V
-Hôm nay là ngày «gần gũi» sau cùng, trước khi thầy trò chúng tôi tạm chia cách…-Mới đặt chân vô chùa, tôi đã để ý theo dõi những chuẩn bị hành lý của sư huynh. Tôi mạnh dạn yêu cầu sư huynh cho phép tôi phụ xếp đồ đạc vào va-li cho người. Tôi rất sung sướng làm việc đó, bên cạnh một nhà tu khả kính.
Vừa thu xếp mấy cuốn sách có lẽ không cần mang theo qua Miến Ðiện, sư huynh vừa hiền từ nói với tôi :
– Tuần trước lễ Phật đản, sư huynh bận quá, chẳng sửa soạn được chi cả. Cũng không có thì giờ để nói chuyện với Tâm Ðạo nữa.
Tôi cảm động vì sư huynh đã nghĩ đến tôi, liền đáp :
– Sáng mai sư huynh mới lên đường, chúng ta còn trọn ngày hôm nay nữa mà !
Sư huynh cười khì :
– Coi vậy chứ thời gian trôi nhanh lắm.
Tôi nhân cơ hội vội hỏi :
– Em còn một chút thắc mắc, chẳng biết có thể nêu ra được không ?
– Thắc mắc gì vậy ?
– Thiền Minh Sát, hay «Thiền Tuệ» mà sư huynh đã đề cập phớt qua trong lần trước, có liên quan gì với «năng lực thông quán» trong phép tu định tâm nơi hơi thở không ?
Ánh mắt sư huynh chợt sáng rực, vẻ người hoan hỷ thấy rõ, sư huynh vừa gật đầu vừa tươi cười nói :
– Tâm Ðạo không nhắc, sư huynh cũng quên mất. Ðây là một điểm quan trọng. Như sư huynh đã diễn giải, Thiền tức quán (hơi thở), khi tu ở bậc thấp thì nó là thiền định, có khả năng làm cho tâm an trụ. Nhưng khi tiến lên bậc cao, nó trở thành minh sát (thông quán). Sư huynh thích dùng hai chữ «thông quán» hơn «minh sát». Vì thông quán có nghĩa là xét thấy thông qua sự chứng nghiệm trong chính bản thân mình. Ðúng ra, theo hai nguồn giáo lý Tứ Niệm Xứ (Catusatipatthàna sutta), và Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhimaggasutta), trong Trung Bộ Kinh (Majjhimanikàya), thì thiền tức quán (niệm hơi thở = Anàpànasati) thuộc về niệm thân (Kàyànupassanà). Niệm thân nầy (gián tiếp bao gồm niệm thọ=trong thân sống luôn luôn có cảm giác hay thọ), -là môi trường căn bản của hai hay ba niệm kia. Nếu niệm thân chưa chứng định vững chắc, thì hành giả không thể nào hành qua các niệm khác.
– Sau niệm thân, ba pháp niệm còn lại là gì hả sư huynh ?
– Trừ niệm thân ra, ba niệm còn lại là niệm thọ (vedanànupassanà), niệm tâm (cittànupassanà), và niệm pháp (dhammànupassanà).
– Sư huynh có thể lược giảng cho em nghe cả bốn pháp niệm ấy được không ?
– Sao lại không được. Nhưng sư huynh khuyên Tâm Ðạo chớ «cấp tiến», bắt chước những người chủ trương «thiền tuệ», tổng hợp tu một lúc bốn pháp niệm, sẽ rơi vào vòng lẩn quẩn… !
Tôi xác nhận :
– Em chỉ hỏi sư huynh cho biết thôi. Chứ khi áp dụng, sư huynh không nhắc, em vẫn có thói quen làm bất cứ việc gì cũng bắt đầu từ chỗ căn bản, thấp lên cao.
– Tốt lắm, như vậy sư huynh xin giảng giải một cách ít rườm rà như sau :
Niệm thân là tu luyện để tâm an trụ trong thân. Nhất là dùng đề mục hơi thở để tâm hướng nội, chứng thật những biến chuyển sinh diệt của thân nầy. Thân con người gồm hai phần là danh và sắc. DANH ám chỉ tất cả những gì được đại diện bằng từ ngữ, bằng ý thức (phân biệt), và bằng tư duy (suy luận). SẮC ám chỉ mọi vật chất (vi tế hay thô kệch) và các đặc tính gây cảm giác nằm trong vật chất ấy (như nóng-lạnh, mềm-cứng, đặc-lỏng, động-tĩnh, lồi-lõm, rõ-mờ, kết-phân…v…v…). Danh và sắc còn gọi một cách khác là ngũ uẩn (Pañca khandhà), gồm sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, và thức uẩn.
