IV
Tôi đang trầm ngâm đứng bên hông chùa, lơ đãng nhìn những cành bông giấy đong đưa trước luồng gió nhẹ, thì cảm thấy có người đến sau lưng. Tôi quay lại, té ra là sư huynh…
Vị tu sĩ thân mật hỏi tôi:
– Ngoài nầy có gió mát và thoáng hơn bên trong nhiều, phải không Tâm Ðạo ?
– Dạ, và trời chiều cũng thật đẹp.
– Lại có trăng tròn nữa. Tâm Ðạo không nhớ hôm nay là ngày rằm sao ?
Vừa nói, sư huynh vừa đưa ngón tay chỉ lên vầng trăng tròn vừa mọc, như cái đĩa bạc pha vàng, nằm xa lắc phía chân trời thăm thẳm….….
Tôi nhìn theo ngón tay của sư huynh, hướng lên khuôn mặt cô hằng rạng rỡ, không một giải mây che, nằm im trên khung trời phía ấy, mà chợt cảm thấy một gợn cảm giác lâng nhẹ, khó tả, len lõi trong tâm hồn…Tôi liền hỏi vị tu sĩ:
– Sư huynh chắc cũng thích thưởng thức ánh trăng ?
– Thích chứ, nhất là vào đêm trăng rằm, bầu trời thanh huyền không mây, và đầy ánh sao lấp lánh, mình được yên lặng hóng mát bên cạnh vài khóm hoa trong sân chùa, thì có gì tuyệt bằng.
Tôi nhận nơi sư huynh một bản chất «đồng điệu» yêu trăng, vội nói:
– Thế mà hồi nào đến giờ em không biết.
– Bây giờ Tâm Ðạo biết cũng không muộn.
Tôi thành thật hỏi sư huynh:
– Nghĩa là sư huynh cũng có bản chất nhạy cảm, tâm hồn thường «xao xuyến» trước vẻ đẹp của thiên nhiên ? Người thích vẻ đẹp thiên nhiên hầu hết là kẻ rất nhạy cảm và có tánh hướng thượng.
– Tâm Ðạo nhận xét khá đúng.
Rồi sư huynh nói sang chuyện khác:
– Trăng rằm thường mọc rất sớm. Trời chưa tắt nắng, vầng trăng đã hiện ra rồi.
Tôi không bỏ qua, nài hỏi vị tu sĩ:
– Sư huynh chưa trả lời cho em biết, sư huynh thích thưởng thức đêm trăng đẹp, vì bản chất nhạy cảm, hay vì một lý do nào khác ?
Sư huynh cười xòa:
– Sao Tâm Ðạo «rắc rối» thế ? – Này nhé, sư huynh thích đêm trăng không mây thật đẹp, nếu bảo là vì «nhạy cảm», thì chỉ đúng một phần, nhưng còn phần khác không đúng, vì có lý do khác.
– Lý do gì vậy hả sư huynh ?
– Lý do triết học, lý do được nhìn thấy cái phần vũ trụ ban đêm «lớn hơn ban ngày». Ban ngày, dù trời đẹp đến đâu, chúng ta cũng chỉ thấy được quang cảnh thế gian bị cầm tù dưới một bầu khí quyển xanh thẳm. Xung quanh, chúng ta không thể mục kích được một cái gì khác hơn là mặt đất, sinh vật, mây, nước, và vầng thái dương chói lòa. Ðối với sư huynh, có hai khung cảnh cõi đời bị thu hẹp, thị giác bị «cầm tù», là ban ngày (bầu trời có mây hay không mây), và ban đêm u-ám. Chỉ có ban đêm trời trong trăng sáng, là chúng ta có thể mục kích xa hơn, thấy rõ được vô số vì sao xa tít, nhận thức được cái phần mênh mông của vũ trụ.
– Sư huynh thích nhận thức như thế để chi vậy ?
– Ðể chẳng quên rằng con người quá nhỏ bé, nhỏ bé đến vô nghĩa, và tất cả sinh vật vốn cùng một số phận thật mỏng manh. Ý thức ấy có thể giúp cho chúng ta bớt đi tính ngã chấp, tranh giành, ganh ghét, hiếp đáp đồng loại, và chuộng sống ôn hòa với nhau.
Tôi nhủ thầm: «Thật là một nhận xét rất hướng thiện và sâu sắc».
Sư huynh. thấy tôi yên lặng, liền hỏi:
– Tâm đạo đồng ý với sư huynh chứ ?
– Dĩ nhiên là rất đồng ý với sư huynh rồi, sư huynh khỏi phải hỏi. Nhưng em chỉ tò mò muốn biết ngoài lý do triết học ấy ra, sư huynh còn vì lý do nhạy cảm có in dấu một kỷ niệm nào đó khó quên, liên quan đến đêm trăng đẹp hay không ?
– Có chứ.
– Kỷ niệm gì vậy sư huynh ?
– Kỷ niệm ngày sư huynh xuất gia. Hôm ấy cũng ngày rằm. Lễ truyền giới được tổ chức rất trang nghiêm. Tâm hồn sư huynh thật hân hoan, nhẹ nhàng, khó diễn tả, và sư huynh cũng ý thức rõ ràng rằng «kể từ đây đời sống của sư huynh bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn hoàn toàn khác với những gì sư huynh đã quen kể từ khi ra đời»….
Trầm ngâm một chút rồi sư huynh tiếp:
– Sư huynh được bổn sư truyền giới, và tăng sự kết thúc khoảng giờ nầy. Phật tử có mặt tại chùa rất đông, vì họ tin rằng «tham dự và bố thí, cúng dường vào lễ xuất gia, là tạo một phần phước rất lớn». Nhiều Phật tử đã mang vật dụng đến, lần lượt hiến tặng cho sư huynh, trong số đó có một thiếu nữ xinh đẹp, cử chỉ rất đoan trang, là một Phật tử thuần thành….
Tôi động tính tò mò, liền xen vào hỏi:
– Phải chăng thiếu nữ ấy đã dành cho sư huynh một cảm tình đặc biệt ?
– Không, nhưng món quà của cô ta đã trở thành một vật kỷ niệm đặc biệt mà sư huynh phải chú ý, và không thể nào quên !…..
Tôi buộc miệng:
– Quà gì mà quan trọng dữ vậy ?
– Một cuốn tự điển Phật học và một cây viết máy.
– Lần đầu tiên sư huynh được nhận hai món ấy ?
