Dạng thứ năm của thuyết nghiệp quả là 4 hướng trình, có thể kê khai như sau :
1/ Vô minh thì hướng đến hành,
2/ Thức thì hướng đến danh sắc, lục nhập, xúc, và thọ,
3/ Ái, thủ, và hữu thì tương hướng lẫn nhau,
4/ Sanh tử của phàm tình thì hướng đến vô minh (tức là vô trí giác ngộ, vô phân biệt).
Bốn hướng trình vừa nêu cũng là sự lập lại pháp hành của 12 khoen trong thập nhị nhân duyên. Nhưng chúng được chia làm 4 hướng trình theo hợp lý triết học. Ba trong bốn hướng trình nầy (số đánh 2,3,4), khi diễn giải thì cũng giống như sự diễn giảng của thập nhị nhân duyên, chỉ khác ở chỗ : Vô minh là một pháp hành bất thiện vô cùng đặc biệt. Nó là nguồn ảnh hưởng trực tiếp của sinh tử, nên chúng ta cần chú ý pháp trạng (vô minh) nầy.
Như trên vừa nói, Vô minh là cận hướng giữa sinh và tử, của luân hồi phàm nhân. Đó là tình trạng hoàn toàn vô trí (Avijjā), vô phân biệt, bất định thiện ác, lẫn lộn chính tà…..
Vì vô minh mà tâm thức nhìn cảnh khổ được sống thành cảnh vui, nhìn sự nắm giữ cái hại ra cái lợi, nhận giả tướng làm thật tướng, tin vào tình trạng của hợp tan là tình trạng thường hằng. Khi tâm thức bị vô minh bao phủ rồi thì sự sáng suốt của ý thức trở thành bất lực.
Ví như vì vô minh, người ta tin tưởng rằng « đầy tiền tài danh vọng thì tuyệt đối cái gì cũng có« , thậm chí người ta còn nói « có tiền mua tiên cũng được ». Nhưng người ta quên rằng tiền tài danh vọng nào mua được tuổi xuân, hay tiền tài quyền lực nào mua được sức khỏe khi chân mỏi gối dùn, hoặc danh vọng tiền tài nào mua được mạng sống lúc hấp hối ?
« Có tiền mua tiên cũng được », câu tục ngữ phổ thông ngắn gọn nầy, được xem là có ý nghĩa thực tế nhất trong xã hội vật chất ngày nay. Nhưng vấn đề đáng đặt ra, là « tiên » trong câu tục ngữ nêu trên, ám chỉ cái gì ? Phải chăng « tiên » ám chỉ chung cho tất cả các cái đẹp, thích hợp với ngũ dục trong thế gian vô thường, hay « tiên » ám chỉ cảnh thiên giới tương đối ít đau khổ hơn cõi người ?
Nếu « tiên » chỉ là những cái thỏa mãn, dành cho ngũ dục (sắc, thinh, hương, vị, xúc), thì « tiên » ấy chắc chắn chẳng có giá trị gì nhiều, vì luật vô thường hằng làm cho mọi « thỏa mãn » trần gian chóng qua. Còn loài người thì vốn có ý chí hướng thượng, nên cuộc sống mà thiếu cái đẹp của tinh thần, thiếu đạo đức (hay luân lý), theo bất cứ khuynh hướng nào, thì sự thỏa mãn nhục dục, dù cao độ đến đâu, cũng không thể làm cho ý nghĩa của chữ « tiên » tròn đủ được. Từ đó người ta xếp loại « nét đẹp tinh thần (tiên) được xem là cái đẹp cao hơn thỏa mãn vật chất ».
