Bây giờ đến cái « dạng thứ hai » là Thuyết Nghiệp Quả qua ba thời. – « Thời » ở đây ám chỉ các diễn biến nối tiếp nhau, hay thời gian. So sánh với dạng thứ nhất vừa nói, là Thập Nhị Nhân Duyên (gồm 12 «khoen»), thì dạng thứ hai nầy tuy có vẻ « đơn giản », chỉ chia làm « ba giai đoạn » ước định, gọi là quá khứ, hiện tại, và vị lai. Nhưng nó là cái pháp hành không đầu không đuôi, không thời nào là thời cố định, hiện tại và tương lai cứ đổi tên, và chảy mãi vào trong quá khú, chẳng dừng và chẳng có điểm chung. Trong pháp hành tiến hóa và thoái hóa, «ba thời» dễ làm cho người ta lúng túng !
Và khi đối chiếu « thời » với dạng thứ nhất, qua hai hiện tượng sinh tử xoay vần, xảy ra theo chu kỳ, chúng ta lại nhận thấy nó tương quan rất nhiều với 12 khoen của vòng luân hồi, nhất là sự tương đồng với 12 cung tiếp nối trên dòng thời gian, biểu thị nơi mặt đồng hồ. Hình thức 12 khoảng cách đều đặn (trên mặt đồng hồ) ấy cho chúng ta có khái niệm «ấy là 12 giờ».
Nhưng thông thường, khi nói về thời gian, người ta không tượng trưng nó bằng một đường cong lập thể, như trên mặt đồng hồ, hay bằng cái chu kỳ tuần hoàn, chứa ngày, giờ, năm, hay tháng (vòng của quả đất), mà người ta lại tượng trưng tổng quát nó, bằng ba giai đoạn nối tiếp nhau, trên một đường thẳng, là quá khứ, hiện tại, và vị lai, rồi gọi là ba thời.
Nếu thời gian vẽ theo đường thẳng, thì nó « VÔ THỦY« (quá khứ) và « VÔ CHUNG« (vị lai), và không ai biết,. Nó tương ứng với Vô Minh, tượng trưng bằng 2 dấu « hỏi » nằm ở hai đầu, như dưới đây :
(?)<<<<<quá khứ – hiện tại – vị lai>>>>>(?)
Nhưng khi vẽ thời gian theo hình cong, thì Vô minh là kiến chấp, ái dục, muốn quay lại, tạo ra luân hồi… Thành thử các bậc Giác Ngộ biết rõ đâu là khởi đầu và đâu là chấm dứt vònh sinh tử (=Niết Bàn), như sau :

Vòng luân hồi tượng trưng bằng 12 giờ
Thời gian là di quả của Ái và Hửu
12 khoen nhân duyên tương đương với 12 giờ.
Mọi người đều không hiểu tại sao, thời gian ghi trên mặt đồng hồ là một đường cong (vòng tròn), mà thời gian của ba thời (quá khứ, hiện tại, và vị lai) vẽ trên giấy, hay trong trí nhớ con người lại bị « cảm tưởng« là nó nằm trên một đường thẳng, nhất là đường thẳng ấy vô thủy vô chung, chẳng giúp cho tâm thức của con người có khái niệm nào rằng, nó đã bắt đầu từ đâu và sẽ chấm dứt ở đâu (!).
Đây là một hiện tượng gây lệch lạc tư duy, đưa đến lúng túng kiến thức, bí lối hiểu biết, vô cùng nghiêm trọng. Hiện tượng nầy hằng hướng dẫn tâm trí con người xa rời chu kỳ thời gian thực tại. Và cũng vì tâm trí xa rời chu kỳ thời gian thực tại, nên loài người cứ tiếp tục sống với hai tình trạng hoang mang, là « sau lưng (=quá khứ), và trước mặt (=tương lai) mù mịt« .
Người ta muôn đời há đã chẳng thắc mắc về thủy chung của thời gian : Không biết quá khứ liên quan đến luân hồi đau khổ đã bắt đầu từ đâu, và tương lai có thể có thật pháp giải thoát chăng ? Và nếu có, thì Thật Pháp giải thoát ấy trong tương lai sẽ chấm dứt vòng luân hồi ở điểm nào ?