– Phải nói là lần đầu tiên sư huynh có một cuốn tự điển gồm hai thứ tiếng Phạn ngữ và Anh ngữ. Nhưng cuốn tự điển đặc biệt ấy không phải là nguyên nhân khiến sư huynh phải nhớ mãi, mà là mấy lời đề tặng, cô ta viết trên trang đầu cuốn tự điển….
– Cô ta viết gì vậy ?
– Cô viết : «Kính tặng sư huynh, và hy vọng cuốn tự điển nhỏ bé nầy sẽ giúp sư huynh tiến sâu vào nguồn Phật học, tìm ra ý nghĩa và mục đích của sự tu hành ! ».
– Sư huynh nhận xét thế nào về mấy câu đề tặng ấy ?
– Thoạt đầu sư huynh cho rằng « ấy chỉ là những lời lẽ thông thường mà bất cứ một Phật tử nào muốn tặng sách vở khảo cứu đến tăng sinh, đều có thể viết đại ý như thế »…
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Nhưng ngay tối hôm lễ xuất gia ấy, khi tất cả Phật tử đã ra về, trả ngôi chùa trở lại bầu không khí yên tĩnh, dưới ánh trăng rằm mát dịu, óng ả như phấn bạc, thì thầy hòa thượng bỗng gọi sư huynh vào, bảo mang «tự điển tặng phẩm» cho người xem. Xem xong, vị bổn sư mỉm cười, nói với sư huynh rằng:
– Bắt đầu từ ngày mai thầy sẽ dạy con về thực hành pháp môn thiền định.
– Tại sao xem xong tặng phẩm của sư huynh, hòa thượng lại bắt đầu dạy sư huynh thực hành thiền định ?
– Thoạt đầu sư huynh cũng không hiểu tại sao, nên đã hỏi bổn sư câu ấy. Nhưng sau khi được người trả lời rõ ràng, sư huynh liền hết thắc mắc, bèn vui vẻ, chăm chỉ học pháp thiền….
– Hòa thượng đã trả lời như thế nào hả sư huynh ?
– Người bảo : «Muốn tiến sâu vào nguồn Phật học, thì có thể dùng tự điển để nghiên cứu Tam tạng kinh điển, nhưng muốn tìm ra ý nghĩa và mục đích của sự tu hành, thì phải nhờ vào hành thiền».
– Rồi hòa thương đã dạy sư huynh pháp thiền ra sao ? Chắc là mở đầu phải bằng lý thuyết rồi sau đó mới thực hành ?
– Tâm Ðạo hãy từ từ, để thủng thẳng sư huynh kể cho nghe. Sư huynh lúc đó mới xuất gia. Ngay cả hai chữ «thiền pháp» là gì, sư huynh cũng chỉ hiểu mang máng. Nhưng sư huynh rất vui mừng biết thầy sắp dạy thiền cho mình, nên lập tức vâng lời. Rồi ngày hôm sau, dưới sự hưóng dẫn của bổn sư, sư huynh đã bắt đầu ngồi xếp bằng ngay ngắn, và lấy hơi thở của mình làm «đề mục», để chuyên tâm chú niệm. Một ngày ba lần tu tập như vậy : sáng, trưa, và tối. Trong khi ngồi thiền, có khi sư huynh cảm thấy buồn ngủ, có khi sư huynh cảm thấy đói bụng, rồi lạnh bao tử, sôi ruột, tê chân, nhức đầu, phóng tâm.v.v…- Ðủ thứ chướng ngại xảy đến. Sư huynh đem hỏi bổn sư tại sao, và phải làm thế nào để đối trị, thì được người trả lời «Không cần tìm hiểu tại sao, và phải lấy hai pháp giác tỉnh và tinh tấn đối trị ». Sư huynh tu luyện như thế ròng rã hai năm, lấy pháp hành làm phương tiện học hỏi, chứ không nghiên cứu lý thuyết qua sách vở gì cả…..
Một hôm thầy hòa thượng hỏi sư huynh:
– Con muốn sang Ấn Ðộ học đạo không ?
Sư huynh mừng rỡ trả lời:
– Nếu sư phụ cho phép, và nếu con có dịp…..
Tôi xen vào:
– Sau đó sư huynh xuất ngoại du học ?
Vị tu sĩ gật đầu hiền hòa:
– Sư huynh đã tòng học tại một đại học đường Phật giáo, gần Bồ Ðề Ðạo Tràng, bên xứ Phật gần sáu năm. Và cũng trong thơì gian đó, sư huynh may mắn gặp một thiền sư khác. Chính vị thiền sư nầy, đã đem đến cho sư huynh nhiều sự hiểu biết về thiền pháp, cả bằng lý thuyết lẫn thực hành.
Tôi buộc miệng:
– Sư huynh may mắn thật.
– Chính sư huynh cũng tự biết là mình may mắn, và nguyện trong tâm một ngày kia sẽ viết một cuốn sách nói về thiền, để đáp ân Phật giáo và chư thầy tổ.
Sực nhớ một điều, tôi liền hỏi:
– Thiền pháp mà sư huynh đã thực hành với hòa thượng bổn sư, và thiền pháp mà sư huynh học hỏi sau nầy, có giống nhau không ?
– Giống nhau. Giống nhau như một Và in tuồng chỉ có một phẩm tính. Ấy là phẩm tính làm cho thiền giả biết rõ về mình, và giác ngộ được sự hiện hữu của chính mình như thế nào. Không ngoài cái chi khác.
– Thưa sư huynh. Hai vị đạo sư của sư huynh bây giờ còn sống không ?
– Cả hai đều đã viên tịch.
Nói đến đây, nét mặt sư huynh chợt lộ vẻ đăm chiêu, nghĩ ngợi về những bậc đã khuất bóng, một cách kính trọng, luyến tiếc….
Sư huynh nhìn lên vầng trăng tròn vàng rực trên nền trời xa lắc, im lặng một hồi lâu….rồi tiếp:
– Nhất thời sư huynh chỉ còn một kỷ niệm. Ðó là cuốn tự điển hai thứ tiếng: Phạn ngữ và Anh ngữ. Nhờ nó mà sư huynh có thể lần dò về nguồn Phật học. Không hẹn mà sư huynh đã thực hiện được phần nào lời chúc nguyện, của cô tín nữ ngày xưa đã tặng sách đến sư huynh.
Tôi tán thán:
– Thật là một món quà cao thượng.
Sư huynh cười tự nhiên….Ðoạn sư huynh nhắc lại câu chuyện thiền tức quán còn bỏ dở hồi nãy. Sư bảo:
– Chuyện “kỷ niệm” như thế đủ rồi, bây giờ chúng ta hãy quay lại đề tài Phật giáo đi.
