đúng “khoa học” hơn.

Còn “QUẢ”(Vipàka) là sự “kết trái” hay “hậu quả”.

 

Và căn cứ trên thực tế, chúng ta có :

Anhân hay hạt (Hetu),

b duyên hay điều kiện (Paccaya), và

A’(*)hậu quả hay trái. (Vipàka, phala).

Giải :

(*) Dùng A’ tượng trưng cho “hậu quả” thì rất “tương ứng”, vì theo nhà Phật, “Hậu quả đến phiên nó sẽ trở thành nguyên nhân”, để cho ra quả khác là A’’. Như câu nói “Trong nhân có quả, trong quả có nhân”.

Kết luận  :  Nhân + duyên => Nghiệp => Quả.

Ví như người ta có hạt to béo (nhân tốt), nhưng nếu nhân tốt ấy, bị gieo trên chỗ đất khô cằn, sỏi đá (thiếu hẳn điều kiện phát triển, không đủ duyên lành), thì hạt sẽ không mọc ra cây, hoặc nếu hạt ấy mọc ra cây, thì cây ấy có nhiều yếu tố sẽ chết, hay nếu nó sống thì cây sẽ cho quả xấu . Nghĩa là :

Hạt tốt + Đất xấu = Trái xấu, hay

Nhân tốt cho quả xấu tức là thực trạng sai biệt,

do thiếu duyên .

Kết luận : Nhân quả không nghiệm đúng !

 

Ngược lại, khi ta chỉ có hạt ốm (nhân xấu), nhưng ta biết đem gieo chỗ đất mầu mỡ, đủ nước, thì cây sẽ mọc tốt, và sẽ lớn lên, cho quả tốt :

Hạt xấu + Đất tốt = Quả tốt

Nhân xấu quả tốt, cũng là thực trạng sai biệt,

do đủ duyên.

Kết luận : Nhân quả không nghiệm đúng !

 

Hai thí dụ trên, nếu dựa theo luật nhân quả cứng ngắc (nhân nào quả nấy) thì rõ ràng chúng không nghiệm đúng.

Nhưng nếu căn cứ theo luật nghiệp quả, lấy duyên làm trọng tâm, thì nó hoàn toàn nghiệm đúng. –Vì sao ?

-Vì trong nghiệp chứa nhân duyên :

“Dẫn số b” (duyên) ở đây chính là lý do làm sai lệch tương quan nhânquả. “Dẫn số b cũng là điều kiện “quyết định”, làm cho luật nghiệp quả nghiệm đúng :

 

A  +  b  =  A’,  hay

Hạt  +  hoàn cảnh  =  trái.

 

Nhân (hạt)trái (quả) thuộc về thực vật, tạm cho là vô tri, duyên (hoàn cảnh) còn quan trọng như vậy. Huống chi nói về chúng sanh hữu tình (có cảm giác), thì DUYÊN (hay điều kiện tương quan, hoàn cảnh) còn quan trọng hơn nhiều.

Lưu ý, nhân tượng trưng bằng A, và quả tượng trưng bằng A’ thì đúng hơn, vì quả đến phiên nó lại đóng vai nhân cho chu kỳ theo sau (như đã nói trên đây).

Thí dụ chứng minh :

Trường hợp thứ nhất, một người tuy ốm yếu nhưng đang nóng giận (sân hận, nhân xấu}, muốn giết kẻ thù khỏe mạnh hơn mình, đang bị trói trước mặt, nhưng trong tay người ấy không có vật gì cả, xung quanh lại được nhiều người khuyên can. Do đó, người ốm yếu không thể tạo nghiệp sát. Rồi những bạn bè sau đó còn tiếp tục khuyên giải. Cuối cùng y bỏ giận hờn, và mối quan hệ giữa hai “đối thủ”, trở lại bình thương, về sau còn có thể (vô thường), trở thành thân thiện (quả tốt).

 

Trường hợp thứ hai, một trong hai người bạn rất thân (thương nhau lắm, cắn nhau đau). Và chỉ vì vui miệng, một người vô ý nói mày hiền như Bụt, vô chùa tu đi (Nhân tốt, có thiện pháp), cưới vợ làm chi cho khổ, để cô ấy tao lo cho.