Sắc uẩn là xác thân. Thọ uẩn là những tiếp nhận do CẢM XÚC qua các giác quan. Tưởng uẩn là phản chiếu, vì tích tụ dư âm lưu lại của những cảm nhận, nhiễm trong sinh thể và ý thức (có thể gọi là hữu phần hay ký ức). Hành uẩn là những dư âm ấy tự khích động, dựa trên những huân tập thành tư duy, kinh nghiệm. Thức uẩn là cái biết được thành lập từ các kinh nghiệm cũ tự thành lập một cách dây chuyền, và phụ thuôc vào nhau, trước các kinh nghiệm mới, mà nơi tồn trử và vận hành người ta gọi là Ý căn hay giác quan thứ sáu. Toàn thể nhân sinh, khi phân tích theo nhà Phật, thì không gì khác hơn là tổng hợp của những tập hợp vừa nói (hay UẨN=khandha).
– Còn niệm thọ là gì hả sư huynh ?
– Khi tâm đã được thuần định nhờ niệm thân, nhất là đắc chứng sở tri (cảm giác minh bạch !), hành giả dùng khả năng ấy để nhận thấy mọi nhân duyên, và phân biệt những biến thiên thuận nghịch (hậu quả), của cảm giác, cảm dục, và cảm thức. Nhất là xác nhận nhân duyên nào làm nảy sinh cảm thọ gì. Chẳng hạng như tâm tham được duyên đáp ứng thì thuận (dễ chịu=mānāpa vedanā), không được đáp ứng thì nghịch (khó chịu=amānāpa vedanā). Thuận với thể xác thì cảm thấy sung sướng (sukha), nghịch với thể xác thì cảm thấy đau đớn (dukha). Thuận với ý muốn thì cảm thấy vui thích (somaṇa), nghịch với ý muốn thì cảm thấy bất mãn (domaṇa), sân hận (dosa). Thuận với tưởng nhớ thì cảm thấy khoan khoái, nghịch với tưởng nhớ thì cảm thấy bức rức. Thuận với pháp hành (tư duy) thì cảm thấy phỉ lạc, nghịch với pháp hành thì cảm thấy vọng động, hoang mang…v…v…
-Hành giả niệm thọ không phải là người «tĩnh tâm phân tích, suy luận», xét theo tư kiến thế gian, theo học hỏi ngoại thân, hay theo kinh nghiệm chủ quan, chấp trước (quá khứ), mà ấy chính là chánh niệm nhờ an trụ (trong hơi thở = tức quán) thấy rõ mọi trạng thái thuận nghịch, vui khổ hiện tại một cách thanh tịnh, chính xác trong thân mình, rồi xác nhận nó chỉ là như thế.
– Còn niệm tâm ?
– Niệm tâm là pháp thứ ba trong Tứ Niệm Xứ, nói lên sự thông quán của các loại tâm, xuyên qua công phu an trụ đã được thuần thục nhờ thiền định (hơi thở). Trong khi niệm thân và niệm thọ chỉ lấy sắc pháp cụ thể và hữu biên làm điểm tựa, thì niệm tâm vừa nằm trong sắc pháp vừa ở ngoài sắc pháp, vừa hữu biên vừa vô biên. -Ðối với niệm thân và niệm thọ, sắc pháp là sự «sống» theo biến chuyển vật chất (thành trụ hoại không = sinh lão bệnh tử = vô thường), và hữu biên là thời gian hiện tại. Nhưng đối với niệm tâm, sắc pháp có thể là sự sống vật chất hay phi vật chất, hữu biên có thể là vô biên, vì hiện tại chẳng phân biệt với quá khứ và tương lai.
-Thiền giả niệm tâm không phải là người cố theo dõi xem «hiện tại tâm mình đang nghĩ gì ! -Ðiều suy nghĩ ấy được phát hiện ra sao ?» Vì hễ có hiện tại, có ý thức, có suy nghĩ, có đối tượng…tức là có «Cetasika» (tạm dịch là tâm sở) thuộc về thọ, chứ không thể gọi là niệm tâm được.
*Nói vắn tắc, NIỆM TÂM là vô tư biết «thức tánh» mình đang ở trạng thái nào. «Nó» an trú hay bị chi phối bởi cảnh tượng gì !
(Về sự phân biệt bốn chủ đề trong Vi Diệu Pháp, là Tâm Vương (Citta), Tâm Sở (Cetasika), Sắc Pháp (Rùpa), và Niết Bàn (Nibbàna), quí Phật tử phải chịu khó để ra một thời gian đủ dài, để nghiên cứu thật kỹ Abhidhamma-Sangaha (Thống Kê Vi Diệu Pháp), thuộc Tạng Luận Phật giáo Nam Truyền. Năm ba bài giảng dưới hình thức pháp đàm, không thể nào soi sáng được !).