Tôi liền đồng ý yêu cầu:
– Em muốn nghe tiếp môn tu thiền tức quán
Sư huynh “hắn giọng” rồi chậm rải giảng:
– Pháp thiền niệm hơi thở là một sinh hoạt chính trong đời sống người tu Phật. Càng tu luyện thì hơi thở càng đều hòa. Khi hơi thở đều hòa, thì những bệnh tật do mất quân bình thần kinh, hay do hấp thụ dưỡng khí, ít hơn tống bỏ tử khí gây ra, sẽ tự nhiên biến mất. Ðây là giai đoạn điều tức. Gian đoạn nầy về mặt an định, hành giả trong một thời gian ngồi thiền (tối thiểu cũng nửa giờ), chỉ phóng tâm một lần, hay không có lần nào. Giai đoạn điều tức là giai đoạn cơ bản, để bước vào sơ định. Hành giả đạt tới sơ định, là người chỉ loại trừ được phóng tâm, trong khi tu thiền. Nhưng năm giác quan của họ vẫn còn hoạt động, nhất là lúc có đối tượng lọt vào trong tầm tiếp nhận của nó. Tầm tiếp nhận nầy tỏa rộng hay thu hẹp, tùy theo thời gian an định của một buổi ngồi thiền dài hay ngắn. Người tu lâu và vững vàng trong sơ định, có thể an trụ không phóng tâm, từ một giờ trở lên. Thiền giả an trụ càng lâu thì sức hoạt động, câu hữu của năm giác quan, hướng đến ngoại trần càng yếu dần. Ðến một lúc nào đó, cả năm giác quan sẽ tự động “đóng lại”, không để cho ngũ trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc) tác động vào tâm nữa. Sự “tự đóng” nầy là tịnh quả của an trụ, và chỉ phát sinh trong khi đạt thiền. Chớ hiểu lầm là người nhập định là người có năm giác quan bị tê liệt. Vì sau khi xả thiền, ngũ quan xúc giác của hành giả lại tỏ ra tinh anh hơn trước, và thâm hậu, bén nhạy hơn những người thường rất nhiều, như họ có thể nghe xa hơn, thấy xa hơn, ngửi xa hơn, phân biệt các vị chính xác hơn, và làn da có thể cảm nhận mọi vật chất lân cận xung quanh, mà không cần chạm vào. Trường hợp một khoa học gia, khi quá chăm chú nghiên cứu một công thức nào đó, họ cũng để lộ hiện tượng mất cảm giác, như có ai nói chuyện bên cạnh họ không nghe, ai đến trước mặt họ không thấy, ai để tay lên vai họ không hay, mùi thơm bay đến họ không phân biệt, dịch vị trong miệng họ không biết…, nhưng họ không phải là nhập định. – Vì khi làm việc xong, họ sẽ cảm thấy mệt nhọc. Ngũ quan cảm giác của họ, sau một thời gian miệt mài nghiên cứu, căng thẳng tâm não, đã trở nên đờ đẫn, chứ không tinh anh bén nhạy, như một hành giả mới xả thiền. – Ðiểm khác biệt là ở chỗ đó.
– Tại sao vậy hả sư huynh ?
– Sư huynh đã nói rồi: Vì khi một bác học nghiên cứu, thì lòng tham (khao khát hiểu biết) có mặt một cách mạnh mẽ trong suốt cuộc nghiên cứu. Hễ công việc tiến triển như ý, thì họ khoái chí, tự đắc, dốc lòng chăm chú hơn nữa. Ngược lại thì họ thất vọng, bất mãn, nóng giận, dằn vật, hoang mang, xung đột… Rồi lòng tham lại gia tăng, tìm mọi cách để đạt đến thỏa mãn. Nhưng đối với thiền giả thì trái lại, khi họ an định trong hơi thở, thì tâm thức thư thái, tự nhiên, trầm tĩnh, nhẹ nhàng, chứ không bồng bột, căng thẳng, vui mừng, khích động với trạng thái ấy. Còn khi phóng tâm, họ cũng không bất mãn, bức rức. Sự an trụ chỉ là kết quả thuần thục của công phu tu luyện, chứ không phải là đối tượng để họ khao khát, mắc dính.
Tôi buộc miệng:
– Thanh thoát thật.
Sư huynh im lặng…xem tôi còn nói gì nữa không….
Ðoạn vị tu sĩ tiếp:
– Sau sơ định, hành giả tiến vào cận định. Ở giai đoạn cận định, hơi thở biến thành đề mục thường xuyên của người tu, trong đời sống hằng ngày. Ðối với bậc sơ định, chỉ khi nào họ chủ ý hành thiền (duyên theo một trong bốn oai nghi là đi, đứng, nằm, và ngồi), thì họ mới trụ tâm vào hơi thở một cách dễ dàng, không bị ngũ quan chi phối. Còn bình thường thì họ vẫn sống một cách phàm phu. Nhưng cận định thì khác. Bậc cận định thường tìm cách xuất gia, hoặc sống đời sống cư sĩ ẩn dật. Họ ít nói, và tuyệt đối không nói lời xúc phạm đến người khác. Tuy họ giữ giới rất nghiêm túc, nhưng không chấp trong giới, không cho là mình «trong sạch» hơn người. Họ rất ôn hòa với những kẻ kém giới hạnh, và luôn luôn trầm tĩnh trước những lời khen, tiếng chê của những ai có thiện cảm hay ác cảm đối với họ. Do đó, họ thường xuyên mang nét mặt thanh tịnh, tự nhiên vì chẳng bao giờ họ nhớ những lời kẻ khác khen chê lâu hơn một giây đồng hồ. Ðiều nầy thật dễ hiểu, vì tâm họ luôn luôn hướng về hơi thở (đề mục). Cận nghĩa là gần, định ám chỉ đề muc. Bậc cận định là bậc tâm không xa đề mục. Trừ phi họ đọc kinh sách, hay để tâm suy tưởng đến một pháp nào đó (có thể là pháp giải thoát, có thể là pháp thế gian), hoặc trừ phi họ phải làm những sinh hoạt dinh dưỡng hay vệ sinh hằng ngày, như ăn, uống, đại tiểu tiện, tắm rửa.v.v…, họ luôn luôn sống bằng đề mục thiền định, tức là sống bằng tâm hướng về hơi thở. Tâm họ và hơi thở như hai pháp thể song song, như bóng với hình, không bao giờ tách rời nhau, và chỉ chờ công phu tròn đủ để nhập lại thành một (Ekaggatà). Trạng thái biến thành «một» nầy gọi là nhất định.