 

 Nhưng câu nầy lại lọt vào tai bà chị có tánh đâm thọc của cậu trai trong cuộc. Với “tài” đâm thọc thường xuyên và tinh vi của bà, và với con dao người chị ấy cung cấp, cậu em vì ghen tuông, thiếu suy nghĩ, đã đâm chết bạn mình. (Quả xấu).

 

Xuyên qua cả 4 thí dụ (gieo hạt và gen tuông) kể trên, chúng ta thấy gì ? –Nhân (xấu hay tốt) tuy quan trọng, nhưng không quan trọng bằng DUYÊN. -Và DUYÊN mới chính là điều kiện “quyết định” để tạo nghiệp và cho Quả.

 

Nhắc lại câu Trong nhân có quả, trong quả có nhân“, thì đó cũng chỉ là lý thuyết. Khi pháp hành của duyên nằm giữa nhânquảvắng mặt, thì khả năng nhân sinh quả hay quả thành nhân sẽ bị triệt tiêu.

 

Như vậy, kết quả của nhân tùy thuộc vào sự mạnh yếu của Duyên, mà trở thành sai biệt, nhiều hay ít.

 

Nói tóm lại, DUYÊN quan trọng đến độ con người đã “linh thiêng hóa” nó thành Thượng Đế Toàn Năng, thành Thần Thánh đủ loạì, hay thành Hồn Thiêng Bất Diệt..v..v… -Tiêu biểu nhất là trong các khung cảnh thờ phượng linh tượng, của các tín ngưỡng dân gian, dùng “Thánh Vật”, để làm duyên ảnh hưởng tâm tánh tín đồ, một cách bất khả xâm phạm.

 

Chỉ có Đức Phật là bậc duy nhất, đã sáng suốt đưa ra những phương pháp cải thiện cái duyên (hay “thần thánh”) đó, bằng sự tự lực của mỗi cá nhân. Ngài bảo rằng, “Không có tha lực toàn năng, mà chỉ có đủ duyên, để thành tựu một cái gì, dù cho cái ấy rất phi thưòng”.

-Tu Phật là để giải thóat khỏi những nhân duyên ràng buộc, lôi kéo con người vào xung đột, luân hồi thăng đọa vậy !

 

Và Phật giáo đã gọi DUYÊNcộng nghiệp !

Vậy “cộng nghiệp” là gì ?

 

Cộng nghiệp” cũng là một danh từ Phật học khác, tuy có vẻ “dễ hiểu“ nhưng  cũng rất “phức tạp“.

Dễ hiểu vì người ta có thể nghĩ nôm na rằng, “cộng nghiệp” là cái tình trạng chung (nghiệp chung) của nhiều người, hễ người này có thì người kia cũng có, vui khổ liên đới với nhau. Và đối lại với tình trạng chung, là tình trạng riêng của từng người, thì gọi là Biệt nghiệp.

 

-“Phức tạp” vì khi đi sâu vào sự nghiên cứu “chu kỳ sống chết” (Samsàra), hay nghiên cứu “bộ máy sinh tử luân hồi, thì chúng ta chỉ thấy cộng nghiệp, chứ không thấy biệt nghiệp. Nói cách khác, trong bộ máy luân hồi, biệt nghiệp luôn luôn loãng chìm trong cộng nghiệp.

 

Loãng chìm” cũng có nghĩa là khó phân biệt đâu là biệt nghiệp và đâu là cộng nghiệp,cộng nghiệp không gì khác hơn, chính là toàn thể những biệt nghiệp liên quan hợp lại. Nếu không có biệt nghiệp liên quan hợp lại thì cũng không có cộng nghiệp. Ví như nếu không có từng cây lớn nhỏ đứng gần nhau, thì không có cánh rừng.

 

Sư liên quan hằng có giữa biệt nghiệp và cộng nghiệp, làm cho người tu Phật, đã thấm nhuần giáo lý Phật đà, sẽ không nhận thấy trong cuộc sống, có hạnh phúc riêng tách rời hoạn nạn chung của mọi người, và ngược lại.

 

Dùng trường hợp sau đây để cùng nhau suy gẫm :

Một trận hỏa hoạn thiêu rụi gần hết khu phố, ngoại trừ một căn nhà. Có lẽ ngọn lửa đến đó thì hết đà. Người chủ căn nhà còn lại, dĩ nhiên không buồn nhiều, như những nạn nhân nhà bị cháy kia, nhưng chưa chắc người ấy đã vui sướng gì, vì khung cảnh sinh hoạt xung quanh không còn như cũ nữa.

