Phật Giáo Nguyên Thủy và Thuyết Nghiệp Quả

LỜI  GIỚI  THIỆU

 

Do một nhân duyên kỳ ngộ, đạo hữu Nguyễn Điều đến với Phật Giáo Nguyên Thủy trong thời niên thiếu, mặc dù sinh ra trong một gia đình thuộc truyền thống Bắc Tông. Từ đó, ông được nuôi dưỡng và trưởng thành trong Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam. Đã từng nắm giữ chức vụ Thư Ký Giáo Hội Tăng Già, dưới nhiệm kỳ Hòa Thượng Tăng Thống Giới Nghiêm. Sau đó, Ông được Giáo Hội tiến cử đi du học tại trường Nalanda, Ấn Độ, một đại học đã đào tạo nhiều danh tăng lỗi lạc như ngài Huyền Trang, Hòa Thượng Thích Minh Châu, Hòa Thượng Thích Huyền Vi…

Không phải ngẫu nhiên mà đạo hữu Nguyễn Điều đến với « Nhóm Nghiên Cứu Và Thực Hành Phật Giáo » tại Quận 13 Paris. Đây là một nhóm cư sĩ tụ họp để khuyến khích, nâng đở, cùng nhau học hỏi và tu hành, không phân biệt người nầy thuộc chùa nầy người kia thuộc chùa nọ, không phân biệt thầy tổ và phương pháp tu tập.

Chủ trương của Nhóm Nghiên Cứu Và Thực Hành, là làm sao hiểu đúng và hành đúng theo Phật Pháp, trong cương vị một người cư sĩ Phật tử, còn phải lăn lộn với đời. Mặt khác, phải đào sâu trong Kinh Điển, đối chiếu cùng thực tại khoa học, đồng thời đem áp dụng vào đời sống. Áp dụng vào đời sống mới là phần quan trọng. Phật Giáo nói chung thiếu khía cạnh nầy vì chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh giải thoát.

Soạn phẩm quý vị cầm trên tay là một phần chương trình học của nhóm, được đạo hữu Nguyễn Điều khai triển và viết ra, để giúp chư Phật tử có tài liệu tham khảo. Soạn giả trình bày về định luật « Nhân Duyên Quả » được thể hiện qua Thập Nhị Nhân Duyên, mà Đức Phật đã phát hiện khi Ngài giác ngộ dưới tàng cây Bồ Đề. Đây là một thuyết tối căn bản trong Phật Giáo, từ đó người ta có thể giải thích tất cả những thuyết khác, như tái sanh, nghiệp báo, vô ngã, vô thường… Trong Tương Ưng Bộ Kinh III, Đức Phật đã nói: « Ai thấy Duyên Khởi là thấy Pháp. Ai thấy Pháp là thấy Ta (Phật) ». Ai thấy Phật là thấy sự giác ngộ cùng tột.

Trong phần đầu về lịch sử Phật Giáo Nguyên Thủy, tác giả đưa ra luận cứ có tính cách khảo cổ, để giải thích nguồn gốc của hai chữ Hīnayāna (Tiểu Thừa) và Mahāyāna (Đại Thừa). Đây là lần đầu tiên một nhà nghiên cứu đưa ra một lý giải độc đáo. Ngoài ra, rải rác trong quyển sách, soạn giả còn nêu ra những quan điểm của mình về các diễn tiến, biến thái của Phật Giáo, để điều chỉnh những cái nhìn lệch lạc của một số Phật tử.

Xin cám ơn tác giả đã dành cho tôi sự ưu ái giới thiệu soạn phẩm nầy, và xin cầu chúc quý vị đọc sách với thân tâm an lành, hỷ xả, trong chánh tín và trí tuệ.

BS. Nguyễn Tối Thiện


 

 Lời nói đầu

 

 Lễ Tam Hợp hằng năm (nhằm ngày rằm tháng tư Âm lịch), là dịp kỷ niệm 3 thời điểm lịch sử : Đản Sinh, Thành Đạo, và Nhập Niết Bàn của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni.

Đối với các cộng đồng Phật tử VN nói riêng, và mọi cộng đồng Phật tử trên thế giới nói chung, Lễ Tam Hợp nầy rất quan trọng. Nhất là những người tin Phật theo truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravāda).

Riêng rằm tháng tư Âm Lịch năm nay lại đánh dấu Phật lịch 2550, một con số nguyên mang nhiều ý nghĩa đáng ghi nhớ. Nhất là đáng ghi nhớ trong tinh thần bảo vệ và phát huy Phật giáo. -Chú ý, nếu chúng ta muốn biết ngày Bồ Tát Sĩ Đạt Ta ra đời cách hiện tại bao lâu, chúng ta chỉ cần lấy Phật lịch 2550 (tức kể từ ngày Phật nhập Niết bàn) cộng với 80 (tuổi thọ đức Phật), chúng ta sẽ có ngày Đãn Sinh quí báu ấy cách nay 2630 năm.

