Thuyết nghiệp quả qua dạng 20 sức đẩy.

Hai chục sức đẩy là dạng thứ tư trong thuyết nghiệp quả. Chúng mô tảnhững « động cơ tương tác » giữa 12 khoen của một vòng Thập Nhị Nhân Duyên, thuộc bất cứ chu kỳ luân hồi nào, dù đã đến (« quá khứ ») hay chưa đến (« vị lai »). Dĩ nhiên là 2 chu kỳ nầy nối liền ở hai đầu của chu kỳ luân hồi hiện tại.

Như vậy, hiện tại đối với quá khứ, hay đối với tương lai phải được trình bày mỗi lần qua một cặp 2 chu kỳ liên quan, như hiện tại với quá khứ, và hiện tại với tương lai.

Nhưng trưng ra 2 lần hình vẽ, mà ám chỉ cũng chừng ấy việc, nên chúng tôi trình bày đơn giản, bằng một đồ biểu chung, xem đó là tương quan 2 vòng « hiện tại vị lai », hay 2 vòng « hiện tại quá khứ » vẫn được.

Mỗi chu kỳ với 7 khoen thụ tác nằm riêng và 3 khoen chủ động nằm chung. Ba cộng với bảy thành mười (nhân duyên), chưa kể sinh và tử. Vì sinh và tử chỉ là 2 hiện tượng « nhân quả » và « quả nhân », bị thúc đẩy tiếp cận lẫn nhau, chứ sinh và tử tự nó chẳng phải là « động lực ». Động lực vật thể trực tiếp của sinh và tử là lão và bệnh.

Xem trình bày 20 sức đẩy sau đây :

 

20 Sức đẩy

7-Thọ

6-Xúc

5-Lục nhập

4-Danh Sắc           1-Vô minh

3-Thức                     2-Hành

10

NHÂN               QUẢ

Như đã nói trên đây, chu kỳ nào cũng gồm 12 khoen, bắt đầu từ vô minh đến sinh, tử. Nhưng sự liên quan giữa 2 chu kỳ được trình bày (qua 20 sức đẩy) ở đây là « quá khứ » và hiện tại, rồi hiện tại và «vị lai», nên 3 khoen chủ lực ái, thủ, hữu của chúng đóng vai 3 động cơ « chung » giữa các chu kỳ quá khứ vào hiện tạihiện tại đến tương lai.

 

Nói cách khác, trong phương trình liên quan, giữa một cặp 2 chu kỳ luân hồi « quá khứ và hiện tại », hay « hiện tại và vị lai » với hiện tại là mẫu số chung, 3 khoen ái, thủ, hữu là ba « động cơ » cho cả vòng nầy lẫn vòng kia, của hai chu kỳ luân hồi.

Ba « chung »bảy « riêng » (như nói trên) cộng lại thành mười. Mà một cặp có 2 vòng luân hồi thì bài toán phải là 10+10=20. Hai mươi vì chưa kể hai vòng luân hồi gồm 2 lần tử và 2 lần sinh cộng thành 24. Tức là tương đương với 2 vòng thập nhị nhân duyên vậy (12+12=24).

Tóm lại, « 20 sức đẩy » trong thuyết nghiệp quả cũng là một cách trình bày dị dạng của 2 vòng thập nhị nhân duyên, hay 2 vòng thập nhị nhân duyên được lập lại và trình bày dưới hình thức khác, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 7 khoen thụ động, và 3 khoen tích cực, qui vào (=nối vào) hiện tại.

Nghĩa là trong 20 sức đẩy của thuyết nghiệp quả, có 3 khoen ái, thủ, hữu là 3 tiềm lực nòng cốt (hiện thân của lòng tham, hay thức ham sống) thì đáng chú ý nhất. Bộ ba nầy là 3 « động cơ » kéo các « toa » nhân duyên kia đi tới.

Trong 2 khung lớn trên, tôi viết trong mỗi khung tên 10 khoen nhân duyên theo số thứ tự nằm 2 bên một khung nhỏ, có tên 3 khoen chung ái, thủ, hữu ở giữa.

Trang trước                                                                                              Trang tiếp