Tôi chợt cảm thấy không nhớ kịp sự tiến triển của các bậc thiền, mà sư huynh vừa giảng, vội yêu cầu:
– Xin sư huynh nhắc lại một lần nữa, theo thứ tự các thiền quả vừa kể.
Vị tu sĩ gật đầu dễ dãi:
– Trước tiên là điều hòa hơi thở (điều tức), còn bị phóng tâm qua ý, và qua năm căn (ngũ quan xúc giác). Sau đó nhờ tinh tấn, hành giả tiến vào sơ định, rất ít phóng tâm hay hết phóng tâm, nhưng ngũ quan còn bị ngoại cảnh chi phối, nhất là thỉnh thoảng bị chi phối trong khi không hành thiền. Tiếp theo cũng nhờ tinh tấn, thiền giả đạt đến cận định, tức là tâm hành giả câu hữu thường xuyên với hơi thở, từ chót mũi vào đáy phổi, rồi từ đáy phổi ra chót mũi. Bậc cận định không phải «bắt lại» đề mục, như hàng sơ định khi khởi sự hành thiền, mà tâm họ đã tự động song song với đề mục, giữa đời sống hằng ngày (ngay cả trong giấc ngủ). Bậc cận định khi nhập thiền thì tâm và hơi thở là một, nhưng khi xả thiền thì tâm không chạy đi tìm kiếm và mắc dính vào đối tượng của các căn, mà định hướng song song với đề mục (hơi thở). Công phu của bậc cận định càng cao, thì trạng thái nhất định, hay gọi tắt là định càng được chứng tỏ. Trong khi an trú vào thiền tức quán, các thiền giả, từ sơ định trở lên hằng «hưởng thụ» một thân thể thoải mái, kinh mạch điều hòa, nhờ hơi thở đã được điều chỉnh một cách khoa học và đầy đủ. Người tu thiền mà thân thể bị nhức nhối vì hành thiền, là tu sai.
Tôi ngắt lời sư huynh:
– Sao em nghe nhiều vị thiền sư giảng «Niệm hơi thở là phải để tâm tại cuốn rún, biết rõ hơi thở vô phồng, hơi thở ra xẹp..», mà sư huynh lại bảo «từ chót mũi đến đáy phổi…», vậy hai lối hướng dẫn có gì chênh lệch nhau không ?
Sư huynh không ngờ tôi hỏi câu «so sánh» ấy, nên có vẻ lựng khựng…Ðoạn sư huynh thẳng thắn nói:
– Thực ra, hơi thở không thể nào vào trong bụng. Nó chỉ có thể đong đầy buồng phổi. Khi phổi đầy thì phồng lên, ép các cơ quan khác xuống dưới, đẩy cuốn rún ra ngoài…Khi phổi xẹp, nó teo lại, rút những màng phúc mô lên trên, kéo cuốn rún trở vô…Quí vị thiền sư khác giải như vậy là muốn đơn giản hóa cách theo dõi hơi thở. Quí vị ấy không hướng dẫn sai, và điều sư huynh vừa nói cũng không có gì chênh lệch.
Tôi hiểu ra, bèn…«à»…một tiếng, hỏi sang câu khác:
– Sau bậc định, thiền giả sẽ tiến lên những gì nữa hả sư huynh ?
Sư huynh đang vui vẻ, chợt trở thành nghiêm nghị. Sư nhìn tôi, lắc đầu nói:
– Ðến đây thì Tâm Ðạo không nên thắc mắc nhiều về các bậc thiền cao hơn. Vì rằng sư huynh có giải, Tâm Ðạo cũng không thể nào hiểu được. Ý sư huynh muốn nói là các bậc thiền ở trên, «trí thức» của người chưa thuần thục hành thiền, và chưa đắc định không làm sao luận giải.
Tôi nài nỉ:
– Xin sư huynh chỉ nói cho nghe những danh từ thôi.
Vị tu sĩ lại lắc đầu, nhưng lần nầy sư lắc đầu rồi im lặng một hồi lâu…
Tôi kiên nhẫn chờ đợi…
Chợt sư huynh ngước mặt nhìn lên bầu trời xanh thẳm, lác đác những vì sao. Nét mặt sư huynh tỏ ra thận trọng, đắn đo, như «Có điều không nên nói, nhưng không nói cũng không tiện…». Rồi sư huynh đổi hẳn sắc mặt, đôi mắt đăm đăm nhìn tôi…., trầm giọng:
– Tâm Ðạo cần biết điều nầy : Trên đời có những cái chỉ học với thầy cũng hiểu, – hiểu thôi nhé, chứ lắm khi chưa chắc đã làm được. Và còn những cái phải hành mới hiểu. Không hành không thể nào hiểu được. Và dù có người đã hành thành công rồi, người ấy cũng không thể nào truyền lại cho người khác chưa hành, hiểu cái mà chính họ biết được. Sự hiểu biết nầy đạo Phật gọi là nghiệm thân chứng pháp, hay trí giác trực ngộ. Khả năng ấy nằm trong thiền thức vi diệu của các bậc đắc thiền, hay thánh nhân. Tâm Ðạo chớ nghĩ lầm rằng «đây là vấn đề trừu tượng, và vì nó trừu tượng nên sư huynh phải nói như thế để lẩn tránh». –Sư huynh xin xác nhận, đây là một vấn đề cụ thể, – đi vào sự thực hành tức là đi vào cụ thể ! – Vì trong lãnh vực tu tập để tiến hóa, cụ thể không phải chỉ có nghĩa là trạng thái mắt thấy, tai nghe, hay sờ mó được, mà nó còn ám chỉ việc chính mình phải thực hành, đạt đến kết quả, thì mới hiểu rõ được.– Còn thực hành không thành công, hay chưa thành công, mà đem ra thuyết giảng, thì ấy chỉ là làm cái việc nói láo theo óc tưởng tượng, và dựa theo sách vở mà thôi.