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp :
– Tuy nhiên, giữa hai pháp niệm thọ và niệm tâm có nhiều điểm liên quan, tùy theo trình độ chứng đắc. Chẳng hạng như khi hành giả «nhận thấy» một tâm tham phát sinh trong «con người mình»…. Nếu hành giả là bậc sơ định hay cận định (sở tri), hành giả sẽ nhận ra những ảnh hưởng của nó đối với thân tâm. (Thấy nó là một chướng ngại mà hành giả phải thù thắng). Nhưng nếu hành giả là bậc đã đắc được nhất định (thông quán), thì hành giả sẽ nhận ra nó chỉ là một trạng thái của tâm. -Nghĩa là nhận thức rằng, «nếu phải sống với xác thân ngũ uẩn chưa hết tuổi thọ nầy, mà không hành thiền, thì khi ấy trạng thái tâm phàm vẫn hiện hữu». Nói tóm lại là niệm tâm rất vi diệu, phức tạp, không phải đơn giản là «nhìn vô tâm»…như một số người đã mô tả.
– Và sau cùng, niệm pháp là gì hả sư huynh ?
– NIỆM PHÁP là công phu tối thiện của người tu Phật. Pháp là từ ngữ rất rộng, thâm mật. Có thể nói là «pháp bao gồm tất cả». Nhưng trong phép tu thiền, «pháp» ám chỉ những khả năng nơi tâm, nếu hành giả ở 2 bậc chuẩn hành và cận định. Và pháp cũng ám chỉ những diệu dụng của tâm, nếu hành giả đắc được từ nhất định, hay xả định trở lên.
*Niệm pháp thuần thục trong thiền học đồng nghĩa với chứng pháp. Bậc chưa đắc định mà thuộc lòng, lập đi lập lại một số Phật ngôn hay chân lý trong tâm, thì gọi là tụng pháp chứ không phải là niệm pháp. Niệm pháp đối với các bậc đắc thiền là phát triển tịnh hạnh, hóa giải ác pháp, chứ không phải so sánh giữa thiện pháp với ác pháp, để công nhận và tin tưởng rằng «thiện pháp là nguồn gốc của sự an vui, ác pháp là nguyên nhân đưa đến đau khổ».
Nói một cách thực tế, các bậc sơ định và cận định khi niệm pháp thì thấy rõ :
«-Nếu tâm chưa an trụ vào nội thân, hành giả chưa hiểu biết về bản thể».
«-Nếu tâm an trụ vào nội thân ít, hành giả hiểu biết về bản thể ít».
«-Nếu tâm an trụ vào nội thân nhiều, hành giả hiểu biết về bản thể nhiều».
Và «khi tâm hoàn toàn an trụ trong thân, thấy rõ toàn thân đang sinh và diệt từng sát na, từng nháy mắt, tiến dần đến chỗ tiêu hoại, thì hành giả sẽ minh bạch thực trạng của thân tâm, đồng thời chứng đắc pháp vô ngã, không còn nghi ngờ dư sót ! ».
– Còn các bậc đắc từ nhất định (hay tứ thiền) trở lên, niệm pháp là sao ?
– Những bậc ấy phần nhiều khi niệm pháp là họ nhập vào SỰ AN TRÚ (appanā). Vì đối với họ, bất cứ pháp nào cũng có thể là một đề mục. Nói cách khác niệm pháp là pháp môn siêu việt (thuộc về tuệ phần), còn vi diệu hơn thiền định và thiền minh sát. Chẳng hạng như “pháp sân” (Dosa hay nóng giận), khi được một thánh nhân quán niệm, nó lập tức tự biểu lộ rằng «sân hận là thiêu đốt, là hủy hoại thân tâm tạm bợ nầy». Rồi thánh nhân liền nhận rõ đặc tính thiêu đốt ấy, và nhập vào pháp vô ngã tướng. Ðối với chư thánh nhân, tất cả các pháp (bất kể thiện, ác, hay trung tính) đều có thể là đề mục, đưa đến xác nhận lý vô ngã một cách anh minh (vijjā). Nói tóm lại, niệm pháp là thụ đắc khả năng sáng suốt tuyệt đối, thanh tịnh tiến hóa, và chứng ly tham ly sân ly si. Hành giả nào chứng tới bậc niệm pháp, là kẻ đã thấy rõ vòng sinh tử luân hồi bắt đầu như thế nào, và khám phá ra con đường giải thoát.
