Phật Bảo là nền tảng của pháp Bảo và Tăng Bảo.

 Theo Kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravāda) thì Phật Bảo có ba quả vị, là :

 1/Toàn Giác hay Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammā Sambuddha),

2/Ðộc Giác hay Bích Chi Giác (Pacceka Buddha),

3/Thinh Văn Giác hay Duyên Giác (Sāvaka Buddha).

Phật Toàn Giác là bậc đã tự tu, tự độ, chứng được phẩm vô lượng thanh tịnh, tuyệt đối trong sạch và giác ngộ, thấu triệt tất cả các pháp hành trong vũ trụ, từ vi tế đến thô kệch, từ hữu vi đến vô vi. Phật Toàn giác đã tự mình giải thoát hoàn toàn, ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, tiêu diệt hẳn ba nguồn gốc vướng mắc tội lỗi, là tham lam, sân hận, và si mê. Rồi Ngài đem giáo lý cứu khổ ấy ra phổ cập đến muôn loài chúng sinh, chỉ đường thoát ly ra tam giới. Thân pháp của một vị Phật Toàn Giác cao siêu vô lượng, trời và người không thể sánh bằng, và không ai có thể diễn tả được phẩm Phật.

 Phật Ðộc Giác cũng đầy thánh đức như Phật Toàn Giác, nhưng Ngài không có nguyện lực bôn ba thuyết pháp độ sinh trong tam giới. Trên con đường đắc thành quả Phật và trước khi nhập Niết Bàn, Phật Ðộc Giác cũng sẵn sàng từ bi cứu độ mọi chúng sinh, nhưng do nguyện lực, Ngài chỉ nói Pháp đến những ai hữu duyên đến gặp Ngài.

Còn chư Thinh Văn Giác là những bậc đã viên mãn thánh đức, nhưng qua kiếp chót, các Ngài phải hợp đến chu kỳ có duyên lành gặp Phật Toàn Giác tiếp độ, mới chứng được quả vị vô thượng giải thoát. Hai chữ « duyên lành » trên đây cũng là lý do các Ngài còn được gọi là « Thinh Văn Duyên Giác ». Các Ngài sau đó lại có duyên theo Phật, noi gương đấng Toàn Giác, mà thuyết pháp độ sinh.

Như vậy, nghiên cứu về công phu của một vị Phật, hay một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, chúng ta không những đang sưu tầm ơn ích của toàn thể Phật Bảo, mà chúng ta còn nhân dịp nầy, hướng dẫn tâm linh mình, quay về uyên nguyên thánh thiện của những đức hạnh vô song, để từ đó chúng ta may ra có thể nhận chân được phần nào giá trị cứu khổ của Pháp Bảo, và hạnh kiểm tuyệt vời của Tăng Bảo, khi đã hành đúng theo lời Phật dạy.

Ðây chính là lý do mà chúng tôi không ngại trình độ còn thiếu sót, cố gắng sưu tầm trong Buddhavaŋsa (Phật Tông), viết ra phần nghiên cứu tiếp theo đây :

 Do viên mãn công phu nào, mà một Bồ Tát trở thành Phật.

Như trên vừa nhấn mạnh, thành quả của một vị Phật nói chung, và thành quả của một Phật Toàn Giác nói riêng, tuy giới thiệu sơ qua thì như thế, nhưng khi nghiên cứu vào chiều sâu, thì công phu vô lượng ấy quả thật tuyệt vời, và chứa đầy tuệ giác.

Nếu kể từ khi một Đại Bồ Tát hay « Thiện sĩ », có Ý chí hùng hậu, phát nguyện trong tâm không xa lìa đạo hạnh, cho đến lúc thành Phật, thì « thời gian » phải trải qua bao lâu để thực hành viên mãn công hạnh chánh giác ấy, chúng ta dù có dùng tuổi thọ của địa cầu cũng khó tưởng tượng nổi. -Hay chúng ta dù chẳng dám tính bằng đơn vị thời gian ngắn ngủi của kiếp người, thì chúng ta cũng không thể dùng đơn vị thời gian nào khác, để tổng kết ra thời gian tu chứng dài vô tỷ ấy.

 Tuy nhiên, để có phương tiện giản dị, diễn tả tạm đủ điều đó, trong kinh Phật cũng có những thuật ngữ so sánh, hay ví dụ, dựa theo ước lệ trừu tượng, giúp chúng ta tạm thời hiểu thấu, cái thời gian hành đạo dài kinh khủng kia.