Vị tu sĩ im lặng một phút….rồi nói tiếp:
– Câu hỏi của Tâm Ðạo làm sư huynh nhớ đến một số người. Khi nghiên cứu về đạo Phật qua lý thuyết, trên sách vở, họ luôn luôn muốn biết về Niết Bàn, về «cõi Phật», về thiên giới, hay về những cái vô cùng bí hiểm, nằm sâu trong tâm thức, phủ đầy vô minh của con người. Họ vốn là những triết gia, những nhà phân tâm học, những bộ óc chuyên lặn lội trong so sánh tâm lý phàm nhân, mà lại muốn biết hết những vi diệu trong lãnh vực siêu thức của thánh nhân. Những người nầy gọi môn nghiên cứu của họ là «thần học», và đã được nhiều tôn giáo nhìn nhận. Trên thực tế, việc làm của họ rõ ràng là để đối chiếu tâm lý tín ngưỡng của các tôn giáo, một cách triết học, hay để bổ túc nghề nghiệp giảng sư trong các trường đại học, chứ không phải để tu tập tiến hóa. – Chưa kể có nhiều người còn lầm tưởng rằng «Nếu mình hiểu được giáo lý nhà Phật là mình đã chứng đắc pháp Phật, tức mình sẽ thành Phật».( ?)
Nghe sư huynh nói mấy câu sau nầy, tôi hơi bị chạm tự ái, liền lắc đầu phản ứng:
– Em vì muốn bổ túc sự hiểu biết, mà yêu cầu sư huynh như thế, chứ tự thâm tâm, em chưa bao giờ dám nghĩ là mình đã hiểu một câu Phật ngôn rốt ráo, khoan nói đến chuyện nắm vững nhiều yếu lý sâu xa trong đạo Phật.
Sư huynh dường như cũng cảm thấy đã «quá lời», trước người đệ tử quen thuộc, nên sư huynh vội cười xòa, «hòa giải»:
– Ý…, không ! Sư huynh chỉ thuận miệng nói ra những gì sư huynh suy nghĩ để Tâm Ðạo nghe thôi. Vả lại, sư huynh rất quí Tâm Ðạo mà, lẽ nào sư huynh lại hiểu lầm em như thế !?
Ðoạn vị tu sĩ tiếp:
– Nào, hồi nãy chúng ta đã nói các tiến trình dẫn đến bậc định (hay nhất định) rồi, tiếp theo Tâm Ðạo đã yêu cầu sư huynh chỉ giảng cho biết những danh từ Phật học ám chỉ các bậc thiền ấy thôi à nhen……
Vừa nói sư huynh vừa «nháy mắt» nhìn tôi, hóm hỉnh lập lại «chỉ bằng danh từ thôi»…., rằng thì là sau đó nếu tiến lên nữa, thì hành giả sẽ đạt đến những thiền quả tên gọi là gì….phải không ?
Tôi gật đầu…
Sư huynh đăm chiêu một lúc, như cố tìm các từ ngữ nào thích hợp nhất, cho dễ hiểu, và sư nói:
– Từ bậc «định» trở lên : Về phương diện xác thân, thiền giả hoàn toàn thù thắng, vô cảm giác bất thiện, sống trong tịnh lạc…. Nhưng ở nội thức, tâm linh thì có nhiều pháp ấn phức tạp hiển hiện. Nghĩa là từ đó về sau, hành giả chỉ có thiền tâm và cảnh giới thiền tâm, vượt lên trên mọi định niệm của thế gian, – tức là lời lẽ của chúng ta không thể nào diễn tả chính xác được. Tuy nhiên, sư huynh cũng có thể kể ra bằng danh từ ước định, những thiền tâm và cảnh giới thiền tâm ấy, dưới thứ tự các bậc thiền như sau:
Ðệ nhất thiền tương ứng với đệ nhất cảnh giới thiền tâm.
Ðệ nhị thiền tương ứng với đệ nhị cảnh giới thiền tâm.
Ðệ tam thiền tương ứng với đệ tam cảnh giới thiền tâm.
Ðệ tứ thiền tương ứng với đệ tứ cảnh giới thiền tâm.
Ðệ ngũ thiền tương ứng với đệ ngũ cảnh giới thiền tâm.
Cứ mỗi lần chứng được một bậc thiền như thế, thì hành giả lại bị vọng tưởng vi tế nội tại của chính tâm tịnh trong bậc thiền ấy, tự tạo cho nó một cảnh giới rất linh hoạt phỉ lạc, để thỏa mãn bám giữ.Hành giả muốn tiến lên phải tuyệt đối giác tỉnh, dửng dưng trước cảnh giới thiền tâm hấp dẫn ấy, thì mới mong tiến lên bậc thiền cao hơn. Và cứ như thế tiếp tục. – Ðiều quan yếu cần nhấn mạnh ở đây là năm «cảnh giới linh hoạt cực kỳ phỉ lạc» kia cũng vô cùng vi diệu. Nó có đủ những phẩm tính để đáp ứng tất cả các vọng tuởng về quyền lực, về vĩnh cửu (trường sinh), như giúp cho hành giả hiển lộng thần thông (muốn gì được nấy), như ra khỏi pháp hành của tuổi thọ cõi thế..v.v… Nếu linh thức của hành giả mà rơi vào cái «bẩy» của nó, rồi so sánh phỉ lạc ấy với hạnh phúc và tuổi thọ thuộc pháp hành, thuộc ngũ uẩn theo thế gian, thì sẽ thấy nó thanh khiết lâu dài không thể tưởng tượng được, như bồng lai bất tử vậy. Cho nên, rất hiếm các bậc chứng đắc lên tới đệ tam, đệ tứ, hay đệ ngũ thiền định, mà vượt lên nữa được dễ dàng. Vì đến đó, họ thường cho rằng mình đã trở thành phật thánh, vô sinh bất diệt, thần thông quảng đại, toàn năng và toàn tri, rồi tự dừng lại, cho đến khi cạn phúc (mặc dù rất lâu), để rơi vào vòng luân hồi trở lại……
Tôi nhận thấy sư huynh giải đến chỗ “trừu tượng” nầy là quá xa rồi. Ðào sâu hơn nữa, câu chuyện có vẻ như bắt đầu đi vào giai đoạn «không tưởng». Tôi liền nhắc lại phần chủ đề tu thiền để biết rõ về mình cho thực tế hơn, nên đề nghị:
– Xin sư huynh phân tích lại một cách rộng rãi, về khả năng của pháp niệm hơi thở, là để hiểu biết về chính thân tâm mình.
Vị tu sĩ chợt hài lòng thấy rõ, sư vui vẻ nói:
– Cái ấy mới là điều thực tế, và đáng tìm hiểu.
Rồi sư huynh để tay lên vai tôi, bước đi chầm chậm, yên lặng….
Tôi đi theo vị tu sĩ…..