Tôi thành thật hỏi :
– Như vậy, chỉ có đức Phật và chư thánh nhân mới thực sự biết niệm pháp. Còn chúng ta chắc còn lâu lắm mới làm được, phải không sư huynh ?
– Tâm Ðạo nói rất đúng. Cái mà một số thiền giả tưởng lầm là niệm pháp, thực ra chỉ là tụng pháp (do tưởng uẩn vận hành) như sư huynh đã nói.
Tôi nhận thấy sư huynh giảng giải điều gì cũng rất cẩn trọng, trong lòng tôi dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc.
Vả lại, hôm nay là ngày cuối tôi được gần sư huynh, trước khi người lên đường đi xa. Tôi cảm thấy thật áy náy đã «bắt» sư huynh giải đáp những thắc mắc cho tôi đến giờ chót. Tôi liền hỏi sang chuyện khác :
– Thưa sư huynh. Sư huynh sang Miến Ðiện tu thiền bao lâu mới trở về ?
– Khoảng một hai năm. Nhưng nếu pháp hành tiến triển tốt đẹp thì không chừng sư huynh sẽ ở lại nhiều hơn.
Sư vừa nói vừa bước lại lấy bức tranh đức Phật ngồi tham thiền bên cội cây Bồ Ðề, đưa cho tôi…nhờ lau sạch rồi bỏ vào trong va-li…
Tôi buộc miệng :
– Bộ bên Miến Ðiện không có hình Phật cỡ nầy sao sư huynh ?!
– Chắc có chứ, phải có nhiều lắm. Nhưng bức tranh nầy là «di vật» của vị cố đạo sư đã dạy thiền cho sư huynh khi xưa tại Ấn Ðộ.
Tôi nhận ra sư huynh là người rất tôn kính thầy tổ và chung thủy với ơn nghĩa, kỷ niệm, tôi lại hỏi :
– Em thấy sư huynh thường dùng tự điển, vậy có đem loại soạn phẩm song ngữ tiếng Phạn (Pāḷī) và tiếng Anh không ?
– Phải đem theo, vì nó sẽ giúp sư huynh rất nhiều trong việc tra cứu kinh sách thuộc nguồn Tam Tạng.
Ðoạn vị tu sĩ kéo hộc tủ lấy một cuốn sách thật dày đưa cho tôi…
Tôi thấy quyển tự điển còn mới, liền khen :
– Sư huynh giữ sách giỏi thật. Bao nhiêu năm rồi mà nó vẫn còn nguyên.
Sư huynh cười :
– Sách nầy ấn bản xưa, tương đối khó kiếm. Hơn nữa, sư huynh nghĩ «biết đâu sau mình, cũng còn người khác cần dùng để tra cứu», nên sư huynh đã bảo trì, bao bìa cẩn thận hơn mười mấy năm qua, mới tháo bỏ bao cũ đã hư đó.
– Hèn chi bìa thật còn mới tinh. Sư huynh muốn Tâm Ðạo bao lại không ?
– Nếu em phát tâm.
Vừa nói sư huynh vừa thọc tay vào ngăn kéo, lấy một tờ giấy màu khổ lớn…
Tôi yêu cầu :
– Sư huynh cho phép Tâm Ðạo mang nó ra tiệm, đo và mua một bao bìa thật tốt, bằng nhựa được không ?
– Chi sang vậy, tốn tiền và đòi hỏi thì giờ.
– Không sao, em cảm thấy muốn làm việc đó.
Vị tu sĩ cười xòa :
– Tùy Tâm Ðạo.
Tôi mừng rỡ cám ơn sư huynh, rồi ôm cuốn sách bước ra ngoài…
***
Cuốn tự điển được bọc bìa nhựa nổi vân nhạt và trong suốt, trông rất xinh. Tôi cố ý chọn một tấm bìa chắc chắn nhất, để giữ sách càng lâu càng tốt. Ngoài ra, tôi cũng đã mua biếu sư huynh một bộ bút máy Parker loại bền, màu nâu…
Tôi tự nhủ «mình lại bắt chước cô gái tặng sách cho sư huynh ngày xưa rồi !»…
Chợt tôi cảm thấy tò mò, đôi tay tự động mở cuốn tự điển ra, xem những giòng chữ của «cô tín nữ» nào đó viết. Quả thật, nét chữ tuyệt đẹp, đều nét, gọn gàng. Lời hiến tặng thanh nhã, hướng thượng. Màu mực tuy đã lâu, trải qua thời gian hơn mười năm trời, nhưng vẫn còn đậm đà. Dường như một chút linh hồn của «thí chủ» đã gởi gắm vào đây….! – Không hiểu sao, bỗng dưng tôi cảm thấy quí mến người đàn bà cùng tín ngưỡng mà tôi chưa bao giờ gặp mặt.