Nhưng Phật Giáo với tiềm năng soi sáng và phục hồi tuệ giác đã nói rõ : Quá khứ vốn nằm trong hiện tại, Nó là « xương sống » của hiện tại, rằng trước khi trở thành quá khứ nó hẳn đã là hiện tại. Rồi tương lai cũng thế. Tương lai chính là thực tại, nó không phải là cái gì độc lập, sinh ra sau thực tại, mà nó chính là « cái bóng » của thực tại đang ngả về đàng trước, đang ngấm ngầm tiếp diễn, được lòng tham, và vọng niệm làm cho hùng hậu thêm.
Nói một cách rõ ràng hơn : Tương lai là hình bóng chiếu lệch của thực tại, qua tấm gương cố chấp. Nhưng vì tâm thức nhân sinh mất định hướng, nên ý niệm thực tại không như thị. Nó chẳng nhận ra được hiện nghiệp của chính nó. Rồi « Nó » thèm tạo mới hiện nghiệp, và nâng cấp theo ý muốn, bằng đôi mắt khao khát, dưới một góc độ ngã tín do vô minh hổ trợ. Và vì ngã tín (=mê mờ), nên nó tự ý tô điểm, hay mặc « đồ mới » cho hiện nghiệp, với những từ ngữ hoa mỹ trong tư duy mơ ước khá hấp dẫn, như « lạc quan hướng về tương lai », như « ngày mai trời lại sáng » chẳng hạn. Nhưng những « đồ mới » để tô điểm tự ngã ấy vốn nằm trong kho « đồ cũ » vô thường của chính nó, mà tâm không định thực tại bị quay cuồng, chẳng phân biệt.
Kho chứa những cái tưởng là « đồ mới » ấy, nếu dựa vào khoa Phân Tâm Học ngày nay, chúng ta có thể xem tương đương với tổng hợp của tiềm thức (Sub-concience) và vô thức (Non-concience). Còn trong Phật Giáo thì có hai danh từ chuyên biệt hơn, là « tâm hộ kiếp » (=Patisandhicitta, theo Vi Diệu Pháp, Phật Giáo Nguyên Thủy), và « Thức Mạt-Na A-Lại-Da » (=Thai Tạng, theo Phật Giáo Bắc Tông).
Khi tâm tham vọng tưởng, mơ ước có một thực tại mới trong « tương lai », thì pháp hành của cái mà chúng ta gọi là ngày mai (tương lai) chính là nội dung của hiện tại. Và tự trong căn bản ấy, đến ngày mai và suốt « ngày ấy » người ta vẫn sống với thực tại, đồng thời người ta vẫn gọi trọn thời gian « ngày mai » đó là…. »bữa nay ».
Nhưng lý do nào thúc đẩy con người vô ý thức tự lừa mình bằng cách nghĩ, lẫn nói rằng : « Chờ một ngày mai tươi sáng (tự nhiên ?) » (khó bao giờ đến), thì không ai biết, nếu người ta chưa học, hiểu và thực hành lời Phật dạy.
Như thế, trong ba giai đoạn thời gian (quá khứ, hiện tại, và vị lai) ấy, chỉ có hiện tại là chân thật. Còn « quá khứ » lẫn « tương lai » vốn là hai ý niệm giả định, tạm dùng. Chúng là con đẻ của cái khối chấp kiến, tích tụ, nẩy nở không ngừng, do tham muốn, sân hận, si mê dây chuyền làm nền tảng. Và người ta chỉ « nắm bắt » được phần nào hai ý niệm ấy trong « tư duy », chứ không phải trong thực tế đời sống.
Vả lại, Phật Giáo đã thuyết minh rằng : « Điểm khởi đầu » của quá khứ vô thủy, đưa đến luân hồi bất định, và « điểm chấm dứt » của giải thoát đau khổ ở tương lai vô chung, vốn nằm trong thánh định hiện tại. Chỉ có « hiện tại hết tham, sân, si, giác ngộ » mới thấy rõ khởi đầu và điểm cuối của vô số chu kỳ sinh tử ở đâu.