Sư huynh dẫn tôi đến một băng đá, nằm sát trong góc vườn, nơi có một bụi bông giấy khá lớn, tỏa nhánh là đà, màu bông đỏ thẳm.
Sư huynh ngồi xuống và tôi cũng ngồi theo. Sư huynh buông vai tôi ra, dựa lưng vào băng đá, ngước mặt nhìn lên bầu trời, phát một cử chỉ như trút hết những tư tưởng phức tạp, đoạn sư huynh nói:
– Chúng ta trở lại chỗ điều tức.
Tôi tán thành phụ họa:
– Chỗ sư huynh đã nói về tu niệm để điều hòa hơi thở ?
– Ðúng thế. Vì loài người đang sống bằng những hơi thở không đều, bằng những căng thẳng tâm não thường trực. Ðiều hòa được hơi thở là phép tu thiết yếu, hữu dụng, và thực tiễn nhất cho đời sống hằng ngày.
Tôi hỏi:
– Khi hành giả giữ tâm được bền nơi hơi thở, từ chót mũi vào đáy phổi, rồi từ đáy phổi ra chót mũi, thì….sao nữa hả sư huynh ?
– Thì khi ấy hơi thở của họ tất nhiên được điều hòa. – Chỗ nầy sư huynh cần lưu ý là hành giả chớ vận sức, dụng tâm kềm chế cho hơi thở của mình được ra vô bằng nhau. –Vì khi làm như vậy thì tâm não của họ lại bị căng thẳng, chẳng những không giúp họ đạt được mục đích, mà trái lại họ còn chịu hậu quả tai hại, như áp huyết cao chẳng hạng.
Tôi giật mình nhủ thầm: “Không ngờ sự tu sai nguy hiểm đến như thế ! ».
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Khi để tâm theo dõi hơi thở, hành giả phải tịnh niệm một cách thật thoải mái. “Theo dõi” ở đây có nghĩa là vô tư quan sát, không dụng tâm chờ đợi kết quả, cũng không suy tưởng một cái gì khác, – dù cho cái ấy là hơi thở ! Hành giả chỉ thản nhiên tịnh niệm để biết rằng “Hơi thở vô bắt đầu từ chót mũi, choáng đầy buồng phổi, lồng ngực tự động nở to, nâng hai xương vai lên và đẩy bụng phình ra”, và “Hơi thở ra bắt đầu từ đáy phổi, tháo bỏ tử khí, buồng phổi dần dần xẹp lại, hai đầu xương vai tự động hạ xuống, bụng lép vào”. Cách tu đúng là chỉ theo dõi (quan sát) hơi thở, và biết sự nhịp nhàng giữa nó với thân thể, chứ không chỉ huy hơi thở, và cứ để hơi thở sinh hoạt tự nhiên. –Công phu nầy tương đối khó làm, nhưng khi thành công hành giả sẽ gặt hái được nhiều lợi ích thiết thực. Hơi thở có một đặc tính ngỗ nghịch, là khi ta điều khiển nó, bắt nó làm theo ý ta, thì nó lại bất đồng, chống lại ta, áp lực vào các cơ quan khác, như tim, ruột, não bộ…chẳng hạng. Nhưng khi ta chỉ theo dõi nó, để nó tự nhiên, thì nó lại dần dần thuần thục, làm việc điều hòa với ngũ tạng, thẩm thấu tới tận mạch máu, tận tế bào thần kinh. Hành giả cũng chớ bắt chước người luyện nội công: Hít hơi vào đầy buồng phổi rồi “nín thở” mười giây..v.v…, vì đó không phải là cách tu thiền tức quán đích thực trong đạo Phật.
Tôi nhận thấy sư huynh dẫn giải cách tịnh niệm quá rõ ràng, bèn hỏi tới:
– Từ giai đoạn điều tức (hơi thở điều hòa) tiến lên các bậc sơ định, cận định, rồi định (hay nhất định), hành giả ngoài kết quả giải trừ phóng tâm, còn chứng nghiệm những lợi ích gì khác ?
– Giữa ba giai đoạn nầy, thiền giả tự nghiệm biết được nhiều điều lắm. Nhưng trước khi bàn sâu vào, sư huynh xin nêu thêm vài tiểu đề mới. Ðó là điều tức, sở tri, và thông quán. Ðiều tức là pháp hổ trợ đưa đến sơ định. Sở tri là pháp hổ trợ đưa đến cận định. Và thông quán là pháp hổ trợ cho nhất định hay định.
– Ðiều tức sư huynh đã nói qua rồi. Còn sở tri và thông quán, giảng giải như thế nào hả sư huynh ?