Trả tiền xong, đáng lẽ tôi phải nhanh chân quay về chùa, nhưng tôi vẫn đứng yên, bàng hoàng với cuốn tự điển trên tay….
Những lời lẽ của sư huynh thuật lại, có liên quan đến cô gái tặng cuốn tự điển, rất đơn giản thân thương, chỉ như một luồng gió thoảng, giống như hai áng mây trôi, từ hai phương trời vô tình hợp lại rồi tan. Nhưng chẳng hiểu sao tôi lại cảm thấy nó đẹp. Ðẹp như một thiên tiểu thuyết, đẹp như một đóa sen vô ngại, được người ta quí mến, nâng niu, đem cắm vào bình sứ, cho đến khi màu hoa phai sắc, cánh hoa úa tàn…!
Tôi vốn dĩ có bản chất yêu nghệ thuật, thích văn chương, dùng ngòi bút ca ngợi những cái gì tinh khiết, trong trắng. Tôi thường bị ba tôi cảnh cáo «Viết lách là một nghề bạc đãi». Nhưng tôi vẫn thích viết, vẫn đam mê dùng ngòi bút «trang trải ra» những tinh anh, những bông hoa từ tư tưởng con người. Tôi nghĩ thầm «tôi sẽ chép lại tất cả những lời sư huynh đã giảng cho tôi nghe, trên những trang giấy». Sư huynh đã chẳng nói với tôi rằng «Người sẽ viết một cuốn sách nói về thiền, để tưởng nhớ hai vị đại sư dạy thiền đó sao ?». -Ý nghĩ ấy chợt làm cho tôi cảm thấy tinh thần được định hướng, nhất là sự định hướng sẽ «thực tế hóa» cho tôi một việc làm. Tôi phải tôn trọng việc làm nầy, vì nó tất nhiên giúp cho tôi khỏi trải qua những cuối tuần «độc thoại», sau khi sư huynh đi rồi.
Ðoạn tôi rảo chân trở về chùa…
Khi tôi về đến chùa, bước vào nhà đường, thì thấy sư huynh đang nói chuyện với một bà Phật tử đứng tuổi. Bà nầy ít khi đi chùa, nhưng tôi nhớ đã có lần gặp qua. Bà khoảng tuổi mẹ tôi, và sắc diện rất kiều diễm. Tôi để ý thấy đôi mắt của bà đỏ hoe…ươn ướt….
Bà thành khẩn nói vơí sư huynh :
– Thầy sang bên đó hằng ngày hành thiền, xin đừng quên bố thí cho Tường Vân một phần phước.
Tôi chẳng hiểu gì cả, nên đứng im…
Sư huynh có vẻ «khích động», nhìn cuốn tự điển trên tay tôi, rồi thân thiện giới thiệu tôi với bà :
– Ðây là Tâm Ðạo, thường tìm hiểu thiền pháp với thầy. Em đã có nhã ý mang cuốn tự điển mà Tường Vân biếu cho thầy ngày xưa, đi bao bìa mới.
Rồi sư huynh quay sang giới thiệu bà với tôi :
– Và đây là đạo hữu Mỹ Hạnh, thân mẫu của người đã tặng cho huynh cuốn tự điển nầy. Vừa nói sư huynh vừa nhìn sâu vào khuôn mặt của người đàn bà, với ánh mắt đầy từ bi, an ủi. Ðoạn sư huynh nói :
– Ðạo hữu không yêu cầu, thầy cũng thường xuyên làm việc đó. Chia phước hay hồi hướng công đức đến những ai từng giúp đỡ mình…là bổn phận tất nhiên của một người tu. Ngày nào thầy còn sống và nhìn thấy cuốn tự điển nầy, ngày ấy thầy còn cầu nguyện cho người thiện tâm, đã ân cần mua tặng nó đến thầy.
Tôi tò mò hỏi bà Mỹ hạnh :
Thưa bác, chị Tường Vân bây giờ ở đâu ?
Câu hỏi của tôi vô tình đã làm cho bà không cầm được nước mắt. Bà ngẹn ngào đáp lời tôi qua tiếng nấc, một cách đứt quãng :
– Tường Vân bây giờ đang yên giấc, nằm sâu trong lòng Thái Bình Dương.