Kính điển Phật Giáo Nguyên Thủy (Thera vàda) gọi rất hiếm các « Thiện Sĩ Đại Nguyện » ấy là Bodhisatta (Nam Phạn : Pāli), hay Bodhisatvā (Bắc Phạn : Sanskrit). Còn danh từ Bồ-Tát mà Phật Giáo Bắc Truyền (hay « đại thừa ») thường dùng, là cái tên được phiên âm ra Hán tự của « Phạn từ » Bodhisatvā nầy. Thực ra, Bodhisatvā khi phiên âm đầy đủ, thì phải gồm đến bốn chữ, là « Bồ Ðề Tát Ðỏa« , và dịch Hán Việt là « chúng hữu tình », tức là « sinh linh đầy thiện tâm« . Bồ-Tát là bậc chắc chắn sẽ thành Phật nhưng chưa phải là Phật. Theo Buddhavaŋsa (Chánh Giác Tông), Bồ-Tát có ba đại hạnh là :

 1/Bồ-Tát trí tuệ (Paññādhika),

2/Bồ-Tát đức tin (Saddhādhika), và

3/Bồ-Tát tinh tấn (Viriyādhika).

Vô số tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamunibuddha) là biểu tượng trọn vẹn của Bồ Tát hạnh trí tuệ. Nên hiện tại theo Phật Giáo Nam Truyền (hay PG Nguyên Thủy), trong giáo lý của đức Phật Thích Ca, Kinh Chánh Kiến, tức là kinh nói về sự thấy và hiểu chân chánh, hoặc là kinh nói về các pháp lành dẫn đến tin tưởng chân thật (Sammāditthi Sutta), hợp với luật nhân duyên quả, là kinh rất là quan trọng. -Chánh Kiến chính là một trong những thực dụng của trí tuệ.

 Và tương tự như thế, theo Phật Giáo Bắc Truyền, kinh « Bác Nhã Ba La Mật Đa » (Trí Ðộ), cũng là kinh rất nòng cốt. Nghĩa là trong cả hai nền văn hóa đạo Phật, Nam Truyền và Bắc Truyền, nếu chúng ta không cố chấp, chúng ta sẽ tìm thấy có một điểm chung, là trí tuệ đóng vai chính, liên hệ mật thiết đến các kinh khác. Từ đó, chúng ta có thể kết luậhn rằng : Niềm tin mà không sáng suốt thì nguy hiểm !

 Theo Vi Diệu Tạng (Abhidhammapitaka, Tàu âm : A Tỳ Ðàm), thì cả ba hạnh Bồ Tát vừa nêu, khi họ càng tới gần mục tiêu, trên lộ trình tiến đến quả Phật, thì bốn loại tâm đại hạnh (Mahāggatācitta), là Từ (mettā), Bi (karunā), Hỷ (muditā), và Xả  (upekkhā) sẽ dần dần trở thành vô cùng hùng hậu, và tỏa ra không biên giới. Xin nhấn mạnh : Từ, Bi, H, Xả ấy vốn luôn luôn đặt nền tảng trên Trí Tuệ, nên có chỗ còn gọi cô đọng lại, là Vô Úy Bi-Trí-Dũng.

Do đó, sự xuất hiện độ đời của chư Bồ tát không bao giờ thiếu từ mẫn, hẹp hòi, lo sợ, và tối tăm. Đây là lý do các cộng đồng Phật tử theo truyền hệ Bắc Tông, nhất là người Trung Hoa hằng tin tưởng rằng : « Bồ Tát có lòng từ bi vô lượng, sẵn sàng thị hiện minh bạch (trí), xả thân cứu giúp muôn loài chúng sinh (dũng), nhất là những ai bất hạnh, hay bị hàm oan. Bồ Tát cũng tự tại mà cứu độ, không bao giờ biết sợ sệt (vô úy) ».

Niềm tin rất phổ thông nầy cũng đã làm nổi bật hiện tượng một Quán Thế Âm Bồ Tát đã thỉnh thoảng đưa người vô tội qua khỏi tai ách một cách rất ung dung, ở bất cứ hoàn cảnh nào.

Tuy nhiên, trong Tam Tạng Kinh Ðiển chữ Phạn, thuộc hệ thống các nước Phật Giáo Nam Truyền, hay Phật Giáo Nguyên Thủy, chúng tôi không tìm thấy đoạn nào nói đến Bồ Tát Quán Thế Âm, mà chỉ có chỗ đề cập đến Bồ Tát Di Lạc (Metreyya Bodhisatta) mà thôi. Và cũng theo nguồn kinh nầy, thì Bồ Tát Di Lạc, đã từ vô lượng kiếp trước tu hạnh tinh tấn (Viriyādhika).

 Đến lúc mãn giáo pháp do Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Sammāsambuddha) lưu lại (còn những non 2500 nữa), thì Bồ Tát Di Lạc sẽ giáng trần kiếp chót, và sẽ đắc quả Phật, để cứu độ đời trong tương lai, sau khi giáo pháp của đức Phật Thích Ca viên mãn và biến mất.