– Khi hành giả đắc được sơ định, chấm dứt phóng tâm hướng ngoại, hơi thở thuần thục điều hòa, mà không thủ chấp kết quả phỉ lạc, cứ thản nhiên tinh tấn tu luyện, thì thiền tâm họ duyên chỉ vào hơi thở, từ chót mũi vô buồng phổi, và từ buồng phổi ra chót mũi… Bấy giờ thiền lực của họ chuyển từ điều tức qua sở tri. Tức là thiền tâm trong lúc nầy với hơi thở là một. Thiền lực ấy bắt đầu giúp hành giả nhận diện rõ rệt vài cơ quan trong thân thể của họ, chẳng hạng như tim, phổi, gan, thận, hay bao tử.v.v…thường trú tại chỗ nào. Người thường nhờ đọc sách, hay các y sĩ chuyên ngành giải phẩu, cũng có thể chỉ được đại khái ngũ tạng con người nằm ở đâu, nhưng đó chỉ là cái biết theo tiêu chuẩn chủ quan, biết theo sách vở, kinh nghiệm nghề nghiệp, từ ngoại thân. Chứ họ không thể nào cảm nhận rõ rệt địa điểm đích xác các nội tạng của chính thân họ, như họ vẫn thường cảm nhận sự hiện diện của lỗ mũi hay bàn tay của mình ở đâu. – Nguyên nhân ? – Vì lỗ mũi hay bàn tay là những chi thể nằm ở mặt ngoài thân xác. Và con người vốn sống với cảm giác triền miên hướng ngoại, nên bất cứ cái gì có hình thức bên ngoài là tâm ý họ mắc dính vào đó. Người ta hướng ngoại nhiều quá đến độ lắm khi không nhận rõ bộ mặt thật của chính mình. Bỡi vậy mới có kẻ đã già mà cứ tưởng là mình còn trẻ. Có kẻ xấu xí mà cứ tưởng là mình xinh đẹp..v.v….- Bộ óc thông minh kỳ diệu của con người đúng ra phải biết rõ những cái thuộc nhục trường bên trong của nó trước, rồi sau đó mới biết những cái xa hơn trong từ trường bên ngoài, hay trong không khí, trên thế gian. Nhưng đã từ quá nhiều kiếp qua, nhân sinh sống thuần vọng ngoại, nên đã đánh mất tự tánh sở tri. Người tu thiền tức quán, đắc được sơ định, là kẻ sẽ đem tâm ý trở vào nội thân, theo ngõ hơi thở, vì đó là diệu pháp duy nhất, để đắc lại tự tánh sở tri, tức là xác định ngũ tạng nội thân của mình như thế nào. Tâm cận định là tâm câu hữu thường xuyên với hơi thở (đề mục), ngay cả những khi không nhập thiền (như đi hoặc đứng), nên dần dần biết rõ vị trí của ngũ tạng trong thân (sở tri), để trước tiên chứng được pháp nhờm gớm trước các thể trược thô kệch, như phân, đàm, nước tiểu, máu, mồ hôi, dịch tuyến..v.v… Bình thường, người không tu thiền cũng biết nhờm gớm các thứ nầy, nhưng họ chỉ nhờm gớm khi thấy nó dính ngoài da. Họ không thể nhờm gớm những thể trược, đựng đầy ăm ắp trong thân họ, nếu họ không tu thiền hơi thở. Rồi từ sự biết rõ năm tạng trong thân mà hành giả vẫn không thủ chấp kết quả, cứ tinh tấn tu luyện, thì thiền tâm họ sẽ hội nhập vào hơi thở, thẩm thấu tận các kinh mạch, chứng nhận những thiếu thừa của khí huyết, của dinh dưỡng, của sinh lực và của tử tính…. Ðến đây, một mặt phúc quả của sơ định (điều tức) tự động giúp thân thể chỉnh đốn lại khí huyết, một mặt thiền tâm tiến vào nhất định (Ekaggatà), hay định. Khi hành giả đắc vào nhất định, thì thiền tâm và hơi thở không còn là hai nữa. Hơi thở cũng không còn là đề mục của thiền tâm nữa. Diệu dụng của tâm định và hơi thở lúc ấy, là theo dưỡng khí thẩm thấu vào mọi tế bào, thấy rõ sự sanh và sự diệt của thân mình từng sát-na, từng giây, từng phút. Và ấy là thiền lực thông quán ! Thiền lực nầy hằng giúp hành giả chứng thật pháp vô ngã một cách trực tiếp, không nghi ngờ dư sót. Thiền giả khi nhập định thông quán, sẽ thấy rõ những tế bào trong thân mình sinh diệt hàng loạt trong từng sát-na, từng nháy mắt, khiến thể xác đang tiến dần đến chỗ già yếu, tàn tạ, tiêu hoại. –Cái mà người ta thường gọi là «tôi», là con người, ví như một đống tro, hay đống bọt nước, nổi bồng bềnh trên giòng thời gian. Hơi thở ra vào ví như hai luồng gió, thay phiên nhau thổi qua lớp bọt hay đống tro ấy, làm cho nó mòn đi, biến cái hiện hữu trong hiện tại trở thành cái chắc chắn sẽ hoại mất trong tương lai. –Kinh Lăng Nghiêm, còn ví sự sống quá ngắn ngủi của kiếp người ấy, so với vòng luân hồi vô tận, như giọt sương, như cái bóng, như bèo bọt, và như ánh chớp (lộ ảnh bào điển). Từ sự thực chứng được lý vô ngã, hành giả sẽ không còn mắc dính với bất cứ vật chất gì trên thế gian nầy. Ngay cả thân ta mà ta còn thấy rõ đang dần dần biến hoại, thì tài lộc, danh vọng, tình cảm….trên thế gian nầy, chẳng cái nào đáng cho ta vướng vào. Rồi thánh tâm phát sinh nơi thiền giả, kể từ căn bản giác ngộ ấy !
Cũng có những «thức giả» nhờ trải qua, hay chứng kiến nhiều hiện tượng đau khổ, thăng trầm, thay đổi giữa cuộc đời, mà hiểu ra lẽ vô thường, công nhận lý vô ngã, rồi họ chán ngán tình người, dửng dưng tất cả, chỉ ẩn dật thủ thường, không màng danh vọng, không thiết gì nữa. Họ âm thầm tưởng lầm là mình đã «giác ngộ» chân lý, chứng đắc Phật pháp( ?). Nhưng thực tế trong chiều sâu : Tình trạng tâm tư ấy vốn là phản ứng của lòng tham, một bộ mặt ngụy trang của bất mãn dục vọng. Nó sẽ chẳng bao giờ giúp họ đắc được thánh tâm, nếu họ không tu thiền, – nhất là không tu thiền qua hơi thở (tức quán), để chứng đắc nội giác và trực giác ! Sách thiền của Phật giáo Nam tông lẫn Bắc tông đều có một điểm chung, là đề cao cái trực giác và nội giác ấy. Nghĩa là khi chúng ta «hiểu rõ» và công nhận chánh quả của một Thánh nhân đã đắc, qua sách vở và trí thông minh, không có nghĩa là ta tự nhiên cũng đạt tới. Công phu và thành quả giải thoát của một người khác đã thực hành và đạt được, khi kể lại hay viết lên giấy thì trở thành lý thuyết. Người đời thường lầm lẫn giữa sách vở «kỹ thuật» và khả năng thực hành. Nhất là lầm lẫn tai hại giữa phương pháp và kết quả, vì chúng nằm ở hai vị thế hoàn toàn khác nhau, nhiều khi thực tế của người đã thực hành thành công, và thực tế của người chỉ hiểu biết lý thuyết, chứ chưa thực hành chi hết, là hai thực tế «đối nghịch». Phương pháp nào được viết ra do một người tròn đủ công phu thực hành, chỉ là kết quả mỹ mãn của chính người ấy, nhưng nó không là thành tựu gì cả đối với những người chỉ đọc và hiểu nó. (- Mặc dù đọc và hiểu đúng ý nghĩa một kinh văn cũng không phải là một chuyện dễ ! )….