Sư huynh không để cho tôi buồn lây, lúng túng…liền chỉ ghế và mời bà Mỹ Hạnh ngồi nán lại một chút, rồi quay qua tôi kể tóm tắt…chuyện xưa :
– Sau khi dự lễ xuất gia của sư huynh, cô ấy đã xin cha mẹ cho phép đi tu, làm một ni cô bên Phật giáo Bắc Truyền. Mặc dù ông bà Mỹ Hạnh lúc ấy rất giàu có, Tường Vân lại là con một nữa. Nhưng ông bà đã không thể dùng sung sướng vật chất, cản trở được chí nguyện thoát ly hồng trần của đứa con gái duy nhất….
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp :
– Và tiếp theo, cuộc đời của một nữ tu cũng không có gì đặc biệt…-Có chăng là quê hương Việt Nam chúng ta, sau đó đã trải qua một giai đoạn vật đổi sao dời. Ấy là…biến cố ba mươi tháng tư năm 1975. Một biến cố đã đưa đẩy ông bà Mỹ Hạnh cùng vài người bạn di tản sang Pháp một cách gấp rút. Họ đã di tản cấp bách đến độ không kịp vào chùa, đón người con gái yêu quí đem theo…-Họ sang đây thì gặp sư huynh, đồng cảnh ngộ !
Mặt khác, ông bà Mỹ Hạnh vẫn nghĩ rằng Tường Vân chỉ là một người tu hành, dù sống dưới chế độ nào nàng cũng không là một vấn đề gì cả. Nhưng cách nay hơn một năm, cả ông bà Mỹ Hạnh lẫn sư huynh đều hay tin ni cô Tường Vân vượt biên bằng đương biển. Và «chuyến đi» ấy không bao giờ có điểm đến….
Tôi buộc miệng :
– Thật là tội nghiệp.
Bà Mỹ Hạnh không ngăn được giòng lệ…
Nét mặt sư huynh…chợt…hiện vẻ buồn… – Vẻ buồn mà từ khi quen biết sư huynh đến giờ, tôi chưa từng thấy. Tôi thật sự phân vân, không biết nên rút lui…hay nói gì trước câu chuyện bi thảm ấy, thì sư huynh bỗng tiếp :
– Ðời người ai cũng phải chết một lần. Ðiều ấy không có gì bận tâm. Nhưng cái «mất tích» của Tường Vân đã đem đến cho ông bà Mỹ hạnh, và cho cả sư huynh nữa, một chuỗi những ngay tháng cầu nguyện vì lo sợ hiểm nguy, rồi tiếp theo là đau buồn, phiền muộn khó nguôi, cộng thêm những hiện tượng tâm linh kỳ lạ….
-Ngoài những ngày tháng sống với nước mắt của ông bà Mỹ Hạnh, mỗi khi nằm lên giường là nhớ đến con, ông bà còn trải qua những giấc mơ thương cảm. Ông bà thấy rõ Tường Vân, toàn thân ướt đẫm, đến cạnh cha mẹ báo tin rằng cô đã chết, và người thân không cần tìm kiếm tin tức, hay hy vọng một kết luận nào khác. Cô còn nói là chẳng thể «quay lưng đầu thai », siêu thoát một mình được, với tâm từ bi nàng không nỡ bỏ mặc những linh hồn khác, đã cùng lìa xác một cách oan uổng như nàng, lạnh lẽo…vất vưởng chỗ con tầu bị nạn.
Cứ một tuần lễ mà sư huynh sau khi ngồi thiền, không cầu nguyện cho cô và những vong linh bất hạnh kia được siêu thoát, ít nhất một lần…thì sự «bứt rứt» lại đến với sư huynh.
Nét mặt bà Mỹ Hạnh lộ vẻ được an ủi khi nghe sư huynh nói mấy lời ấy…
Tôi đánh tan bầu không khí bi thảm bằng cách nói sang chuyện khác :
– Thưa sư huynh, hành lý sư huynh đã chuẩn bị hết chưa ?
Vị tu sĩ ôn hòa nét mặt :
– Chỉ chờ Tâm Ðạo đem cuốn tự điển về, bỏ vô nữa là xong.
Vừa nói sư huynh vừa nhìn cái hộp tôi lăm le trên tay, hỏi :
– Còn cái gì đây ?
– Em muốn bắt chước chị Tường Vân, mua tặng sư huynh một cây viết máy.
Sư huynh im lặng một vài giây, rồi mỉm cười :
– Tâm Ðạo tử tế lắm. Nhưng sư huynh có thiếu viết đâu, em mua chi tốn tiền ?
Bà Mỹ Hạnh thấy tôi làm vậy cũng bớt buồn. Bà chậm rải mở bóp lấy ra một bao thơ, đưa đến trước mặt sư huynh, và nói :
– Thầy nhận cái nầy…sang bên đó chi dùng.