 

Rồi khi thẩm quyền địa phương quyết định tái thiết khu phố, thì căn nhà chưa cháy không chắc đã yên, hay là nó cũng sẽ bị san bằng, như bao nhiêu “đống than gạch đổ nát” khác. Sự bồi thường theo diện tích của nhũng căn nhà thuộc khu phố cũ, tính theo mét vuông, nếu có…., chắc chắn cũng dựa trên quy tắc chung như nhau.

 

Nhưng nếu chính quyền địa phương có chính sách phục hồi gia cư, thì toàn dân khu phố cũng được hưởng theo cùng một luật định “bồi thường”.

 

Như thế, trong số nạn nhân có ai dám bảo rằng ”Đây là cộng nghiệp, sự bồi thường hay trợ cấp phải bình phân, không phân biệt diện tích lớn nhỏ”, -hay kẻ ấy dám bảo rằng ”Đây là biệt nghiệp, phải căn cứ theo bản kê khai của nhũng gì mỗi căn nhà đã mất, mà phục hồi ?

 

Nghĩa là, vấn đề từng căn nhà (biệt nghiệp) chắc chắn sẽ được giải quyết trên bình diện toàn thể (cộng nghiệp) !

 

Nghiên cứu kỹ, thì cộng nghiệp chi phối tất cả biệt nghiệp. Vì không có một sinh vật nào trên mặt đất nầy, mà sống hoàn toàn riêng rẽ, độc lập, ngoài cái chu kỳ không gianthời gian “chung”. Tất cả đều lồng vào nhau và tùy thuộc lẫn nhau, trưc tiếp hay gián tiếp, lộ hình thức ra hay ẩn dạng.

 

Một người tu, sống ẩn dật, cách ly trong rừng vắng, chưa hẳn là người đó sống trong “biệt thiện nghiệp”, được kết luận hiểu là một mình tự độ và không có độ tha. Vì sao ? Vì người đó vẫn còn cha mẹ anh em, người đó vẫn có họ hàng thân thuộc nội ngoại, người đó vẫn còn tiếp xúc với một ít người xung quanh, và do đó họ vẫn sống trong cộng nghiệp.

 

Chưa kể tư cách và đạo hạnh của người ấy, dù ẩn dật nhưng nếu nghiêm trang thanh tịnh, vẫn làm cho 1 số người được tiếp xúc kính phục, noi gương, và họ sẽ rao truyền ra nhiều người. -Nghĩa là người ấy vẫn gián tiếp độ tha bằng thân giáo !

 

Cộng nghiệp (luân hồi), nói theo nhà Phật, là một “hằng lý”, nghiệm đúng trong mọi vận hành của sự sống trong tam giới. Còn biệt nghiệp mà chúng ta thường nghe nói vốn là một tư tưởng giả định do con người đặt ra, để ám chỉ một số hành vi trong cái khung nhỏ. Và nó chỉ “nghiệm đúng” trong một cái khung nhỏ đó thôi.

 

Nhờ ý thức được Biệt nghiệp luôn luôn nằm trong cộng nghiệp, hay giả định nằm trong hằng định như thế, mà người tu Phật mới có một tinh thần và thái độ mở rộng, sống hòa mình, liên đới một cách chân thành, với xã hội chung quanh, xem xã hội xung quanh là một phần lớn (không thể tách rời), của đời sống cá nhân.

 

Đây là một ý thức tôn giáo đầy triết học xã hội. Ngoài đạo Phật ra, không có giáo thuyết nào khác có chiều sâu tương tự. Người tu Phật thấm nhuần giáo lý ấy, khi xử dụng bất cứ một vật dụng gì, như mặc một chiếc áo chẳng hạng. Người con Phật sẽ tưởng nhớ trong chiếc áo ấy có hàng trăm ngàn bàn tay đóng góp tạo thành. Và họ âm thầm tự biết ơn xã hội, biết ơn tất cả nhân loại, hay biết ơn chúng sanh !