Sư huynh nói những câu phân tích nầy một cách rất chân thành, dường như sư huynh muốn soi sáng cho tôi, tôi vừa cảm kích vừa cao hứng, liền ngắt lời sư huynh. Tôi nhắc một thí dụ trong sách duy thức mà tôi đã đọc, để tỏ ra «đồng quan điểm» với sư huynh:
– Thưa sư huynh, điều sư huynh vừa nói ví như người chỉ học hỏi một cách đầy đủ phương pháp làm bánh, mà tự tay chưa làm và chính mình chưa ăn cái bánh ấy, thì không thể kể là người đó biết giá trị và biết hương vị của cái bánh.
Sư huynh cười xòa…, bắt bẻ:
– Nhưng bánh thế gian có thể người nầy làm cho người khác ăn để biết hương vị được. Nhưng bánh giác ngộ, giải thoát, ai làm người ấy hưởng.
Tôi không ngờ sư huynh «vặn lại» có lý như vậy, nên ngồi im luôn….
Bây giờ vầng trăng đã lên cao…..soi đều trên vạn vật, nhưng có lẽ ánh sáng của hoàng hôn cuối ngày vẫn còn sót lại, khiến cho khung cảnh xung quanh ngôi chùa lẫn bầu không khí bao trùm vạn vật trở thành trong trong, đùng đục.
Chợt có tiếng chuông vang lên, ngân dài…từ trong chánh điện loang ra, mang theo mùi trầm hương nương gió đưa lại, làm cho tôi cảm thấy tâm hồn lâng lâng thoát tục….
Vị tu sĩ cũng yên lặng…Sư đưa ánh mắt phóng thẳng lên không gian xa thẳm một chập khá lâu, như muốn để tâm hồn người hòa tan vào vũ trụ mênh mông….
Nhất thời thầy trò chúng tôi như hai kẻ «ngồi thiền»….
Rồi những tiếng động xung quanh, kể cả vài tiếng lá rơi, đập vào thính giác tôi, gây cho tôi một cảm giác như du dương trong một cõi thiền am… êm đềm, tịch mịch.
Chúng tôi ngồi đối diện với vầng trăng, để ánh trăng rằm mông lung, được xối lên khuôn mặt, lên da thịt, lên tâm hồn….như chúng tôi muốn tận hưởng cái dịu mát của không khí đêm trăng tròn, ướp hương vị bên cửa thiền…
Thường lệ vào những ngày rằm, mẹ tôi thọ giới «bát quan trai», quen ở lại trong chùa để tụng kinh, đến chín mười giờ đêm, nên tôi vốn chẳng có gì vội. Vả lại, ngày mai là chúa nhật tôi cũng không phải thức dậy sớm đi làm. Thành thử nhân dịp nầy, thưởng thức một đêm trăng đẹp bên mái chùa, nhất là được thưởng thức cạnh một nhà tu thông hiểu giáo lý, đáng kính mến như sư huynh, thì rất là thích thú…. !
Chợt có tiếng mẹ tôi, đã đến sau lưng:
– Bạch thầy, mời thầy vào chánh điện để hướng dẫn khóa lễ sám hối.
Sư huynh quay lại mẹ tôi, hiền từ:
– Ðạo hữu vô trước, thầy vào ngay.
Sau khi mẹ tôi đi rồi, vị tu sĩ ưu ái nhìn tôi nói:
– Những điều về thiền học, sư huynh đã giảng giải cho Tâm Ðạo nghe từ trước đến giờ tương đối tạm đủ. Sư huynh hy vọng Tâm Ðạo sẽ cố gắng thực hành.
Tôi ngoan ngoản gật đầu..
Và bỗng nhớ lại một chuyện, tôi vội hỏi:
– Nghe nói sau lễ Phật đản nầy, sư huynh sẽ sang Miến Ðiện tu thiền, có đúng không ?
Sư huynh chậm rải trả lời:
– Ðúng ! Nhưng từ nay đến đó cũng còn thì giờ, nếu Tâm Ðạo có thắc mắc gì liên quan đến pháp thiền, cứ đến gặp sư huynh.
Nói đoạn sư huynh đứng dậy…và thầy trò chúng tôi cùng nhau đi vào chánh điện.
*****
Khi tôi và mẹ tôi ra về thì vầng trăng đã treo nghiên trên đỉnh đầu, chênh chếch về Tây. Chỉ có lối ra cổng chùa còn những Phật tử ở muộn, lác đác bước đi….Nhưng ngôi vườn xung quanh chùa đã ngủ yên dưới ánh trăng rằm. Mùi thơm của những khóm hồng, khóm cúc, đặc biệt là mùi thơm của những hoa đào, hòa lẫn với mùi sương đêm, tạo thành một không khí lung linh khó tả…
Xe vừa chạy thì mẹ tôi quay qua hỏi:
– Buổi tối con đã kiếm gì ăn chưa ?
– Chưa.
– Con không đói bụng sao ?
– Nói chuyện với sư huynh, con không cảm thấy đói.
Mẹ tôi ngạc nhiên:
– Chuyện gì mà nói đến khỏi ăn vậy ?
– Chuyện tu thiền.
Nghe ba tiếng chuyện «tu thiền» mẹ tôi bật lên cười rộ….Bà cười ngoặc ngoẽo, rồi nói:
– Trời đất quỉ thần ơi. Con tính dở trò gì đây ? Mỗi khi má cúng kiến cầu phước, thì mầy cứ bảo là «Phật nào lại chứng cho những đồ ăn uống phàm tục», mầy chẳng biết thành tâm cúng bái gì hết, mà định làm chuyện tu thiền, thì Phật nào chứng cho mầy ?
Nghe câu nói thực thà của bà già, đến phiên tôi không thể nhịn được bật cười…
Thấy tôi cười dòn, bà liền hỏi lớn:
– Bộ má nói không đúng sao con cười ?
– Con cười vì thấy má không biết «thiền» là gì cả.
– Vậy chớ thiền là cái gì, hả ? Bà chu miệng hỏi tôi.
– Là phương pháp của Phật dạy để làm cho thân và tâm mình được quân bình, khỏe mạnh, và yên tịnh.
Nghe đến mấy tiếng «khỏe mạnh và yên tịnh», mẹ tôi có vẻ vừa «chịu», vừa ngạc nhiên…
Bà vui hẳn sắc mặt hỏi:
– Thiệt hả, sao hồi nào đến gờ tao chẳng nghe ai nói tới?
– Vì con mới được sư huynh giảng giải cho biết trong những ngày gần đây.
– Mai mốt con phải «truyền» cái vụ tu thiền ấy lại cho má nghe chưa !
Tôi gật đầu….
Mẹ tôi tỏ vẻ «hảnh diện» về tôi và rất hoan hỷ thấy rõ.