Vị tu sĩ thân thiện phân trần :
– Ðời sống của người tu thiền chẳng đòi hỏi gì nhiều. Chỉ cần chỗ ở, thực phẩm, thuốc men…mà đã có trường thiền cung cấp. Ðạo hữu tuổi đã lớn, lại không có con cái bên cạnh, nên giữ lại mà dùng.
Nhưng bà Mỹ Hạnh nài nỉ :
– Thầy tu hành chân thật nên suy nghĩ như vậy, chứ trên thực tế…có thể nó lại khác. Khi thầy trú ngụ trong một ngôi chùa mà không có gì đóng góp vào, thì lắm khi thầy cũng gặp một số khó khăn.
Nói xong bà đưa bao thơ cho tôi, bảo tôi để chung với cuốn tự điển, rồi bỏ nó vào va-li cho thầy.
Tôi thấy sau mấy lời thành thật của bà, sư huynh lộ vẻ đăm chiêu, rồi không nói gì cả, nên tôi mạnh dạn lấy bao thơ nhét vào giữa cuốn sách và hộp viết máy…
Nhất thời vẻ mặt của bà Mỹ Hạnh tuy đã bớt thiểu não, nhưng nét bi thương buồn bã vẫn còn tràn đầy trong ánh mắt và đôi môi của bà…Bà chậm chạp đứng dậy, chắp tay giã biệt sư huynh, nói :
– Thôi, đệ tử xin kiếu từ thầy. Sáng mai đệ tử không thể đến sớm tiễn chân được. Chúc thầy di chuyển an toàn, tới nơi bình yên, và lâu lâu vì hành thiền…khi nào tiện, thấy nhớ biên thơ cho chúng tôi.
Nói xong bà bịn rịn một chút…rồi đứng lên quay lưng bước ra ngoài…
Và tôi theo sư huynh trở vào trong tư thất.
***
ÐOẠN CHÓT
Chúng tôi đưa sư huynh lên đến phi trường khoảng gần chín giờ sáng. Con chim sắt sẽ chở sư huynh sang Miến Ðiện đã đậu sẵn trên phi đạo. Có lẽ sư huynh là một trong các hành khách sau cùng của chuyến máy bay nầy !?
Cùng tiễn chân sư huynh có đại đức trụ trì, mẹ con tôi, và bảy tám đạo hữu Phật tử khác. Tôi đích thân lo giấy tờ đăng ký lên tàu cho sư huynh. Vì hành lý sư huynh chẳng có gì nhiều, nên thủ tục thông quan tương đối đơn giản.
Sau khi nhận tấm cạt lên tàu bỏ vào túi, sư huynh đến nói chuyện từ giã từng người có mặt tiễn chân. Trước tiên là thầy trụ trì, rồi đến các bà, các cô… và sau cùng…là đến tôi. Sư huynh chỉ mỉm cười nhìn tôi, điềm đạm nói :
– Giờ chia tay sắp đến, sư huynh chúc Tâm Ðạo ở lại bình an, làm việc vui vẻ, đừng quên đi chùa, và nhất là cố gắng thực hành những gì Tâm Ðạo đã thâu thập được trong thiền học !
Tôi chắp tay cung kính :
– Em sẽ cố gắng, xin sư huynh an tâm.
Bỗng có tiếng máy phóng thanh loan báo lớn :
«Quí hành khách nào đáp chuyến bay Paris- Rangoon, yêu cầu khởi hành ở cổng số «…», và xuyên qua cửa số “…”!
Chúng tôi tự động nhìn lên bảng hướng dẫn điện tử, có ghi số chuyến bay và giờ bay, thì thấy con tàu chở sư huynh chỉ còn hơn năm mươi phút nữa là cất cánh.
Thầy trụ trì liền giục :
– Thôi thầy hãy đi đi, chúc lên tàu cho thong thả.
Thế là sư huynh chắp tay chào tất cả mọi người, rồi đi thẳng về phía cửa «khởi hành», nơi có hai «trạm» cảnh sát làm bổn phận kiểm soát…
Lúc rời trạm kiểm soát trong cùng, sư huynh vẫy tay từ giã mọi người lần chót, thì tôi thấy có mấy bà Phật tử rươm rướm nước mắt, đứng nhìn theo sư huynh cho đến khi khuất dạng…
Thầy trụ trì thấy vậy, liền khuyên giải :
– «Tiễn chân» một tăng nhân đi hành đạo là…«đón nhận»…một phần phước, tại sao quí vị lại buồn ?!
