Những thắc mắc có thể có, của người học Phật

(Cư sĩ Tuệ Lạc trình bày trong buổi pháp thoại đầu năm, tại Tịnh Thất LIÊN HOA, do Ni Sư Thích Nữ Huệ Âm trụ trì, quận 7, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam).

——————–

Trước tiên, chúng tôi xin bàn về “ngữ vựng” một chút. Trong đề tài nêu trên có chứa 2 chữ “Học Phật”. Nếu chúng ta đảo ngược (hay hoán vị) 2 chữ nầy, chúng ta sẽ có một danh từ rất quan trọng là “Phật Học”. Đó là 1 trong 3 thuật ngữ của nhà thiền, gọi là Phật giáo, Phật học, và Đạo Phật.

Mặc dù 3 thuật ngữ ấy nằm ngoài đề tài hôm nay, nhưng nhân tiện, chúng tôi cũng xin trình bày sơ qua ý nghĩa của chúng, để “xác định” ngữ vựng.

*Thứ nhất, Phật giáo là những gì được xem là lời dạy của Đức Phật. Giáodạy. Nói đến Phật giáo là nói đến những gì Phật dạy, nằm trong Tam Tạng Kinh Điển, được các đại tông đồ Thánh Tăng kết tập. Ngoài Tam Tạng Kinh Điển ra, không thể gọi là Phật giáo.

*Thứ hai, Phật học là sự nghiên cứu rộng rãi hướng đến xiểng dương Phật giáo. Những gì nằm trong hay ngoài Tam Tạng Kinh Điển, nhưng rất phù hợp, hay không đối nghịch với nội dung Phật ngôn, đều có thể xem là Phật học. Tầm Phật Học do đó rất rộng, có thể bao gồm sự khảo sát những lý thuyết thuộc mọi lãnh vực, trong văn minh nhân loại, không phân biệt nguồn gốc, khuynh hướng, chủng tộc, hay tôn giáo.

Chẳng hạng như trong sinh hoạt Phật học, chúng ta cũng có thể phân tích những câu ca dao, thuộc văn chương bình dân Việt Nam, như sau :

Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng,

Nhụy vàng bông trắng lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn !“.

Mấy câu thơ trên đây, chúng ta nào tìm thấy trong Tam Tạng Kinh điển, nhưng ý nghĩa của nó, ám chỉ sự hướng thượng, sự “vô nhiễm”, rất thực tế và Phật học !

*Thứ ba, Đạo Phậtsống theo lời Phật dạy, nghĩa là thực hành đúng Phật ngôn. Chúng ta thường nghe nói đạo con đường. Nhưng một không gian có chiều dài, mà chẳng thấy ai đi trên đó, để đến một mục tiêu, thì không gọi là “đạo” hay con đường được. Tiếng Phạn (Pali), ngôn ngữ Phật nói ngày xưa là Marga hay Magga, thoát dịch là đạo, con đường có người đi, ám chỉ sự thực hành. Do đó, sống đạo là hằng ngày đi trên con đương mà Phật đã đi, hay đạo Phật.

***

Bây giờ quay lại đề tài chính hôm nay, là :

“Những thắc mắc có thể có của người học Phật”.

 

Trước tiên, thử phân tích ý nghĩa 2 chữ “thắc mắc” :

Thắc” là siết lại, bóp nhỏ, làm chậm cái dòng chảy ngầm bên trong. Ở đây ám chỉ dòng chảy tư tưởng. “Thắc” lại dòng chảy tư tưởng, tức là trong sự suy nghĩ đang có vấn đề, không thể để nó đương nhiên thông qua như trước được.

Mắc” vốn là âm thanh “thượng trắc” của chữ “Mặc”. -Mà “Mặc” có nghĩa là không nói, nín thinh trước một đề tài, trước một “niềm tin”, đang cảm thấy có chỗ không ổn, không xác chứng. -Như vậy, “Mắc” có ý nghĩa tương đương với chữ  “Mặc”, dùng trong các từ ngữ như sau, “mặc niệm”, “mặc nhận”, “mặc khải”, “mặc nhiên”, “mặc định”..v..v…

Kết hợp ý nghĩa hai chữ “thắc” “mắc” lại, chúng ta thấy nội dung từ ngữ “thắc mắc” ám chỉ sự im lặng, sự tự mình nín thinh để đặt lại vấn đề, hay sự tự mình nêu nhiều câu hỏi, cho chính mình, trước một quan điểm đang phổ thông nào đó.