-Hay Hữu Dư Niết Bàn, qua chứng đắc viên tròn đạo quả A La Hán, chánh đẳng chánh giác mới chính là cái thước tấc đo đúng « chiều dài thủy chung » của thời gian luân hồi, để một Thánh Tâm vượt ra khỏi tam giới !
Nói cách khác, thực tại nào còn bị chấp kiến che mờ, còn nằm trong khung tư tưởng loạn lập, còn phủ đầy những hiện tượng, khái niệm, kinh nghiệm, đối đãi, đổi thay, vô thường, thì đó gọi là dòng thời gian chứa đầy quá khứ và tương lai, là hạn cuộc, là có trước, có sau. Còn thực tại nào tháo sạch tất cả những xiềng xích nêu trên, thì thực tại đó là vĩnh viễn. Và ấy chính là thực tại Niết Bàn.
Phật Giáo phủ nhận lý thuyết xem « hiện tại, quá khứ, và tương lai, là ba giai đoạn tái tạo riêng biệt ». Hay Phật giáo cũng phủ nhận « quá khứ cùng hiện tại, đã và sẽ chấm dứt, để bắt đầu một tương lai hoàn toàn khác, được thượng đế chủ trương, theo « luật » toàn năng thưởng phạt, hoặc quá khứ và hiện tại sẽ được đền bù, bởi trình độ tiến hóa vật chất, do cao vọng của nhân loại, như hai quan niệm thường kiến (duy tâm mù quáng) và đoạn kiến (duy vật cực đoan, nhân tạo thực nghiệm) ».
Thật ra, quá khứ và tương lai, nếu xưa nay được chấp nhận, trong tư tưởng của đa số, một cách mù mờ đi nữa, thì quá khứ và tương lai ấy vẫn có một đầu nối liền và bị ảnh hưởng hoàn toàn với và bởi hiện tại (tức thực tế trước mắt), còn đầu kia nối với vô thủy vô chung… hay không biết gì hết (vô minh) !
Trái lại, thực tại (hay hiện tiền), thì không bị hạn chế bởi một đầu nào cả, vì trước thực tại vốn là hiện tại, và sau thực tại vẫn là hiện tại. Ở đâu cũng có hiện tại cả, vì nó là thật pháp để soi sáng chính nó.
Khi chứng đắc, bậc Giác Ngộ tự nhiên sẽ « thấy » nó không bị ý niệm giả định « quá khứ, tương lai » nào ảnh hưởng cả. Người ta há đã chẳng nói : « Quá khứ thì đã qua, tương lai còn chưa đến, chỉ có hiện tại là thiết thực » đó sao ?
Xin chớ nhầm lẫn giữa tuệ giác hiện tại, (hay « hiện tại lạc trú« trong đạo Phật), với thái độ « chạy trốn quá khứ, chỉ sống duy thực tại thuần vật dục, (hiện sinh) tránh bận tâm hay quay lưng trước hậu quả của mọi chuyện mình làm ». Đây là khuynh hướng vô trách nhiệm, không dám đối diện với tội phúc giữa mình và người, đồng loại với đoạn kiến, lẫn thường kiến… Loại tư duy nầy rất nguy hiểm cho xã hội. Và người tư duy như thế chắc chắn sẽ sa đọa.
Quay lại « khái niệm » về thời gian, thử xét thêm hai từ ngữ giả định khác, là « hôm qua » (quá khứ ?) và « ngày mai » (tương lai ?). Hai danh từ nầy rất khéo đánh lừa sự suy nghĩ con người.
Suy xét trong thực tế chúng ta thấy : « Hôm qua » chẳng những là hiện tại của chính nó, mà nó còn được xem là quá khứ của hôm nay, rồi nó còn là tương lai của hôm kia, trước nó nữa. Và « ngày mai » cũng một cách tương tự : « Ngày mai » đương nhiên là hiện tại của chính nó, nhưng nó cũng là tương lai đối với ngày hôm nay, và là quá khứ của ngày mốt (đến sau nó).
Cứ thế, tật chấp kiến vào thời gian cho ta một lúc đến ba cái tên, trong đó có hai tên thuộc về giả tưởng, thuộc về pháp hành trong vọng thức, chỉ có một tên là thật. Đó là hôm nay, hiện tại. Còn hai tên kia «hôm qua» và «ngày mai» (quá khứ và tương lai) vốn không nhất định !