Rồi thầy trụ trì đề nghị :
– Bây giờ chúng ta hãy lên «quán cà phê sân thượng» giải lao một chút, trước khi trở ra về, vì mọi người đã thức dậy từ sáng sớm để vô chùa đón thầy, rồi từ chùa cùng nhau đi phi trường, nên chắc chưa ai điểm tâm hết. Nhân tiện chúng ta cũng có thể nhìn thấy con tàu bay qua Miến Ðiện cất cánh.
Thế là tất cả đều đồng ý…
Khi con tàu chở sư huynh rời phi đạo, lướt mình lên không trung, tôi nhìn chăm chăm về hướng ấy. Tuy nước mắt tôi không chảy như các bà hồi nãy, nhưng tôi vẫn cảm thấy tâm hồn mình nặng trĩu, bâng khuâng…! Tôi tự hỏi «Không biết cảm mến một nhà tu nhiều đức hạnh như sư huynh, có phải là sự dính mắc không ?», nhưng…tôi còn phàm phu mà !
Phi cơ khuất dạng rồi, thầy trụ trì nói với mấy bà Phật tử một lần nữa :
– Hôm nay chúng ta đưa thầy Chân Niệm (tên của sư huynh) đi hành đạo, thì ngày kia chúng ta cũng sẽ hân hoan lên đây đón thầy ấy về. Chừng đó niềm vui sẽ bù lại cái buồn chia tay bây giờ.
Bác tài xế xe chùa liền cười xòa, pha trò :
– Thầy đừng lo, mấy bà chỉ buồn từ đây đến xa lộ thì hết … Ra ngoài đó mùa nầy gió mát, thổi bay hết nước mắt…khó khóc lắm… không chừng buồn ngủ !
Mọi người cười xòa…tôi không nhịn được cũng cười theo.
Sau đó chúng tôi cùng nhau ra bãi đậu xe, ai đi xe nào về xe ấy…
Xe chạy bon bon, gió hai bên đường mát rượi, mang theo mùi đồng nội ngoại-ô…thổi vào mặt, làm cho tôi cảm thấy dễ chịu.
Mẹ tôi ngồi bên cạnh bất chợt hỏi :
– Thầy đi rồi, con còn thích vô chùa không ?
– Thích chứ sao không.
– Vậy mà má cứ tưởng chẳng còn ai nói chuyện «thiền» với con nữa, con sẽ không sốt sắng đi chùa với má !?
Tôi thành thật :
– Nhưng sau nầy con sẽ đi chùa với mục đích khác.
– Mục đích gì vậy ?
– Mục đích tìm lại những khung cảnh từng sống qua với sư huynh, để viết lại tất cả những gì sư huynh đã chia xẻ…
Mẹ tôi mỉm cười :
– Té ra con “đeo” thầy từ trước đến giờ là để viết sách ?!
Tôi xác nhận :
– Chỉ đúng có một phần, còn phần khác thì không.
– Nghĩa là làm sao ?
– Nghĩa là thoạt đầu con có ý tìm tài liệu «sống» nơi sư huynh. Nhưng sau đó con «phục» sư huynh luôn.
Mẹ tôi cười to…hỏi lại :
– Con sẽ viết sách đặt tên gì vậy ?
– Con định viết cuốn “Nói Chuyện Thiền”.
Mẹ tôi biết tính tôi hơn ai hết. Cái gì tôi muốn làm, là tôi sẽ thực hiện cho bằng được. Bà hoan hỷ ra mặt, rồi ngồi im, không nói gì nữa…
Và tôi hăng hái nhấn ga cho xe qua mặt chiếc xe chở đại đức trụ trì với các đạo hữu kia, phóng một mạch về nhà…!
(HẾT)
(Viết xong tại Paris đầu mùa Phật đãn 2533, nhằm 28 – 03 – 1989)
Cs. Prajñanando : Tuệ Lạc (NÐ).
————-
Thơ đạo :
TÂM
Tâm ta không có cũng không không.
Chỉ có suy tư chảy một giòng.
An trú nội thân là tâm có.
Phóng theo ngoại cảnh, ấy tâm không.
Thánh nhân một niệm, tâm thường trụ.
Phàm tục đa văn, lẩn quẩn vòng.
Bể khổ ngoài thân, không bể khổ.
Vượt qua thân ấy thấy dung thông.
TL
HƠI THỞ
Hơi thở là nguồn giác tánh linh.
Trụ trong hơi thở, ngộ thân mình…
Vô thường không thể lìa thân chứng.
Khổ não tự sinh bởi hữu tình
Ngã chấp vì tâm ngoài hơi thở.
Luân hồi do ý muốn hồi sinh.
Thở vô còn sống, ra là chết.
Ðắc được niệm thân, thoát khổ hình.
T L
*****