Thế nhưng có lắm người tuy không phủ nhận giá trị tinh thần, song họ vẫn dễ ngươi, tin chắc vào mãnh lực danh vọng tiền tài, mà họ gọi là « thực tế ». Họ nghĩ rằng « danh vị (hay quyền lực) và tiền muôn bạc bể vừa có thể thực hiện được nhiều điều tốt (như bố thí, giúp người chẳng hạn), vừa tránh được ít nhất là 2 tội, như sát sinh và trộm cắp ». Họ lý luận vì giàu sang quyền thế nên thực phẩm, y phục, chỗ ở, xe cộ di chuyển, v.v… đã có kẻ ăn người ở trong nhà lo cho. Hai ác nghiệp sát sinh và trộm cắp sẽ không có dịp để họ vi phạm (?).
Họ còn đặt châm ngôn rằng : « Hãy xem danh vọng tiền tài như người đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ xấu », hay « đừng làm nô lệ cho danh vọng tiền tài »,v.v…
Trên lý thuyết thì như vậy, nhưng trong thực tế thì khi vướng vào có đến hơn 99% nhân loại, xem « danh vọng tiền tài không phải là người đầy tớ tốt, mà chính là ông chủ toàn năng (xấu), và chưa được 1% xem danh vọng tiền tài là người đầy tớ tốt ». -Nếu tiền tài, danh vọng có thể dễ dàng trở thành « người đầy tớ tốt » thì thái tử Sĩ Đạt Ta ngày xưa đã không từ bỏ ngôi báu, cung vàng điện ngọc, và quyền lực, để trở thành kẻ không vướng mắc, mà tìm phương cứu khổ cho nhân loại, chúng sinh.
Đây chính là điểm chúng ta phải suy gẫm ! Suy gẫm để không cực đoan ôm cứng những gì gọi là « thực tế ». Càng không phải suy gẫm để chối bỏ thực tế, bỡi vì chối bỏ phúc lộc như thế, khi nguyện lực Bồ Tát xả thân của chúng ta chưa vững chắc, chưa tròn đầy, là tự gạt mình. Ở đâu cũng có trung đạo cả. Đối phó với thực tế và lòng tham cũng vậy thôi !
Nghĩa là người tu Phật tại gia không nên bồng bột chủ trương tiêu cực, tránh đời, chẳng cần danh dự, hay tiền bạc gì cả. Trái lại, người tin Phật phải sáng suốt, tinh tấn, siêng năng hoạt động, sống vui tươi, tích cực… trong sinh động thiện nghiệp, và trong chánh mạng.
Nói cách khác, người Phật tử sống theo chánh nghiệp và chánh mạng, nhờ nhân lành kiếp trước, có thể trở thành giàu sang, quyền thế, nhưng họ không xem danh vọng tiền tài là nguồn gốc tuyệt đối của hạnh phúc. Trái lại, trong ý niệm thanh tịnh, họ chỉ xem nó tương đối, và cảnh giác, coi chừng nó có thể là nguyên nhân, lôi kéo họ rơi vào vòng say đắm hưởng thụ, tạo nhiều ác nghiệp, dưới những dạng khác nhau. Hãy nhớ lại gương sáng của đệ nhất thiện nam thời đức Phật, ông Bá Hộ Cấp Cô Độc (Anāthapindika). (Mời quí vị tìm đọc cuốn « Sự Tích Tu Đà Cấp Cô Độc », cùng soạn giả).
Hơn nữa, người Phật tử biết sống đạo, cũng không cầu an, dẹp hẳn lòng tham, bỏ mặc gia tài sự nghiệp suy đồi, sụp đổ, tiêu tán. Trái lại, họ rất thanh tịnh, tích cực gìn giữ, sáng suốt phát triển một cách không dính mắc, để xử dụng thường xuyên theo chánh kiến, theo chánh tư duy, hợp lẽ đạo, cho mình, cho người, và cho toàn xã hội, càng nhiều càng tốt.
Đồ biểu Bốn Lược Trình
1- Vô minh è Hành
2- Thức, Danh Sắc è Lục nhập
Xúc
Thọ
3- Ái è Thủ è Hữu
Vô minh
4- Sinh è Tử è Vô Trí
Không phân biệt