Có câu chuyện chơi chữ về thời gian, đã khiến cho một ít người bị gạt như sau : Một ông chủ nhà hàng, bỗng thực hiện cái ý nghĩ ngộ nghĩnh, gọi là « chọc cười thiên hạ », bằng cách cho treo trước tiệm của ông, tấm bảng, viết 5 chữ « MAI ĂN KHỎI TRẢ TIỀN ».
Kết quả, sáng hôm sau tiệm ông đầy thực khách, và người nào cũng kêu toàn những món ăn có hạng, thưởng thức thỏa thích. Ăn xong, họ lần lượt cám ơn chủ quán rồi bỏ đi. Nhưng chủ tiệm vội chận họ lại để đòi tiền, viện dẫn rằng : « ngày mai tới ăn mới khỏi trả tiền, chứ hôm nay thì quí vị phải thanh toán như thường lệ ». Các thực khách đuối lý, phải lần lượt trả hết, và cũng hiểu ra rằng « Sự ăn miễn phí trong ngày mai sẽ chẳng bao giờ đến ». Còn người chủ quán nhờ vậy, đã bán hết thực phẩm đã chuẩn bị vào sáng hôm đó. Buổi chiều y đóng cửa nghỉ.
Thế mới biết « không có sự hiểu biết (giác ngộ) nào, mà không phải trả bằng một cái giá đặc biệt (tương đương với đau khổ !) ». (Aucune connaissance n΄est acquise sans souffrance !)
Vì vậy trong đạo Phật, mới có phép tu Tỉnh thức, hay Thiền Minh Sát, ý thức rõ mọi thật tế nơi thân tâm, trong giây phút hiện tại, ngay cả phải tỉnh thức (Vipassanā) qua từng « sát na », để không bị vọng tưởng về thời gian lừa gạt, dẫn đi lạc hướng.
Đó là một pháp tu đưa đến thực chứng, giác ngộ giải thoát. Ai hành đạo, điều chỉnh, sống thiện thục được trong từng giây phút như thế (tức hiện tại lạc trú), là kẻ đã hóa giải thành công tất cả nghiệp quả của quá khứ, lẫn chấm dứt mọi nhân duyên đưa đến khổ đau trong tương lai.
Cũng vì hầu hết loài người, chưa có dịp học Phật, để nghiên cứu rõ ràng, và chưa thực hành thành công giáo lý nhà Phật, rồi luôn luôn bị lạc hướng trong quan niệm về thời gian (tưởng như một đường thẳng, có ba giai đoạn), nên họ đã bị bế tắc toàn bộ niềm tin trong tinh thần.
Chẳng hạn như vì chưa được soi sáng, thiếu hiểu biết qua tuệ giác, nghĩ « thời gian là một đường thẳng » (tức xem trước và sau khác nhau), nên hầu hết nhân loại luôn luôn thắc mắc rằng « Nếu mọi vật được sinh ra bởi một đấng tạo hóa, thì ai trước đó đã sinh ra đấng tạo hóa kia, và ai trước nữa, đã sinh cái đấng đã sinh ra tạo hóa ấy ? ». Cứ thế, những câu hỏi dây chuyền tiếp tục, cho đến khi nào người ta mệt mỏi, chán nản, hết muốn hỏi nữa, vì biết chắc không tìm ra câu trả lời cuối cùng, rồi chấp nhận sự bế tắc.
Họ cũng nào biết rằng trong Phật học có giáo lý « trùng trùng nhân duyên, trùng trùng luân khởi »: « Không có một cái gì tuyệt đối là nhân trước, cũng không có một cái gì tuyệt đối là quả sau, do một quyền năng chủ động sinh ra, mà tất cả phải do hội đủ nhân duyên phối hợp tương tác mới lập thành« .
Giáo lý nầy đã được đức Phật thuyết minh trước khi khoa học thực nghiệm bắt đầu. Và ngày nay các ngành khoa học tối tân đang phối hợp, để xác nghiệm rằng « không có một đấng tạo hóa toàn năng nào trước tiên chủ động vạn vật cả, chỉ có luật biến hóa theo linh hoạt từ trường (bản năng sống !) chi phối vạn vật mà thôi ».