Kinh Abhidhammasangaha (tạm dịch là Vi Diệu Pháp thống kê tâm thức) còn kể rõ 4 tâm đại hạnh từ bi hỷ xả nói trên, vào nhóm những tâm sở thiện (kusalacetasikā). Hai tâm đầu từbi của 4 tâm sở thiện ấy, cũng có thể xem là một loại phiền não, nhưng là phiền não thiện. Đó là loại phiền não vi tế mà hành giả khi chưa đạt tới toàn xả, vô nhiễm vẫn còn, nhưng chúng không làm cho sa đọa.

Chẳng hạng như chư thánh nhân mới nhập lưu (Tu Ðà Hoàn Đạo), lòng có đầy đức từ bi loại nầy. Tuy nó không thúc đẩy các Ngài gây nghiệp ác, nhưng động lực của nó vẫn làm cho các Ngài « bận » tâm không ít. Mặt khác, lòng từ bi cũng là cơ duyên để các thanh dự lưu tô bồi Ba-La-Mật.

Còn nói qua công phu và « thời gian » thì từ khi một Thiện Sĩ (hay Bồ Tát) đầy phạm hạnh chính thức phát nguyện hướng đến hoàn toàn giải thoát, cho đến khi chứng đạt quả Phật, phải trải qua một lịch trình tu tập « bao lâu » chúng tôi xin mạn phép, rút từ kinh điển Pāli, ghi lại như sau :

 1/ Hạnh trí tuệ :

 * Thời gian nguyện trong tâm và âm thầm thực  hành là 7 A Tăng Kỳ.

* Phát nguyện ra lời và chính thức thực hành là 9 A Tăng Kỳ, thì gặp Phật thọ ký.

* Sau khi được Phật thọ ký rồi phải tinh tấn thực hành thêm 4 A Tăng Kỳ và một trăm ngàn đại kiếp nữa.

 (Thế nào là một A Tăng Kỳ, hay một đại kiếp, sẽ trình bày đoạn sau)

2/ Hạnh đức tin :

 * Thời gian nguyện trong tâm và âm thầm thực hành là 14 A Tăng Kỳ.

 * Phát nguyện ra lời và chính thức thực hành là 18 A Tăng Kỳ, thì gặp Phật thọ ký.

 * Sau khi được Phật thọ ký rồi phải tinh tấn thực hành thêm 8 A Tăng Kỳ và một trăm ngàn đại kiếp nữa.

 3/ Hạnh tinh tấn :

 * Thời gian nguyện trong tâm và âm thầm thực hành là 28 A Tăng Kỳ.

 * Phát ra lời nguyện và chính thức thực hành là 36 A Tăng Kỳ, thì gặp Phật thọ ký.

 * Sau khi được Phật thọ ký rồi phải tinh tấn thực hành thêm 16 A Tăng Kỳ và một trăm ngàn đại kiếp nữa.

Giải về « A Tăng Kỳ » trong kinh cũng có sự so sánh để mô tả thế nào là một A Tăng Kỳ như sau : Ấy là một thời gian dài thăm thẳm, ví như một tảng đá lớn vuông vức mổi chiều 16 ngàn thước. Cứ một trăm năm có vị tiên nữ đến, dùng một giải lụa quét lên một lần. Làm như vậy cho đến khi nào cả tảng đá kia mòn nhẵn, biến mất, thì thời gian ấy là một A Tăng Kỳ.

Còn thế nào là một Ðại Kiếp ? Phạn ngữ « Mahākappa », dịch là « đại kiếp » của trái đất, trong kinh ghi gồm có 4 giai đoạn là Thành, trụ, hoại, không như sau :

Giai đoạn « thành » là từ khi bắt đầu cấu tạo quả địa cầu sơ khai, u-minh như bầu bụi khổng lồ, vô biên, lơ lửng, không vững chắc như hoa tuyết, như bọt nước. Sau đó « nó » kết tinh thành bột, rồi cứng như đất, như đá, lăn tròn theo sức hút, trên một quỷ đạo thật lâu, khó định được là bao nhiêu năm. Thoạt tiên nó chỉ có 2 tính nóng và lạnh, chưa có sinh vật nào xuất hiện, thì đó là giai đoạn thành.

Giai đoạn »trụ » bắt đầu từ khi nóng lạnh giao thoa, củng cố, nảy ra vi khuẩn, sinh thái nguyên thủy, tượng thành rong rêu và cây cỏ. Đó là những tế bào vô cơ, rồi trở nên hữu cơ, để biến hóa, sinh nở động vật, cao nhất là loài người. Rồi nhân loại tiến hóa, đứng đầu toàn thể khoáng, thực, và động vật, bắt đầu hiện rõ dần dần các hình thức sống theo bản năng, và theo tập thể, đẻ ra các nền văn minh thăng đọa theo chu kỳ. Nhưng sau đó vì tham sân si, loài người tàn sát lẫn nhau, cố chấp dưới chiêu bài nầy hay chiêu bài khác, không thể ngừng kiếp nạn cho mình và muôn loài được. Nhân loại càng đeo đuổi « văn minh », cố chấp mù quáng, khao khát thỏa mãn tối đa tham vọng, càng nhiều, tranh giành nhau, giết chóc toàn thể cho đến cùng.

