Thần thông là gì ?
Lược giải dựa trên khoa học.
Cuối cùng, xin liên hệ đến vấn đề “thần thông” một chút. Đây là một “đề tài” rất trừu tượng, đối với phàm nhân. -Chưa đắc thánh quả mà bàn về “thần thông”, chẳng khác nào chưa biết lội, mà diễn tả cách vẫy vùng trên mặt nước. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm hiểu trong tinh thần tương đối !
Nên nhớ rằng, khi nhà Phật đề cập đến “thần thông”, là nhà Phật nói ra một hiện tượng “siêu khoa học”, chứ không phải là tiết lộ những ma thuật hay “pháp lạ”, để vinh danh một sức mạnh.vô hình.
Ai đã nghiên cứu sâu xa trong Phật học cũng đều biết : “Thần thông” là sức mạnh của “vật lý tâm linh”. Thần thông so sánh với khoa học, chỉ khác ở chỗ nó không giống như những hóa hợp vật chất bị hạn chế.
Nghĩa là khi toàn định, giữa tâm và vật vốn có một “liên quan chuyển hóa hay hoỏn vị”. Ở đây, tâm có thể biến ra vật (hữu hình), và ngược lại vật nếu cực vi, cũng có thể biến thành tâm (vô hình).
Nhưng trong hạn chế phàm tình của đời sống (cố chấp hữu hạn), khi tâm loạn thì vật chỉ là vật, vì nó “bị mất” khả năng biến hành. Hay tương tự như thế, tâm chỉ là tâm, khi nó “bị mất” khả năng ấy. Hiện diện hay biến mất chỉ là hai biên của hạn chế. Nhưng khi trở lại vô hạn chế, hai biên ta gọi là “biến hóa” ấy chỉ hoán vị nhau thôi, không có gì mất tích cả !
Và muốn cho “nó trở lại” với khả năng đó, thì phải có pháp thiền (đạt đến tứ thần túc) để triệt tiêu hạn chế, như ý nghĩa của các kết quả thiền vô sắc trong nhà Phật. Nghĩa là phải phá hủy tình trạng mất hẳn mối “liên quan chuyển hóa hoán vị”, giữa tâm và vật.
Khi hạn chế không còn, thì năng lực của một điểm cũng mạnh như năng lực của tất cả các điểm. Và pháp hành của một điểm cũng là pháp hành của vô số điểm cộng lại. -Ta có thể tạm xem đó tương đương với sức mạnh của“sự nổ đồng loạt trong nguyên tử”.
Đến cực độ, thì pháp hành triệt tiêu được hạn chế, tức là đạt đến vô biên. -Hay nói theo ngôn ngữ giải thoát nhà Phật, sự phá hủy biên chấp ấy là chân trạng của tâm “XẢ VÔ LƯỢNG” (hết tham, sân, si vậy !
Và khi sự sống còn nằm trong các vòng hạn chế, muốn có sức mạnh “kỳ diệu”, khoa học đã dùng pháp hành thuần túy vật chất, lấy cái hạn chế tương đối lớn nén lại đến tối thiểu, cực vi (tương đương với đại tập trung, hay định), rồi đẩy cái đại tập trung ấy qua cái hạn chế tương đối nhỏ, để tạo động cơ….
Kết quả, chúng ta thấy 2 “ống phản lực”, hút khí trong không gian rất lớn phía trước, đẩy qua cái không gian rất nhỏ tiếp cận, phá mất trọng lượng, đã nâng nổi chiếc máy bay khá nặng một cách dễ dàng.
Tương tự như thế, ĐỊNH VÔ SẮC trong nhà Phật là gì, nếu không phải là “tập trung” cái hạn chế bị chia chẻ bỡi kiến chấp, của toàn thể không gian (và thời gian) bao quanh quả đất (Àkàsànancà yatana..v..v…) thành “hợp nhất” vào trong cái hạn chế của một không gian vô biên tâm linh, để không còn cái hạn chế thứ hai (ngoại cảnh, thời gian) nào nữa, và sức mạnh tự nhiên của nó là hiển lộ “thần thông” ở bất cứ nơi nào, lẫn ở thời điểm nào.
Nhưng có thần thông mà không XẢ, thì vướng mắc, và thần thông có thể bị mất. Rồi vì tham chấp phát sinh, mà hành giả sẽ sa đọa. Tức là thần thông tự nó vừa hữu hạn vừa vô hạn. Hữu hạn (chấp) thì sẽ tận. Vô hạn (hay XẢ) thì thần thông thường hằng.
Ví như hiện tượng mà ai cũng từng gặp : Một tin vui có thể làm cho người bệnh nặng, cảm thấy khỏe, không cần thuốc, thì tin vui ấy phải chăng có thần thông ? Người ta nói đó là “yếu tố tâm lý”, nhưng Phật giáo bảo : “Đó là lý lẽ của sức mạnh tâm linh tạm thời vượt qua hạn chế ?” -Hạn chế ở đây theo Phật học, là ích kỷ, là đóng khung, mà loạn động, vướng chấp vậy !
Ngoài ra, nhân đây cũng cần phân biệt nghĩa lý giữa TIN và CHẤP, rằng : Tin là một khả năng tinh thần có 2 mặt. TIN đúng (chánh tín) là thiện pháp, thì tiến hóa. TIN sai (tà tín) là ác pháp, thì thoái hóa.
Nhưng CHẤP chỉ là một phiền não đơn thuần, dù cho chấp trong việc tốt cũng không nên. Bỡi CHẤP luôn luôn là hạn chế, là sự không bằng lòng, khi người khác nghĩ và tin khác với quan điểm của mình.
***
Đến đây thiết tưởng “Giải tỏa thắc mắc” như thế tạm đủ. Soạn giả hy vọng tập sách nhỏ bé, khiêm nhượng nầy, có thể giúp ích phần nào. cho quí vị.
Phật học vốn như biển cả, rộng mênh mông. Khi “vô tư thắc mắc thì tùy duyên chúng ta có thể chia xẻ, giải tỏa với nhau được”. Nhưng khi “cố ý thắc mắc” thì chúng ta không thể nào giải tỏa toàn diện.
Vả lại, chỉ cần soi sáng, giải tỏa một phần nào, để hiểu thôi, mà chúng ta chưa chắc đã thực hành hết.