Đức Phật đã chẳng dạy : « Ai sống lành mạnh, tiến hóa, thanh tịnh, đầy ý thức trong hiện tại, và không còn mắc dính với thân kiến qua từng sát na, là kẻ có thể chuyển hết nghiệp quá khứ và tiêu trừ hết khổ đau trong tương lai, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi« .
Thuyết nghiệp quả khi trình bày dưới dạng ba thời, tức là một cách nhắc lại cái chu kỳ, gồm 1 chân thực (hiện tại), hợp với 2 giả tưởng (quá khứ và vị lai), để có 3 « giai đoạn » mà nhân với 4 thực tế, là thành, trụ, dị, diệt (hay sinh, lão, bệnh và tử), lập ra chu kỳ 12 cấu kết thay đổi, vô thường.
Chu kỳ nầy vốn cũng là một vòng biến hóa khứ hồi, như Thập Nhị Nhân Duyên, chứ chẳng phải gì khác. Nhìn sâu hơn, chúng ta thấy 4 giai đoạn thực tế sinh lão bệnh tử nầy, là bốn vận hành làm phương tiện để tiến hóa trong chuyển kiếp, lồng trong ba thời, tương quan với 12 quan hệ nhân duyên, thuộc vòng thập nhị nhân duyên vậy.
Theo nhà Phật, nếu vòng Thập Nhị Nhân Duyên gồm 12 pháp hành, có thể hiểu thấu, để soi sáng kiến thức về vận hành luân hồi theo chiều thuận, và để dùng Phật pháp đối trị với tử sinh theo chiều nghịch…….
Thì vòng thời gian trong Thuyết Nghiệp Quả cũng có 12 hiện tượng thực tế làm tiêu chuẩn, là tích số của 4 (thành trụ dị diệt hay sinh lão bệnh tử) nhân với 3 (gồm hai thời chế định là quá khứ, vị lai, cộng với một thời hằng hữu thực tại), để hướng dẫn tư tưởng con người đúng với kiếp sống. Nhưng điều đáng tiếc là đa số nhân loại, vì lý do nầy hay vì lý do khác, đã chối bỏ thực tại quí báu ấy, để chạy theo ảo tưởng. –Tức là chạy theo quá khứ và tương lai !
Câu chuyện xoay vần, con gà có trước, hay quả trứng có trước, cũng như hạt (trong trái) có trước mọc ra cây, hay cây có trước sinh ra hạt (chứa nơi trái), đã là một đề tài bế tắc, thảo luận muôn đời, khó kết thúc, nếu chúng ta không dựa vào chân lý trong pháp hành hiện tại và không dựa vào thời gian chu kỳ.
Để giải quyết câu chuyện “trước sau, sau trước », « con gà và cái trứng » nêu trên, chúng tôi mạo muội đề nghị quí vị thử nhìn lên mặt đồng hồ, và ghi nhận pháp hành di động của cây kim trên một chiều (vecteur), hay nói cách khác là ghi nhận hướng đi của vòng quay kim đồng hồ từ trái sang phải. Nếu cây kim ngắn nằm giữa số 12 và số 6, thì ta thấy 12 giờ đến trước 6 giờ. Nhưng nếu kim ấy nằm giữa số 6 và số 12, thì ta thấy ngược lại, 12 giờ đến sau 6 giờ.
Như vậy, 12 giờ vừa đến trước và vừa đến sau 6 giờ, cũng như 6 giờ vừa đến trước và vừa đến sau 12 giờ, tùy theo vị trí của kim đồng hồ (tức là hoàn cảnh, thật duyên). Tương tự như thế, con gà vừa đến trước vừa đến sau quả trứng, và quả trứng cũng vừa đến trước vừa đến sau con gà.
-Vì sao ? -Vì trong con gà chứa tất cả những yếu tố làm ra cái trứng, cũng như trong cái trứng chứ tất cả những yếu tố làm ra con gà. Không có sự cố định con gà có trước hay cái trứng có trước. Đã nằm trong một chu kỳ, thì không có vị trí trước lẫn sau nhất định. Tất cả tùy duyên và biến hóa theo hướng đi của pháp hành.