 

Vẫn biết chiếc áo trên mình họ, là do tiền riêng của họ mua ra. Nhưng ý thức cộng nghiệp của Phật Giáo làm cho họ biết sâu hơn rằng, chiếc áo ấy có thể đại diện cho một bức tranh toàn cảnh rất sống động. Trong bức tranh đó, họ sẽ nhìn thấy những sinh hoạt dây chuyền, từ người nông phu chất phát trồng bông vải cho đến chị kéo sợi quê mùa, từ cô thợ dệt cần cù cho đến bác thợ may khéo léo, rồi từ bác thợ may khéo léo cho đến cửa hàng thương mại trang nhã, ở đó có bao nhiêu nhân viên góp tay vào, cho cửa hàng trưng bày xinh đẹp, sinh hoạt vui vẻ nhịp nhàng…..Và một ngày đẹp trời nào đó, họ là người tiêu thụ, mới có thể hân hoan bước vào cửa hàng, chọn lựa….

 

Về phía tài chánh cũng vậy, nếu có ý thức cộng nghiệp thì người tiêu thụ, khi cầm tờ bạc trên tay cũng biết rằng, tờ bạc kia cũng có thể xem là một bức tranh toàn cảnh khác. Trong đó, từ người cung cấp vật liệu cho đến người thợ làm giấy, từ công nhân in bạc cho đến nhân viên nhà băng..v..v….Tất cả hợp lại để cho chúng ta có một vật dụng trung gian gọi là “tiền tệ”, đại diện cho sự đền bù sức lao động của con người, trong một công xưởng nào đó.

 

Rồi phía đầu tư nữa. Chính chủ nhân, hay người bỏ tiền ra mướn nhân viên làm việc, và phát lương cho họ, cũng là người đứng đầu “guồng máy kinh doanh” để gián tiếp góp phần vào việc diều động một phần nào nền kinh tế quốc gia, trong đó cái áo mà ta đang mặc là một sản phẩm tiêu thụ.

 

Chắc quí vị còn nhớ, Phật dạy con người có 4 trọng ân, mà 1 trong 4 trọng ân ấy là ân xã hội, ân chúng sanh.

 

Xưa nay chúng ta thường nghĩ rằng, ơn chúng sanh ám chỉ trong vô số kiếp luân hồi, tất cả sinh linh đều đã từng là ruột thịt của nhau, làm cha mẹ, làm con cái, làm anh em, làm vợ chồng, làm thầy trò, hay nói chúng là làm họ hàng thân thuộc của nhau biết bao nhiêu lần, nên tất cả đã từng bảo bọc nhau, phải biết thương, và mở lòng nhớ ơn nương tựa ấy………..!

 

Điều đó không sai. Nhưng chỉ suy tư như vậy là “trừu tượng”, chưa đủ (tiêu cực), vì nghĩ đến vô số kiếp luân hồi, là nghĩ đến qúa khứ, thời gian và hoàn cảnh đã trôi qua, không kéo lại được để trả ơn. Mà một cách thực tế, tích cực hơn, nếu chúng ta nghĩ đến những gì chúng ta đang sống, đang dùng, đồng thời với ý thức cộng nghiệp hiện tại, chúng ta có thể trả ơn được, bằng cách trân trọng mọi vật dụng, cá nhân hay cộng đồng. Giữ sạch và bảo vệ những gì xung quanh ta (tức môi trường) và hòa ái, tương trợ với đồng bào, là cách biết ơn nhân loại, chúng sanh, trong hiện tại một cách thiết thực và nhiều ý nghĩa nhất !

 

Ngày nay, nhiều tổ chức thiện nguyện, tại những nước tân tiến trên thế giới, đang kêu gọi tinh thần bảo vệ môi sinh. Họ báo động sự “tiến bộ” cơ khí, điện tử, nhất là “hóa học” đã làm cho mọi vật trên mặt đất bị ô nhiễm, nếu không muốn nói là “trở thành độc địa”, nguy hiểm cho sức khỏe của toàn thể địa cầu, chứ không phải cho riêng con người. Giữ sạch mặt dất, ngoài cái nghĩa là trả ơn nhân loại, chúng sanh, mà còn có nghaĩa là che chở đối tượng ấy nữa !

Một điều ngẫu nhiên tuyệt vời ở đây, là những tâm hồn đề cao sự bảo vệ môi sinh ấy nào biết rằng, cách nay hơn 2500 năm, chính đức Phật đã nói ra điều đó. Ngài chẳng những đã “báo động” sự ô nhiễm vật chất, mà Ngài còn báo động sự ô nhiễm tinh tinh, bằng tham, sân, si….tà kiến nữa !

Trang trước                                                                             Trang tiếp