Thắc mắc” nhiều khi có thể làm lung lay niềm tin của một người. Vì vậy, phân tích hay soi sángmột thắc mắc cũng là một điều cần thiết.

Nhưng hãy bình tâm lưu ý, thắc mắc của người tu Phật không có nghĩa là bác bỏ toàn bộ những gì chúng ta đã chấp nhận. Trái lại, thắc mắc chính là tìm cách soi sáng, để đả thông, và củng cố niềm tin, mà Phật giáo gọi là chánh tín.

Ngoài ra, trong một chừng mực nào đó, thắc mắc cũng có nghĩa là “tò mò”, một trong những động cơ đưa đến khám phá ra, hay phát minh được những điều độc đáo.

Dòng tư duy của con người cũng giống như dòng nước. Hễ nó gặp chỗ trũng thì tự động chảy xuống đó, để tìm sự thăng bằng. Còn dòng tư duy của chúng ta cũng vậy, khi gặp bế tắc (tức là có “co rút” trong sự hiểu biết, tạo ra “lỗ hổng”) thì nó sinh thắc mắc để “trám vào” khoảng trống không thoã mãn, hầu tư duy được lấy lại quân bình trong hệ thống trí óc.

***

Trí độ.

 

Sự tư duy của con người là “sản phẩm” của một bộ máy phức tạp, gồm thể xác và tinh thần. Thể xác ảnh hưởng mạnh mẽ đến tinh thần, nhưng tinh thần trong sạch cũng có khả năng “điều khiển” thể xác. -Khi tinh thần an định, lành mạnh, vượt thắng được những đòi hỏi thấp hèn của thể xác, thì đó là “trí độ”, một tiềm lực quí báu trong tinh thần của mỗi con người..

Đức Phật Thích-Ca, trước khi viên thành quả vị Toàn Giác, Ngài đã trải qua rất nhiều kiếp tu hạnh trí tuệ. Và một trong những “pháp hành” của trí tuệ là sự nghi ngờ, thắc mắc, hay tìm cách soi sáng những điểm không hợp lý.

Theo kinh Chánh Giác Tông (Buddhavamsasutta) thì Bồ-Tát (Bodhisatva) có 3 hạnh, là Trí tuệ,Đức tin,Tinh tấn. (Như đã nói trong “Vài lời thưa” phía trước).

Vả trong hai nguồn kinh điển Phật giáo, Nam truyền (chữ Phạn, Sanskrit-Pali) lẫn Bắc truyền (chữ Hán), chúng ta đều nhận thấy kinh Bác Nhã (Prajna Sutra=Pannà Sutta) hay kinh Tâm Minh (Vijjà sutta) rất được đề cao.

Vậy chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa nguồn gốc, của hai ngữ căn “Prajna” (hay Pannà) và “Vijjà” là gì.

PRAJNA gổm 2 “ngữ căn” ghép lại là Praj Na (viết có dấu ngã trên chữ N) :

-Praj có nghĩa là xuyên qua, thấu đến, thông suốt, tường tận, không bị che mờ, hay không bị ngăn ngại.

Na (với dấu ngã trên chữ n) có nghĩa là biết rõ, hay trí thức.

-Tổng hợp hai ý nghĩa trên, Prajna (Bắc Phạn), hay Pannà (Nam Phạn với hai dấu “ngã” trên hai chữ “n”), thì chúng đều có ý nghĩa là tri thông, biết suốt, không bị bất cứ cái màng vô minh, dục vọng nào che áng.

-Prajna (=Pannà) cũng là nền tảng của Trung Quán Luận, sách do “Học giả” Long Thọ (Nàgarjuna), truyền thống Bắc Truyền để lại, hay Trí Độ Thư vậy.

-Người ta còn ví “Trí Độ” như “con thuyền linh diệu” đưa người trầm luân qua biển khổ, vì đã si mê tự mình làm khổ mình, bằng tạo “biệt nghiệp” và “cộng nghiệp” (ác hay thiện). Đó là Thuyền Bát Nhã (Prajnayana) !

 

Trang trước                                                                                  Trang tiếp