Kết luận, trong sự chuyển động luân hồi, trở vể nguyên trạng, hay trở về lệch điểm cũ, xuyên qua dị trình để biến đổi (thăng hay đọa), thì hai điểm « bắt đầu » và « chấm dứt », tương quan trên một chu kỳ, phải vừa đi trước và vừa đi sau lẫn nhau, trong sự đuổi bắt bất tận ở thực tại. Từ đó suy ra, trên mọi luân hồi sinh động, điểm nào cũng là điểm khởi đầu (nếu vô minh còn), và điểm nào cũng là điểm chấm dứt (nếu vô minh bị tận diệt).
Nói cách khác, khi quả Phật và quả Thánh vẹt tận vô minh, chấp kiến dừng lại một cách không dư sót ở điểm nào, thì đó là chỗ chấm dứt, giải thoát (Niết Bàn). Và điểm bắt đầu luân hồi của tất cả chúng sinh ra sao, tuệ giác của chư Phật, hay của chư Thánh Nhân cũng lập tức nhận ra một cách rõ rệt.
Lý do, chỉ vì các Ngài đã diệt tận tham sân si, phiền não, không còn một khoen hữu lậu nào dư thừa, để bị móc dính vào khoen khác, tiếp nối vòng xiềng xích sinh tử luân hồi. Nghĩa là các Ngài không cần tìm kiếm cũng biết rõ sự bắt đầu của sống chết ở đâu. Tóm lại, trước và sau chỉ là một, nhưng vì chấp kiến nhị biên, nên chúng sinh nhận thấy thành hai, thành ba, hay thành vô số thời điểm.
Và cả hai điểm bắt đầu lẫn chấm dứt đều nằm trong thực tại, tức là nằm trong khả năng chuyển hóa sát na của tâm thức thanh tịnh con người. Chỉ có trong hiện tại, chư Phật và chư thánh mới khám phá ra chính xác cái nguyên nhân đầu tiên và chỗ chấm dứt « bất khả thuyết, bất khả tư nghì » của giải thoát như thế nào. Khám phá đó là khám phá Niết Bàn.
Liên quan đến Thuyết Nghiệp Quả qua dạng Thập Nhị Nhân Duyên, nếu chúng ta tạm dùng hai thời giả định quá khứ và tương lai phối hợp với hiện tại, để biểu thị vấn đề, thì vô minh và hành là nhân quá khứ, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ là quả hiện tại (hay duyên hiện tại), rồi ái, thủ, hữu là nhân hiện tại, còn sinh, tử (chuyên chở vô minh lậu) là quả tương lai.
Mặt khác, nếu chúng ta biểu thị Thập Nhị Nhân Duyên qua ba đặc tính của vòng luân hồi, thì vô minh, ái, thủ, hữu thuộc về nhân mê, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ thuộc về quả khổ (vướng mắc), và hành, sinh, tử thuộc về nghiệp đạo (hay lệch trình chu kỳ để thăng đọa).
Khai phương 12 nhân duyên hay 12 chi trong liên quan nhân quả :
Căn
Lậu
|
|
1 —– Vô minh
2 —– Hành
3 —– Thức
|
4 —– Danh Sắc
|
5 —– Lục nhập
6 —– Xúc
7 —– Thọ
|
8 —– Ái
9* — Thủ
|
10 —– Hữu
|
11 —– Sinh
12 —– Tử
Căn vô minh
* Thủ là mặt trái của Ái và Hữu
Thử vấn đáp lại cái « dạng » nghiệp quả qua 3 thời, chúng ta có thể đặt câu hỏi : « Quá khứ, hiện tại, vị lai là gì ? » -Là thời gian. -Rồi thời gian là gì ? -Là sự khứ hồi của pháp hành, hay nói cách khác là hành nghiệp. Vậy hành nghiệp là gì ? -Theo Phật giáo, hành nghiệp là ý thức lập lại qua hành động thân thể, hay qua vận chuyển tư duy nơi ý thức. Nghĩa là không có ý thức lập lại thì không thể tạo nghiệp được.
Nghiệp cũng là vận hành của uẩn, của tích tụ, phối hợp giữa ý thức và vạn pháp xung quanh. Như vậy, một hành động vô ý thức, dù lập lại cả triệu lần cũng không thể tạo nghiệp được. Chẳng hạng như bắp thịt tim co giãn do phản ứng lý hóa của thần kinh trong động vật, hay lá cây đu dứ vì gió, hoặc trái cây rơi từ trên cành xuống đất, thì không phải là sự tạo nghiệp.
