THUYẾT NGHIỆP QUẢ

(Bài pháp thoại thực hiện tại lớp học Abhidhamma quận 13, Paris ngày 11/9/2005)

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

(Nguyện cho tất cả chúng sanh luôn luôn được an vui, thịnh vượng, tiến hóa, có chánh kiến, và không oan trái lẫn nhau).

Kính thưa tất cả quý đạo hữu,

Chúng ta sắp thảo luận về một trong ba chủ đề cột trụ của đạo Phật. Phật giáo chứa nhiều chủ đề rất quan trọng, không phải chỉ có ba. Nhưng để cho sự nghiên cứu của chúng ta, có một « lịch trình » khảo sát thực tế, đặt trọng tâm vào những lãnh vực nòng cốt, hầu cùng nhau thứ tự làm việc, tôi xin đề nghị chúng ta nên tập trung sự nghiên cứu hệ thống giáo lý Phật đà (Buddhasāsana) xuyên qua ba chủ đề « nòng cốt » như sau :

* Thứ nhất : Khảo sát chân lý Tứ Diệu Đế (Catu Ariyasaccāni), gồm cả Bát Chánh Đạo (Atthangika Magga), do đức Phật thuyết minh trong kinh Chuyển Pháp Luân, khi Ngài mở đầu giáo lý khai trí và hướng dẫn phương pháp cứu khổ chúng sinh, nhất là nhân loại.

* Thứ hai : Khảo cứu Thuyết nghiệp quả, cũng do đức Phật thuyết minh, để giải thích những hiện tượng xoay vần của sự sống. Nói theo tinh thần quan sát và qui nạp, thì đó là hai hiện tượng tử sinh, của vòng tâm vật luân hồi, hằng tiếp nối bất tận. Hay nói một cách bao quát hơn, đó là chu kỳ hóa hiện của mọi biến tánh và biến dạng, hợp rồi tan, tan rồi hợp, vi tế lẫn thô kệch.

Xin nhấn mạnh rằng, chữ nghiệp trong Thuyết Nghiệp Quả vừa nêu, là một giáo lý tổng hợp, ám chỉ nhân cộng với duyên, và chữ quả ám chỉ cấu kết liên quan, cô đọng, hay thành tích lưu lai dây chuyền. Nghĩa là khi một chúng sinh hữu tình hay vô tình, có sắc uẩn hay vô sắc uẩn, khi khởi «khuynh hướng» hành động (tương đương với tác ý), mà không có trợ duyên giúp thực hiện, thì nghiệp cũng không thể tạo được.

Vì vậy, thay vì chúng ta nói thuyết nhân duyên quả, chúng ta cũng có thể nói thuyết nghiệp quả. Theo Phạn ngữ hay Pāli, tiếng nói phổ thông thời đức Phật, thì Thuyết Nghiệp Quả là dịch nghĩa của từ Kammavipākavāda. Theo đó, nếu phân tích hợp từ, thì chúng ta thấy : Kamma là nghiệp, Vipāka là quả, và Vāda là thuyết.

* Thứ ba : Khảo sát Pháp hành trong tâm, hay sự khởi ý thức, cũng do đức Phật thuyết ra, để miêu tả các « hoạt động » của tâm linh phối hợp với thể xác, hay các phản ảnh của tâm thức lên chính , khi có tiếp xúc với ngoại trần hay không tiếp xúc với đối tượng bên ngoài. Tam tạng kinh điển Pāli gọi lĩnh vực nầy là Abhidhamma (A Tỳ Đàm=Vi Diệu Pháp), tức là lĩnh vực giảng giải về bốn diệu pháp của kiếp người, gồm :

1-Tâm vương (hay thức tánh) (=citta),

2-Tâm sở (hay Ý thức) (=cetasika),

3-Sắc pháp (rūpa), hay vật chất từ thô kệch (hữu tướng lẫn hữu thể, tương đương với « có »), đến vi tế, quá nhỏ, khinh thoát, vô khối, vô hình, tương đương với « không », và sau cùng :

4-Niết Bàn (Nibbāna), hay tịch tịnh, dứt khổ, vô uẩn, vô chấp kiến, vô biên giới, vô xiềng xích.

Bốn lĩnh vực Vi Diệu Pháp gồm tâm thức, ý thức, sắc pháp, và Niết Bàn nầy, có thể xem là bốn phần trọng yếu của môn học sâu sắc nhất trong Phật giáo. Chúng tương đương với hai lãnh vực Duy Thức Học, và Pháp Tướng Tông của các trường phái triết học khác, cũng được xem là liên quan đến giáo lý đức Phật. Quí vị ở đây đã từng khảo sát môn Vi Diệu Pháp nầy với một số đạo hữu có khả năng rồi.

Và một cách tương tự, chủ đề thứ nhất là Tứ Diệu Đế gồm cả Bát Chánh Đạo, tôi biết rằng quí vị cũng đã từng lắm lần nghe qua, và đã từng học hỏi, nghiên cứu, không nhiều thì ít, tùy theo duyên lành của quí vị, trong những buổi thính pháp, hay trong các cuộc luận đạo giữa nhiều thiện hữu trí thức với nhau. Nếu cần thiết, chúng ta sẽ khảo sát lại chủ đề nầy trong một ngày gần đây, khi thuận tiện.

Nhưng chủ đề thứ hai, Thuyết Nghiệp Quả là lãnh vực đã được nêu ra trong kỳ pháp thoại trước, để tôi được hân hạnh nhắc lại, trình bày kể từ buổi họp mặt nầy. Trong đó, cái tên Thập Nhị Nhân Duyên (Dvādasa Paticcasamuppāda), là một đề tài nòng cốt. Và nòng cốt có nghĩa là xung quanh « nó » còn những phần pháp liên hệ.

Nói một cách đầy đủ hơn, trong Thuyết Nghiệp Quả, ngoài Thập Nhị Nhân Duyên ra, còn sáu dạng pháp tương quan khác để khảo sát. Nhưng nổi bật nhất vẫn là Thập Nhị Nhân Duyên, vì nó là giáo lý nền tảng của vòng luân hồi trong nhà Phật. -Và nội dung của nó rất liên hệ với thuyết tiến hóa (L’Évolutionnisme) trong khoa sinh vật học !

Nhiều nhà thông thái xưa nay vẫn chứng minh, bằng thực nghiệm rằng : Các chu kỳ sinh tử vật lý (biến hóa), chính là những tiến trình hợp tan, hiện ra để thay đổi, thay đổi để suy đồi, suy đồi để biến mất, biến mất để tái hiện…của vạn vật.

Nhà Phật còn gọi Trạng thái hiện ra để biến mất, biến mất rồi tái hiện, hay của sống và chết ấy, bằng một cái tên khác, chuyên biệt hơn, là vòng xoay vần nghiệp quả, hay vòng nhân duyên quả.

Chữ duyên ở đây cần được một lần nữa đặc biệt lưu ý, vì nếu chúng ta không nhấn mạnh, chúng ta sẽ xem thường, hay bỏ quên , và nội dung của nhóm từ « vòng nghiệp quả » sẽ không đủ nghĩa.

Từ sự thiếu lưu ý đó, chúng ta cỏ thể bị những thực tế tương quan sai biệt, hằng xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, làm cho hiểu lầm rằng « luật nhân quả » trong nhà Phật chẳng thường nghiệm đúng.

Nhưng khi phân tích thật kỹ « luật nhân quả » một cách khách quan, với tất cả ảnh hưởng của trợ duyên (tức của hoàn cảnh), chúng ta mới thấy rõ rằng « Luật nhân quả » không ám chỉ một cách tuyệt đối là « nhân nào quả nấy ». Trái lại, luật nhân quả còn biểu lộ hiện tượng « nhân nào rất có thể là quả nấy », và trong một số trường hợp « nhân nào cũng chưa chắc sẽ trổ ra quả nấy ».

 

Chẳng hạn như trường hợp, một người trước mắt ăn hiền ở lành mà lại bất hạnh. Còn người khác hiện tại ăn ở thất đức mà vẫn bình an. Hiện tượng nầy chứng tỏ rằng người tốt «có thể» gặt hái được quả tốt, chỉ trong hoàn cảnh hiện tại thuận duyên, cho quả tốt trổ ra. Nhưng họ cũng có thể gặp quả bất lành, trong khi sống thiện ở đời nầy, nếu vận hành kiếp sống của họ nằm trong một số hoàn cảnh cộng nghiệp xấu, tức là nghịch duyên, vì nghịch duyên ấy phản lại khuynh hướng chánh tín, hay tư tưởng mú quáng.

Tương tự như thế, kẻ ác trong hiện tại cũng có thể « hưởng phúc », do họ đã gieo trồng trong

 

Thành thử người đời nếu không thanh tịnh hiểu biết sâu xa « hàm lý biến đổi » (hay duyên hành cộng nghiệp), thì họ sẽ hoang mang, và có thể nghi ngờ cho rằng, giáo lý nhân quả tương quan trong nhà Phật chẳng nghiệm đúng.

Tiềm lực của trợ duyên (hay của hoàn cảnh sống), được lưu ý ở đây, nói lên sức mạnh chính của ảnh hưởng xã hội. Còn nhân trong « luật nhân quả » chỉ là cái lưu lai của quá khứ, nằm trong hiện tại. Và quả ám chỉ là cái kết cấu của pháp hành quá khứ hợp với hiện tại, phải hiện ra trong tương lai (do lòng tham, vọng tưởng, phản chiếu, nẩy mầm).

Nếu bỏ trợ duyên ra ngoài, tức là không chấp nhận ảnh hưởng mạnh mẽ, do hoàn cảnh thực tại, thì quá khứ và tương lai sẽ mất cơ sở, như hai cảnh tượng tương quan, không có một nền tảng nào nâng đỡ, để làm lộ màu sắc của chúng cả. Nếu phủ nhận duyên hành, hay tách rời hoàn cảnh hiện tại, thì « quá khứ » và « tương lai » sẽ không bao giờ có, đừng nói là chúng có mà chẳng nghiệm đúng, theo lý nhân quả !

Và cái liên quan tổng hợp, tạo thành chu kỳ nhân quả nằm tiềm tàng trong hiện tại, đóng vai chính. bao gồm quá khứ lẫn tương lai, được nhà Phật còn gọi bằng một cái tên triết học khá đặc biệt, là vòng nhân duyên, (hay vòng khởi hành nhân quả).

Vòng nầy có 12 khoen (hay 12 móc xoắn), mà chúng ta sắp cùng nhau thảo luận sau đây, bằng nhóm chữ Hán Việt là « Thập Nhị Nhân Duyên ».

Khi bình tâm khảo sát thật kỹ Thập Nhị Nhân Duyên, chúng ta sẽ thấy thực tại có mặt trong tất cả các thời. Nó là sợi dây liên kết toàn bộ các chuỗi nhân và quả. Nó cũng là lý do chứng minh tại sao có sự sai biệt giữa gieo nhân và gặt quả. Sự sai biệt đó đã làm cho người đời hoang mang trước các mâu thuẫn trong quan niệm đóng khung cứng ngắc, gọi là « luật nhân quả« , hay « luật nhân nào quả nấy ».

Trong giáo lý, đức Phật đã bổ túc thuyết « nghiệp báo » nầy, bằng một « đạo hàm » gồm nhân duyên quả. Ngài mô tả « đạo hàm » ấy ra cả chi tiết dây chuyền, dưới dạng 12 móc xoắn, hay thập nhị nhân duyên vậy.

Cũng xin nhắc lại ở đây, Thập nhị nhân duyên là một trong bảy dạng trình bày Thuyết nghiệp quả, mà đức Phật đã thuyết ra, sau khi Ngài đắc toàn giác dưới tàng cây Bồ Đề, trước đây hơn 25 thế kỷ.

Vì chúng ta có chủ tâm nghiên cứu tối đa Thuyết Nghiệp Quả, nên tôi đã cố gắng làm một sưu tập bao gồm tất cả những trình bày của Phật Giáo liên quan đến lãnh vực nầy.

Trong 7 dạng của Thuyết Nghiệp Quả, vừa giới thiệu ở đây, thì Thập Nhị Nhân Duyên là dạng thứ nhất. Vậy 6 dạng nghiệp quả khác còn lại là gì, xin kể ra tất cả như sau :

1/ Mười hai Nhân Duyên.

2/ Ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai).

3/ Ba nối tiếp.

4/ Hai chục sức đẩy.

5/ Bốn hướng trình.

6/ Ba vận chuyển.

7/ Hai căn gốc.

Và để cho bài khảo cứu nầy được đầy đủ, chúng ta cần duyệt qua tất cả 7 dạng ấy, đặc biệt là thảo luận thật kỹ dạng thứ nhất. Vì nếu Thập Nhị Nhân Duyên được phân tích rõ ràng, được hiểu biết đầy đủ, thì các dạng nghiệp quả còn lại sẽ tương đối dễ thông qua.

Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu :

Trang trước                                                                         Trang tiếp