Giai đoạn « hoại » kể từ khi quả địa cầu hoàn toàn ô nhiễm, gia tăng sức nóng, không còn một động vật nào nữa, cho đến khi tất cả nước trong bốn bể khô hết, cỏ cây làm mồi cho lửa mặt trời. Rồi quả đất bốc cháy toàn diện như một hòn lửa khổng lồ, làm nổ tung hành tinh thành muôn triệu mảnh…Đó cũng là hậu quả của « văn minh siêu đẳng”, do tham lam hưởng thụ, khát khao bất mãn (sân hận), và si mê tột đỉnh thúc đẩy.

Giai đoạn « không » kể từ khi quả điạ cầu không còn nữa, chỉ có khí u minh vô cực, không cùng, không tận. Và đó là giai đoạn cuối cùng.

Bốn giai đoạn trên tự nó hợp thành một đại kiếp, mà một Đại Bồ Tát, ngoài những A Tăng Kỳ phải thực hiện viên mãn 10 pháp Ba La Mật. -Ba La Mật là Tàu âm của danh từ Phạn ngữ « Pāramitā », dịch là « Ðáo Bỉ Ngạn » hay tới bờ thoát khổ, thì các Bồ Tát còn phải hành thiện Ba-La-Mật đến chừng ấy đại kiếp nữa. Số đại kiếp nầy nhiều hay ít, tùy theo một trong ba hạnh Bồ Tát nêu trên.

Như vậy, một vị Bồ Tát trước khi thành Phật, đã luân hồi cứu độ đến vô tỷ chúng sinh rồi. Và cuối cùng, trong thời gian thành Phật tại tiền, như Phật tổ Thích Ca Mâu Ni chẳng hạn, Ngài lại thêm suốt 45 năm trường độ đời không nghỉ, Ngài đã sống trong phẩm cách « hữu dư Niết Bàn » (Parinibbāna), để ban bố phúc lành khắp tam giới chúng sinh, cho chí giờ nhập diệt … là một viên mãn chân lý tuyệt đối, thì không còn gì gọi là độ sinh chưa đủ cả.

Do đó, nếu có thuyết nào cho rằng : « Ðức Phật vì lòng từ vô bờ bến, đến khi xả báo thân nhập diệt, Ngài « không nỡ » an nghĩ Niết Bàn, phải tự đầu thai luân hồi trong tam giới trở lại, dưới hình thức « Bồ Tát khác », để độ tận chúng sinh », là một điều chỉ đúng với tâm lý phàm tục. Tâm lý nầy cần có « cứu tinh » để van cầu, « cúng bái » bằng lễ lộc thế gian, vốn không hợp với giáo lý đích thật của đạo Phật !

Xin nói rõ, sau khi đức Phật Thích Ca nhập diệt, thì vẫn còn các đại bồ tát khác, trên đường thành Phật, xuất hiện để độ sinh. Những Bồ Tát “đương hành” nầy sẽ nhờ sự độ sinh ấy mà viên tròn Ba-La-Mật.

Chúng tôi dám nói “Quan niệm cho rằng đức Thến Tôn, vì lòng từ bi đối với chúng sinh, mà tái sinh lại làm Bồ Tát khác để độ đời, là một điều không hợp với giáo lý đạo Phật, vì dựa trên những cơ sở tìm thấy trong kinh điển như sau :

Theo Abhidhammapitaka (A Tỳ Ðàm), tức Vi Diệu Pháp Tạng (cũng gọi là Tạng Luận), phần Abhidhammasangaha (tạm dịch là Vi Diệu Pháp thống kê tâm thức), thì một vị Phật khi ở Hữu Dư Niết Bàn, tức là lúc Ngài còn thân thể khỏe mạnh để thuyết pháp độ đời, nhục thân của Phật luôn luôn sinh hoạt dưới một trong hai loại « tâm thức » sau đây :

 Loại thứ nhất : Ngài sống với những tịnh quang tâm sở thiện (Sobhana Kusala Cetasikā). Tâm sở có 52 tất cả, trong đó tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả), và những tâm đại hạnh (Mahāggatā) là những tâm sở thiện. Tâm sở có sách gọi là «sở hữu tâm». Với loại sinh hoạt của loại tâm này, Phật thường xuyên mở rộng thần thông, thấu biết hết mọi khổ đau của tam giới chúng sinh, để tùy duyên cứu độ.