Nói vắn tắt, « thời gian có mặt, là do sự hành nghiệp của động vật được lập lại ». Thời gian cũng là những vòng di dịch khứ hồi bị lệch, (sai biệt ít hoặc nhiều so với nguyên trạng). Vả lại, chu kỳ nguyên trạng tuyệt đối không thể tạo ra thời gian. Và vì quả đất lăn tròn, theo một quỉ đạo hằng lệch (dịch lý), mà chúng ta mới có một hiện hữu xoay vòng, thường xuyên tiến hóa, hay thoái hóa. Kết quả của sự hằng lệch đó là chúng ta có «năm nhuần».
Chúng ta đứng trên mặt đất, thấy vầng thái dương rõ ràng là mọc ở phaí Đông, rồi lặn ở phía Tây. Nó dường như có « phép lạ » trước mắt chúng ta, vì nó đi thẳng, mất hút về phương trời đối nghịch, nhưng sau đó nó lại có thể tái hiện vào « chỗ cũ », để cho chúng ta có hoài một ngày hiện tại làm « khung » cho vạn pháp biến đổi !
Dĩ nhiên, theo các nhà khoa học, thì mặt trời là một định tinh, nghĩa là một khối phát quang (hay ngôi sao) rất to, vô cùng lớn « đứng » yên một chỗ (?). Mặt trời phóng ra ánh sáng cực mạnh, tức là phải tự xoay tròn chính nó cực nhanh, mới phóng quang ra được. Nó xoay tròn và được xem là « đứng yên » một chỗ, không di chuyển theo quỷ đạo, như quả đất, hay các hành tinh khác, lăn xung quanh nó.
Nói vắn tắc, mặt trời là một « nguồn động », pháp hành của nó là tự quay tròn. Chúng ta có thể tạm gọi nó là một « động thể », trong cái nghĩa ngược lại với « tĩnh thể ». Hai tiếng « động » và « tĩnh » ở đây ám chỉ hai cực pháp trong vô biên vũ trụ, chứ không phải động tĩnh thông thường, như chúng ta nói « hòn đá là một tĩnh vật », và « con chim là một động vật ».
Các nhà khoa học có lẽ cũng lo âu, giả thiết rằng : Nếu mặt trời vì lý do nào đó, bất thần ngừng lại, chẳng quay nữa, thì không biết sự gì sẽ xảy ra cho thế giới chúng ta nói riêng, và cho toàn thể thái dương hệ hay vũ trụ nói chung (?).
Vì là giả thiết, nên câu trả lời cũng chỉ thuộc loại « giả đáp » mà thôi, là « nếu mặt trời bất thần ngừng xoay, quả đất sẽ lập tức đứng yên, tất cả liền dừng lại« . Mọi vật mất hẳn hấp lực, chẳng còn sinh động nữa, toàn bộ không còn từ trường (hết sức hút, hết sức cấu kết), và sẽ « tịch », sẽ rã rời, và sẽ tan biến. Điều nầy chứng tỏ rằng « thời gian bắt nguồn từ pháp động (nguyên sơ của hiếu động), rồi pháp động lập lại, biểu lộ thành hành nghiệp thực tại ».
Tưởng cũng cần lưu ý rằng : « Động » theo tuệ giác nhà Phật không có nghĩa là « hữu », trước hay sau. Và « tĩnh » cũng không có nghĩa là « vô », hoàn toàn chẳng có gì hết. Mà « động » hay « tĩnh » chỉ là hai mặt của một « uyên nguyên » phi thực tại, hằng tiếp diễn, không quá khứ, chẳng tương lai. Nói cách khác, quá khứ và tương lai nếu có trong tư duy phàm tình, chỉ là sản phẩm của kiến chấp qua hành nghiệp tâm thức, chìm trong biển vô minh mà thôi. Xem hình dưới đây :
12 khoen dính như 12 nối đuôi nhau xoay tròn.

Tử hết vô minh = Niết Bàn
Tử+Vô minh = Hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh.