Người tu Phật, học và hỏi với mục đích để soi sáng, giải tỏa tư tưởng, phá nghi, chứ không phải học và hỏi để tranh luận hơn thua, vì học và hỏi để soi sáng, giải nghi, thì kết quả sẽ giúp chúng ta hành động tự tin, giảm được tham sân si, tiến bộ, và giải thoát.
*Ngược lại, nếu gọi là “Phật tử”, mà học và hỏi để tranh luận hơn thua, biện bác đủ cách, cố áp đặt ý kiến riêng, thì sự học và hỏi ấy vốn từ lòng tham. Kết quả sẽ chỉ là gia tăng thắc mắc, gia tăng sân si, dẫn tới xung đột cá nhân lẫn cộng đồng, oan trái, sa đọa, và luân hồi !
Vài lời thưa.
Tôi từ tuổi niên thiếu đã được cha mẹ dẫn vô chùa, cho gia nhập “Sinh Hoạt Gia Đình Phật Tử Hóa Phổ”, đến nay ngoài 70 tuổi, tôi vẫn không ngừng học hỏi Phật Pháp. Tôi cũng đã xuất gia đi tu một thời gian, để “Đền ơn song đấng sinh thành, và “gieo duyên lành với Đạo Phật“. Sau đó, tôi có dịp du học Phật giáo tại Ấn Độ và vài môn khác ở Tây phương.
Hiện tại, tuy đã qua khỏi tuổi “thất thập cổ lai hy“, nhưng thú thật, tôi chẳng cảm thấy mình “cổ lai hy” chút nào. Tôi càng không dám nói đến ba chữ “tri thiên mệnh”! Còn Phật học thì tôi chẳng bao giờ cảm thấy mình được “thông hiểu” giáo lý một cách đúng nghĩa !
Tôi vẫn chọn Đạo Phật như lối sống duy nhất, không một tôn giáo nào có thể thay thế được. Nhưng như thế không có nghĩa là tôi tin tưởng bất cứ lý thuyết gì trong sách vở, ngày nay gọi chung chung là Phật giáo.
Tôi nhớ rõ kinh Alàma Kàlàra, Đức Phật đã chẳng dạy : “Có 10 điều không nên vội tin hay vội bỏ”. -Và tiếp theo, Ngài còn lược giải “Lời dạy nào, sau khi nghe, phân tích, suy gẫm, thực hành, mà hậu quả vô hại, không oan trái. Người thực hành cảm thấy thân tâm an vui, tự tại, tin tưởng, sáng suốt, thí đó là lời của chư Phật“.
Tôi tôn kính Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni vô cùng, vì “câu lược giải” nầy. Nhờ nó mà tôi được gia tăng niềm tin. Tôi không thể nghi ngờ một giáo pháp, đã dựa trên thực hành, kiểm chứng (dù chỉ là tương đối), và xem ấy là con đường hướng thượng do Chư Phật để lại.
Và theo Chánh Giác Tông (Buddhavamsa), hay kinh nói về Tam Hạnh Bồ-Tát, thì Đức Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Muni), trước khi viên tròn Thập Độ Ba-La-Mật (Pàramità), để thành Phật, Ngài đã trải qua vô số kiếp tu trì hạnh trí tuệ, nên giáo lý của Ngài phải là giáo lý của sự soi sáng, của trí tuệ, có đặc tính vẹt sạch màng vô minh, phá tan ngu dân, trong mọi lãnh vực, nhất là 3 lãnh vực pháp hành do thân, do khẩu, và do ý. –Chung kết của những lãnh vực ấy là niềm tin chân chánh.
Xin nhắc sơ lại 3 hạnh Bồ Tát (Bodhisatva) ấy là :
1/Hạnh trí tuệ (Pannàdhika),
2/Hạnh đức tin (Saddhàdhika), và
3/Hạnh tinh tấn (Viriyàdhika).
–Cần chú ý rằng, khi 1 trong 3 hạnh tu nầy được Bồ Tát tình nguyện gìn giữ, làm pháp hành chính yếu, thì 2 hạnh kia là 2 pháp hành hổ trợ, chứ không phải mỗi hạnh là một pháp môn độc lập, riêng rẽ, không có liên quan gì đến 2 pháp hành kia.
Phật giáo ví như biển cả, chỉ có một vị duy nhất là “vị mặn”. Vị mặn ấy có thể vô hiệu hóa tất cả các thứ độc khi hòa tan trong đại dương. -Và “Vô hiệu hóa các thứ độc” ở đây, ám chỉ một sự thực phổ thông rằng : Khi một người bị bệnh ngoài da, nếu thường xuyên tắm biển thì sẽ khỏi.
Ngụ ngôn nầy cũng nói lên tính giải trừ phiền não khi người tin Phật “tắm gội” trong giáo lý Phật Đà hằng ngày.
Vả không khéo sẽ có người thực thà bảo rằng : “Tôi đã từng ra biển, lần dò và ngâm người trong nước, để tiêu trừ các bệnh tật trên mình. Tôi biết được sự kỳ diệu từ vị mặn, của nước biển trong đại dương. Sự kỳ diệu đó tỷ lệ với bề dày như chiều cao của tôi ! (-Là 1,9m chẳng hạng)…..
Họ nói vậy với tất cả sự thực thà, tự mãn (nếu không muốn nói là tự hào), trước một người khác làm tương tự, nhưng chiều cao của người ấy chỉ là 1,7m, tức là “kém sâu” thua họ !
Nhưng khi cả hai nhìn lại, thấy chỗ biển họ đang ngâm mình, nước xanh vẩn đục, vì gần bờ, xung quanh lại có nhiều rác rến, dơ bẩn. Họ bèn rủ nhau bơi ra xa, ngâm mình trong vùng nước xanh biếc, tươi mát, tinh khiết. Chừng đó họ mới biết rằng, vị mặn “khử trùng” của nước biển tuy “như nhau”, nhưng phẩm chất trong đục lại khác nhau.
Cả hai đồng thời cũng thấy rằng, những cái bình thường đứng trên bờ vẫn xem là to lớn, “vĩ đại”, tự nhiên bây giờ cách xa bờ chẳng bao nhiêu, chúng đã trở thành nhỏ lại, so với bể cả. Và người nào cũng tự “giác ngộ”, không dám vỗ ngực bảo rằng, tôi biết chiều sâu nước biển dưới đôi chân tôi đang lội, là bao nhiêu. Chuyện 1m9 hay 1m7, bây giờ quả thật không còn ý nghĩa để đặt ra nữa.
Qua ngụ ngôn tự thân nghiệm chứng trên đây, chúng ta có thể cảm thấy rằng, càng học Phật bằng lý thuyết bao nhiêu, thì kiến thức (hay bề dày Phật học) của một người dù “thâm niên” đến đâu, cũng chỉ càng nằm trong tương đối bấy nhiêu.
-Lý thuyết không bao giờ nghiệm đúng, hay soi sáng được thực tế một cách hoàn toàn !
Do đó, phàm nhân học Phật qua lý thuyết, có nhiều thắc mắc trong thực tế, là một điều không hể tránh được. –Ai chưa hành đạo, chưa chứng nhập được vào Thánh Lưu, mà không thắc mắc, thì kẻ ấy mới là kẻ có vấn đề !
Trên đây là lý do khiến chúng tôi không ngại mình chưa thực sự thông suốt, mà dám trang trải ra đây, những gì chính chúng tôi đã “thắc mắc” và được tạm giải tỏa, sau một thời gian kiên nhẫn nghiên cứu giáo lý Phật đà, bằng pháp hành.
-Gọi là “tạm giải tỏa” vì chắc chắn nó chưa hoàn toàn !
Những ai bảo thủ và cực đoan, có thể hiểu lầm và trách móc chúng tôi rằng : –“Tại sao chúng tôi không tin tất cả những gì viết trong sách vở, gọi là truyền thống “ngữ lục” (hay do chư tổ lưu truyền), và “dám diễn giải Phật học một cách khác người xưa” (!?), thì chúng tôi đành chịu, và thành thật xin lỗi, cũng như cám ơn sự nhắc nhở khó tránh được của họ.
Chúng tôi xin cam kết hoàn toàn không dị ứng trước sự trách cứ, hay bất đồng ý kiến nào, và xin sẵn sàng thảo luận, để soi sáng, học hỏi.
Cuối cùng, kính chúc quí vị thân tâm thường an lạc và nhất là vô tư, để đọc qua những trang tham luận khiêm nhượng nầy.
Nay kính
Tuệ Lạc (Nguyễn Điều)
(Sài Gòn, tháng 01/2013)