Quay lại nhóm từ « ý nghĩa đáng nhớ » : Ý nghĩa thứ nhất là giáo lý đức Thích Ca Mâu Ni có tuổi thọ 5000 năm, mà từ ngày Phật nhập Niết Bàn đến giờ (5/2006), thời gian đã trôi qua 2550 năm, tức là chúng ta đang sống trong giai đoạn hơn phân nửa tuổi thọ của Thích giáo đã qua rồi.

Người tin kính Tam Tạng kinh điển của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni (gồm 84.000 pháp môn) làm sao tránh khỏi chợt nghĩ rằng : Còn 2450 năm nữa sẽ đến 5000 năm (mãn thời tín lý), lúc ấy Phật Giáo Thích Ca sẽ hoàn toàn không còn trên thế gian nầy. Cho dù sau giáo lý đức phật Thích Ca, thì sẽ tới giáo lý đức Phật Di Lạc. Nhưng nói đến ơn ích của giáo lý một vị Phật tương lai cách hiện tại còn những 24 thế kỷ rưỡi, là một điều xa vời thực tế, so với kiếp sống của con người, đa số không đạt đến tuổi thọ 100 năm.

Ý nghĩa thứ hai, người tu Phật khi tưởng niệm đến Đức Thích Ca Mâu Ni, đại bi cứu khổ, đã để lại cho đời một thánh đạo giải thoát, mà mình đang thụ hưởng thiện quả. Nếu chúng ta muốn tỏ lòng tri ân, thì không còn làm gì khác hơn, là cố gắng soi sáng, xiển dương và bảo vệ giáo lý trọn lành nầy.

Nói cách khác, là nếu hiện tại chúng ta đang được an vui, hạnh phúc, thăng tiến dưới mái chùa, hay ở tại gia, nhờ ánh sáng của đấng cha lành Thích Ca lịch sử, cũng như nhờ giáo lý của đấng Cha Lành Toàn Giác Pháp Thân, thì không vì một lẽ gì chúng ta lại có thể sống hằng ngày, hằng giờ, hay hằng phút, bằng thân, khẩu, ý, thường xuyên xưng tụng một hồng danh Phật hiệu nào khác, dù chúng ta giỏi biện luận, hay « triết học » cao siêu đến đâu. Người tu Phật xứng đáng, trước tiên là người có hạnh chân thành biết ơn nguồn gốc cao thượng, đang đem lại hạnh phúc lành mạnh, tiến hóa, trong hiện tại cho mình.

Ý nghĩa thứ ba là giáo lý của một vị Phật xuyên qua thời gian, rất có thể bị « hiểu biết » dị biệt, dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Những góc cạnh nầy lắm khi đưa đến thiên lệch, méo mó, tăng cường tình trạng suy giảm phẩm cách giáo pháp, gây thiệt thòi, mất mát cho các thế hệ con em tin Phật về sau. Như có hai câu thơ của một thi sĩ nào đó đã nhắc :

« Lòng gần đạo Phật mà buồn ;
E rằng suối đã rời nguồn quá xa ». (nhn).

Trên đây là lý do tại sao, nhân kỷ niệm rằm tháng tư năm nay (dl 2006), Phật lịch 2550, với tấm lòng muốn báo ơn muôn một, Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, chúng tôi đã thành tâm tập hợp những bài viết đó đây, và nhiều đoạn pháp thoại, được trình bày trong phòng họp của nhóm «Nghiên Cứu Và Thực Hành Lời Phật Dạy» quận 13, Paris, Pháp Quốc, do Bác sĩ Nguyễn Tối Thiện tổ chức, rồi đánh máy, sửa chữa, và ấn tống cúng dường đấng Trọn Lành Từ Phụ.

Mặt khác, làm như vậy, chúng tôi cũng để nhắc nhở cho chính mình, cùng chư đồng đạo, cố gắng dùng tuệ giác hướng về nguồn gốc bình đẳng, của Phật Giáo Nguyên Thủy.

Riêng các phần pháp thoại vừa nêu, vốn nằm trong một chủ đề Phật học nòng cốt là Thuyết Nghiệp Quả, nên chương hai, sưu tập Thuyết Nghiệp Quả dưới 7 dạng, cũng được coi là trọng tâm của soạn phẩm nầy.

Trong tập sách, chúng tôi lại cống hiến thêm, đến chư độc giả tu Phật xa gần, một đề tài phổ thông, đáng soi sáng nữa, là « Lý Nhân Quả Qua Ảnh Hưởng Văn Hóa ». Hy vọng cả 3 chương, hợp thành soạn phẩm, sẽ giúp ích cho chư đạo hữu phần nào trong việc nghiên cứu Phật học.

Tưởng cũng cần nhắc lại rằng, ngôn ngữ vốn là một phương tiện không hoàn hảo, để chuyên chở những tư tưởng, hay kiến thức trừu tượng cần chia xẻ, và khó hy vọng được thấu hiểu chính xác. Nên sau khi xem xong tuyển tập, quí độc giả có thể có sự bất đồng ý kiến, hay tìm ra một số sơ sót trong phần diễn đạt, chúng tôi xin sẵn sàng đón nhận sự góp ý xây dựng của quí vị.

 

Chân thành cám ơn trước.

 

Nay kính.

                          Tuệ Lạc (Nguyễn Ðiều)

Đọc tiếp