 Mỗi ngày đêm (tổng cộng 24 giờ), thân Phật lúc nào cũng thuần thục trong Như Lai Thiền Tứ Niệm Xứ (Catusatipatthāna). Bốn đức tánh từ, bi, hỷ, xả, của đức Phật luôn luôn tự phối hợp một cách thanh tịnh, để trở thành « tiếp độ pháp vô biên, vô cực« , tức là chẳng dính mắc vào một đối tượng nào cả.

Không như phàm nhân chúng ta tưởng lầm, quan niệm rằng : Phật thương xót chúng sanh (theo cái nghĩa hẹp hòi), rồi tâm thức Ngài « chia sẻ » cái đau khổ của tất cả chúng sinh liên miên bất tận. Phật « xót thương » tam giới chúng sanh đến nỗi Ngài « xốn xang« , « thao thức« , nhập diệt không đành (!?). Rồi Ngài phải tiếp tục tái sinh để cứu giúp muôn loài, cho đến khi không còn một sinh linh nào luân hồi trong biển khổ nữa (?), như chúng ta tưởng tượng, là một điều hoàn toàn không đúng với quả vị viên mãn thập độ của đức Phật.

Loại thứ hai : Tâm thức của Phật sống bằng « thanh tịnh kim cương pháp » qua các bậc thiền (jhāna). Ðây là lúc xác thân tứ đại của Phật đang ở thời điểm tàn úa, hư hoại sau cùng, theo luật tự nhiên của mọi hình thức hữu vi, tan hợp, xoay vần. Ðó là lúc Phật sắp nhập Niết Bàn, vì xác thân của Ngài không còn trẻ trung, khỏe mạnh như trước nữa.

 Phàm nhân trong trường hợp nầy thì hoảng hốt, đau đớn, lẫn lộn, chới với, nhưng Phật lúc ấy lại là lúc linh quang thanh tịnh nhất. Ngài nhập định, thâu thần vào các bậc thiền, từ hữu sắc đến vô sắc, từ dục giới lên sắc giới, rồi vô sắc giới, tuần tự đến các phẩm thiền như không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu xứ, phi tưởng, phi phi tưởng v.v…, sau cùng là Diệt Thọ Tưởng Định, mà chúng ta chỉ dùng nhóm từ « thanh tịnh kim cương » mới có thễ tạm so sánh, hiểu được.

 Thức tái sinh trong ngũ uẩn, hay « tâm thiên về sự sống » nương vào danh sắc của Phật đâu còn nữa. Nó đã tiêu trừ lâu rồi, từ lúc Ngài còn làm những kiếp Bồ Tát, phạm hạnh cao nhất sắp viên mãn. Vào kiếp chót thành Phật, nhất là vào giây phút nhập Niết Bàn, thì thức tái sinh ấy trong Phật đã hoàn toàn tiêu trừ, thì làm sao Phật có thể đi « phục sinh », vì bất cứ lý do gì, dù cho đó là lý do « cứu thế » ?!

Càng nhầm lẫn hơn nữa, là so sánh nghĩ rằng : Bồ Tát « cao hơn » Phật, vì Phật nhập Niết Bàn là « ích kỷ », chỉ lo giải thoát cho riêng mình, còn Bồ Tát « dám » quay lại tam giới để độ tận chúng sinh, tức là đại từ, đại bi hơn (?). Thực ra, lý do Bồ Tát có thể tái sinh, để vun bồi Ba La Mật pháp, chỉ vì Bồ Tát chưa thành Phật, chưa viên dung công hạnh vượt bờ sống chết. Nhưng Bồ Tát vốn quyết chí thành Phật, giải thoát, nên Ngài cần nhập thế với những đức hạnh hy sinh,  cao quí nhất.

Chúng tôi mạn phép dựa vào kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy, nói thẳng ra như vậy. Vì chúng tôi chỉ với thiện tâm, muốn đưa Phật học Việt Nam đến chổ chân thật, bình đẳng, tuyệt vời, đúng với những gì đức Phật đã dùng tuệ lực soi sáng, trước khi Ngài mở lời dạy.

 Vả lại, pháp chế định trong thế gian (tục đế), thì có thể tùy duyên, tùy thời, uyển chuyển, canh cải cho thích hợp với tư duy thời đại của con người, nhưng Pháp xuất thế gian (chân đế) là pháp không ràng buộc, bất biến, và hằng đúng trong vũ trụ. Nó đúng không phải vì kinh nghiệm, tương đối, hằng đổi thay, mà nó đúng chỉ vì chu trình biến hóa của vạn vật, muôn đời vẫn uyên nguyên là như thế !

Nói cách khác, tục đế (hay pháp chế định do con người đặt ra) thì có thể bóp méo, canh cải, chế tạo ra sao cũng được, tùy trường hợp. Nhưng pháp chân đế nếu đem biến cải, cho hợp với nhãn quan phàm tình hay tâm lý mong đợi, ỷ lại tha lực vì lòng tham và biếng tu của người đời, thì đó là vô tình làm sai lệch Phật Giáo, và dẫn nhân loại đi vào chỗ mê tín, xem thường tội lỗi, tin tưởng vào tha lực siêu độ hoang đường mà thôi.

Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi dám xâm phạm đến ân đức độ đời của chư vị Bồ Tt, vì Bồ Tát là những gương sáng, hợp lại thành phẩm hạnh tuyệt vời của chư Phật.

Và để chứng minh, cũng như để đề cao ân đức ấy, sau đây chúng tôi xin trình bày sơ qua 10 tuyệt hạnh Ba La Mật, hay còn gọi là Thập Ðộ Ba La Mật, của chư Bồ Tát, trước khi thành Phật, theo kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravàda). Chúng ta thử cùng nghiên cứu, hầu noi gương trong muôn một.

Mười hạnh Ba La Mật (Dasa Pāramitā), dịch là 10 pháp Ðáo Bỉ Ngạn, hay (10 pháp siêu độ qua bờ khổ), mà một vị Bồ Tát cần thực hành tròn đủ, để thành Phật là :

      1-Bố thí Ba La Mật (Dāna Pāramī)

     2-Trì giới Ba La Mật (Sīla Pāramī)

     3-Xuất gia Ba La Mật (Nekkhamma Pāramī)

     4-Trí tuệ Ba La Mật (Paññā Pāramī)

     5-Tinh tấn Ba La Mật (Viriya Pāramī)

     6-Nhẫn nhục Ba La Mật (Khanti Pāramī)

     7-Chân thật Ba La Mật (Sacca Pāramī)

     8-Ý chí*Ba-La-Mật (Adhitthāna Pāramī)

     9-Từ bi Ba La Mật (Mettā Pāramī)

    10-Hỷ xả Ba La Mật (Upekkhā Pāramī)

(*Ý chí còn gọi là nguyện lực).

Hai chữ « tròn đủ » mà chúng tôi cố ý gạch đậm trên đây, là để ám chỉ sự viên mãn tận cùng, không còn hạnh nào để tu thiện cao hơn nữa, trên con đường thực hiện 10 phẩm Ba La Mật của chư vị Bồ Tát, trước khi đắc quả Toàn Giác giải thoát.

Nêu đủ chi tiết ra cho dễ hiểu như thế, vì đó là thánh đạo siêu độ qua bờ khổ, gồm 3 bậc là bậc kia, bậc trênbậc vô thượng. (Chử « ngạn » trong nhóm từ « Ðáo bỉ ngạn » ở đây tuy có nghĩa là « bờ » nhưng chúng tôi đề nghị nên hiểu như « bậc » để dễ diễn đạt hơn). Nếu lấy 10 pháp siêu độ Ba La Mật ấy mà nhân cho 3 bậc, thì tất cả tròn đủ phải là 30 phẩm hạnh xuất thế. Xuất thế bằng cách tròn đủ nhập thế, cứu độ vô lượng chúng sinh trước khi giải thoát nhập Niết Bàn.

 Bây giờ thử nêu một Pháp Ba-La-Mật. Ấy là pháp Ba La Mật đầu tiên : Bố Thí Ba La Mật, để diễn tả,  làm điển hình như sau :

Một Bồ Tát thấy cảnh khốn cùng của sinh linh xung quanh, mà bố thí hết của cải lẫn vợ con, thì đó mới chỉ thực hiện được bố thí đến bậc kia mà thôi. Nhưng nếu Bồ Tát ấy thấy kẻ khác cần duy trì sự sống, mà bi mẫn phát tâm hoan hỉ bố thí đến cả những bộ phận trong thân thể của mình, như mắt, tai, mũi, tay, chân, da, thịt, gan, phổi, thận, gân, v.v… Nghĩa là sự bố thí chi thể, chưa đe dọa đến mạng sống, thì bố thí ấy chỉ mới đạt đến hạnh bố thí bậc trên. Còn bậc sau cùng là bố thí mà kết thúc mạng sống hiện tại, để sang kiếp khác tiếp tục phạm hạnh hy sinh nữa, thì đó là bố thí bậc vô thượng.

 Đệ nhị Ba La Mật pháp là Trì giới cũng vậy. Nếu Bồ Tát trì giới (nghĩa là giữ gìn điều cấm, tránh làm việc ác), mà phải mất hết tài sản, vợ con, Bồ Tát vẫn trì giới, thì ấy mới chỉ là trì giới đến bậc kia. Và nếu Bồ Tát trì giới mà phải chấp nhận kẻ ác hành hạ, đàn áp đến thân thể, như sẽ bị chặt hết chân tay, cắt tai, xẻo mũi, v.v… Ngài cũng nhất định trì giới, thì gọi là trì giới đến bậc trên. Còn tột cùng là khi Bồ Tát trì giới mà phải mất mạng, vẫn tự tại, thản nhiên, vui vẻ trì giới, thì ấy là trì giới bậc vô thượng.

Trên đây, chúng tôi chỉ mạn phép trình bày đệ nhất và đệ nhị pháp Ba La Mật, là bố thítrì giới, mỗi pháp (hay mỗi hạnh) có 3 bậc như thế. -Hy vọng quí vị có thể dựa vào đó, suy diễn ra 8 pháp Ba La Mật còn lại, mỗi pháp theo 3 bậc…, thì quí vị sẽ có đầy đủ 30 pháp Ba La Mật, của một Đại Bồ Tát đã, đang, và sẽ thực hành để viên mãn thành Phật.

 Đối với khả năng phàm nhân như chúng ta, dĩ nhiên nhất thời khỏi phải nói đến tất cả 30 pháp Ba La Mật. Chỉ cần một Ba La Mật nào « dễ nhất » thôi, chúng ta cũng đã cảm thấy thiên nan vạn nan, không biết đến kiếp nào mới làm tròn nổi rồi. Chưa kể yếu tố thời gian rất nhiều A-Tăng-Kỳ và trăm ngàn đại kiếp, để tu hành viên mãn, đối với người thường lại thật là khó hiểu, dài thăm thẳm, có thể nói là vô tận. Nhưng đối với chư Bồ Tát, ấy mới chỉ là thời gian tạm đủ, để các Ngài vừa tu hành tiến hóa, vừa cứu độ tất cả những chúng sanh nào hữu duyên. -Yếu tố thời gian đối với chư Bồ Tát không quang trọng, chỉ có yếu tố viên tròn hay chưa viên tròn Ba-La-Mật mới quan trọng !

 Giáo lý nhà Phật là một nền triết học thực tiện, và là một khoa học hướng dẫn tâm linh hướng thiện, để áp dụng vào đời sống nhân loại hằng ngày. Mỗi pháp môn của đức Phật Thích Ca là một chìa khóa, mở cửa đi vào thánh vức thanh tịnh, dẫn đến nguồn ánh sáng trí tuệ, tiềm tàng nằm sẵn trong thức tánh của mỗi sinh linh, hầu mỗi hành giả có thể tự phá tung màng lưới vô minh, thấy rõ đâu là bờ thoát khổ.

 Nếu kho tàng kinh điển có 84.000 pháp môn, thì 30 Ba La Mật pháp nằm trong số những pháp môn thực tiễn nhất. «Nó» xứng đáng đại diện cho phẩm hạnh viên mãn của chư Phật, nhưng nó không phải là lý do để chấp trước, như một số người lầm lẫn bảo rằng « Tu pháp môn nầy thì cao hơn tu pháp môn kia« , hay « Kinh nào Phật thuyết cho các hàng trí thức, thì sẽ giúp ích thành Phật giải thoát, nhanh chóng, rốt ráo hơn, kinh Ngài thuyết cho lớp bình dân », v.v…( ?)

 Thực ra, chính kiến chấp của một số kẻ chủ quan, xem mình quan trọng, tự phong là « thượng căn », cảm thấy mình thuộc loại cao, phải tu theo những giáo lý siêu đẳng, dù họ có thuận duyên bước vào nhà Phật, với dăm ba bài giáo lý « đại thừa » đi nữa, thì kiến chấp ấy tự nó vẫn có thể làm cho họ nhỏ lại, thấp xuống, và mắc dính, vào sa đọa.

 Trái lại, hoàn toàn không phải vì một người, hằng ngày chỉ nghe những pháp Phật bình thường, dễ hiểu, chưa « may mắn » nghe được những Phật pháp sâu xa, mà họ sẽ không hưởng được cái giá trị tuyệt vời, rốt ráo của Phật Pháp giải thoát tối thượng.

 Hoặc giả cũng có những kẻ lắm khi họp « nhân duyên », được nghe những pháp Phật sâu sắc, do các hàng tôn sư danh tiếng thuyết lại, nhưng giờ phút nào những cá nhân ấy còn ngã chấp vào sự « cao siêu » đó, rồi xưng tụng niềm tin của mình là « thượng căn, thượng trí », thì giờ phút ấy, họ vẫn không tránh khỏi trở thành thấp thỏi, chật hẹp, vướng mắc, si mê.

 Những nhà nghiên cứu Phật giáo khiêm nhượng, nghiêm chỉnh, hoàn toàn không đồng ý với sự phân biệt tông phái, danh xưng thấp cao trong đạo Phật, qua lăng kính học thức, giai cấp, tiểu đại, hay qua giai tầng xã hội, huyết thống.

 Hãy nhìn vào sử tích Phật giáo gọi là « đại thừa » : Lục tổ Huệ Năng là người chẳng biết đọc, biết viết là gì ? Ngài đã chỉ là một tiều phu gánh củi, không là dân khoa bảng, hay triết gia thừa tài biện lý chi cả. Nhưng nhờ kết quả công phu tu hành nào, mà Ngài đã tỉnh ngộ sau khi chỉ nghe một câu trong kinh Kim Cương « Ưng vô sở trú nhi sinh kỳ tâm«  ?

 Sự liễu đạo trong chốc lác của Huệ Năng chắc chắn không phải là « tu nhất lúc, ngộ nhất thời », mà phải là kết quả của thật nhiều quá khứ viên tròn Ba La Mật. Giọt nước cuối cùng trong nháy mắt làm đầy cái chén giác ngộ, không có nghĩa là trong chén chỉ có một giọt nước thanh tịnh. Và giọt nước ấy đủ khả năng làm đầy cái chén. Xin chớ hiểu lầm sự thật nầy về đạo quả Phật giáo !!!

 Ngoài ra, Phật ngôn cũng đã nói : Nếu biển là nơi tất cả sông suối trên mặt đất chảy vào, nhưng ở đó chỉ có một vị mặn duy nhất, thì giáo lý của đức Phật, tuy được diễn tả trong nhiều trường hợp khác nhau, cũng chỉ có một vị duy nhất là vị giải thoát.

 Ai xưng mình là người học Phật mà nghĩ rằng : Có Phật Giáo loại « thượng căn » nầy giúp cho người học thức, hiểu mau, và được siêu độ  về cực lạc, giải thoát, « cao cả hơn » Phật Giáo loại « hạ căn » kia, thì đó là một điều lầm lẫn, xưng tụng tự ngã vô cùng tai hại.

 Trái lại hãy coi chừng : Càng « học thức », càng nhiều khả năng biện thuyết « sâu xa », phức tạp, tạo được « kính phục » của đông người bao nhiêu, thì chấp kiến, hay sở tri chướng của họ càng nặng nề, sa đọa bấy nhiêu. Thực ra, cái gọi là « hiểu thấu giáo pháp » của « học thức triết lý » ấy vốn chủ quan biện luận, dựa trên cầu kỳ phân tích tâm lý, dẫn đến vướng mắc tư duy, nhiều hơn là pháp học của những tâm hồn giản dị, chuộng thực hành, đắc được Thánh Pháp qua tuệ giác trực tiếp, nhờ vào hạnh thản nhiên hành đạo.

 Nếu dựa vào kinh điển mà nói, thì chỉ có luân hồi trong lục đạo tam giới, thì mới có cảnh thấp cao, lớn nhỏ, vì tham sân si vẫn còn, và bị  ngã mạn, vô minh dẫn dắt. Chứ khi đã thanh tịnh giác ngộ, vượt ra khỏi cố chấp luân hồi rồi, thì quả Phật giải thoát chỉ có một phẩm duy nhấtbất sinh diệt, và tuyệt đối không còn so với sánh, cao với thấp, tiểu với đại, hợp với tan, nối liền với những mạn lưới vô minh, chứa đầy vọng tưởng, tương duyên với phiền não !

 Một lần nữa, chúng tôi xin chân thành lưu ý quí vị : Dù chúng ta có thận trọng diễn đạt đến đâu, ngôn ngữ vốn rất dễ sai lạc và hạn chế. Nó chỉ để truyền thông tương đối giữa con người với con người mà thôi. Dẫu cách hành văn của một ngòi bút có sắc bén, khéo léo như thế nào, cũng chỉ để trình bày một số vấn đề, trong một hoàn cảnh, hay thời gian, không gian nào đó. Sai lạc qua ngôn ngữ phải hằng xem là một điều khó có thể tránh. Nhưng chúng ta cố gắng để nếu bị sai lạc thì kịp thời biết, hầu phục thiện đúng lúc.

 Sau cùng chúng tôi phải tạm dùng nhóm từ sau đây để biểu lộ sự mở toang tri kiến, trong các tư tưởng tôn kính, đối với các đấng Bồ Tát tiến lên Toàn Giác, siêu xuất tam giới rằng :

 – Phật và Bồ Tát là những đấng vô song như thế. Xin chớ nhìn sai lệch, và xin chớ làm cho thế gian mê tín, hiểu lầm, xem các Ngài là những thần linh, ngồi nhận lễ vật để ban phước xá tội !

Trang trước                                                                                        Trang tiếp