III
Hôm nay ngày rằm, lại nhằm thứ bảy. Tôi vào chùa với mẹ tôi từ buổi sáng….
Hầu hết các ngày rằm, chùa thường tổ chức thọ bát quan trai giới cho những Phật tử thuần thành. Tôi phải đưa mẹ tôi đi chùa thật sớm, vì bà là một trong những người thường nguyện giữ bát quan trai giới ấy.
Lễ truyền giới hôm nay được sư huynh chủ trì, thành thử tôi cũng theo mẹ tôi vào chánh điện, để nghe sư huynh truyền giới.
Ngồi trên pháp tòa nhìn thấy tôi trong số những người xin thọ giới, sư huynh hoan hỷ mỉm cười như ngụ ý khuyến khích…..
Rồi lễ truyền giới được kết thúc bằng những lời khuyên nhủ của sư huynh, như sau : «Ngày thọ giới bát quan trai là ngày thiện nam, tín nữ tình nguyện tịnh hạnh, để giảm bớt những ràng buộc, những đòi hỏi, những thói quen ô trược, và những chấp nhứt trong tâm hoặc nơi thân con người, chứ ngày ấy không phải là ngày chạy trốn sinh hoạt gia đình, hay chạy trốn cuộc đời. Trái lại, bằng một thái độ tích cực hơn, các hàng Phật tử nên xem ngày tịnh hạnh là ngày «tô điểm» cho sinh hoạt vui tươi hướng thiện của mình. Ai bắt đầu một ngày bát quan trai bằng những ý nghĩ hướng thiện như thế, tức là người tuy sống giữa trần tục, nhưng tinh thần đã trang bị cái khả năng hóa giải những khổ não của thế gian. Họ giữ giới không để được ghi điểm vào sổ công đức, chờ lên cõi trời hay miển cực lạc, mà họ giữ giới chỉ để củng cố sức mạnh hóa giải phiền não ấy. Vì nếu suốt thời gian bát quan trai, mà một Phật tử không tâm niệm như thế, thì cuối ngày bát quan trai, người ấy chắc chắn sẽ bị đối diện với những phiền muộn thường lệ nhiều hơn trước !….»
Tôi nghe những lời khuyên nhủ của sư huynh mà cảm thấy kính phục và ưa thích Phật giáo nhiều hơn nữa.
Mãn khóa lễ, chờ cho hầu hết Phật tử giải tán, sư huynh bỗng gọi tôi hỏi:
– Tâm Ðạo có mặt trước Phật đài, để xem lễ hay để thọ bát quan trai giới ?
Tôi lúng túng, ấp úng:
– Dạ, để xem lễ.
Nghe tôi trả lời như thế, sư huynh cười hiền hòa, không tỏ vẻ gì khó chịu hết.
Ðoạn sư huynh định nói gì thêm nữa với tôi, thì mẹ tôi không biết đã đến từ hồi nào, đứng sau lưng tôi, «can thiệp» vào:
– Bạch thầy, thằng nhỏ nầy nhiều chuyện lắm. Khi chưa được nghe thầy giảng hết những điều thắc mắc, cháu chưa chịu thọ bát quan trai giới đâu.
Tôi biết tính mẹ tôi, hễ mỗi lần bà phàn nàn tôi điều gì, là một lần bà gián tiếp nhờ vị tu sĩ thuyết phục tôi bằng giáo lý nhà Phật.
Tôi vội vuốt đuôi:
– Má nói đúng. Con muốn học đạo với sư huynh một thời gian nữa, trước khi áp dụng bằng thực hành.
Mẹ tôi lắc đầu lia lịa. Bà chắp tay xá xá vị tu sĩ như yêu cầu người đừng chấp nhất những lời lẽ mà bà cho là «cứng đầu» của tôi…
Nhưng sư huynh thân thiện hướng đến mẹ tôi nói:
– Ðạo hữu cứ yên tâm. Tâm Ðạo ngoan và có nhiều nhận xét về Phật giáo khá chính xác.
Vừa nói sư huynh vừa vỗ nhẹ vai tôi:
– Chốc nữa chúng ta sẽ gặp nhau trong phòng sư huynh để nói chuyện.
Tôi vui vẻ gật đầu…trong khi mẹ tôi vẫn thói quen xá xá sư huynh. Và chúng tôi bước ra ngoài chánh điện …
*****
Vườn hoa chùa hôm nay sao mà đẹp thế… Chắc gần ngày Phật đản, chư Phật tử mỗi gia đình mang về chùa một hai chậu, nên vườn đầy hoa, nhiều màu sắc.
Tôi được dịp ngắm từng chòm hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa mẫu đơn…., còn hoa hồng, hoa giấy thì vườn chùa có quanh năm.
Phải nhìn nhận cái thú ngắm hoa bên mái thiền có một ý nghĩa đặc biệt…–Cũng các thứ hoa ấy, mà khi thấy chúng ngoài chợ, tôi không nhận ra những nét đẹp thanh thoát của nó. Có lẽ hoa ngoài chợ để buôn bán, chứa nhiều tục lụy, nên không thu hút được tinh thần người ngắm chăng ?
Tôi đang mãi mê nhìn những đóa hoa vạn thọ, nở có, búp có, màu vàng tươi…thì trong đầu tôi chợt phát lên một ý nghĩ…..
Tôi tự nhủ : «Sự hóa hợp của muôn loài vạn vật thật là kỳ diệu. Quan sát những đóa hoa vạn thọ, ta có cảm tưởng như có một đấng tạo hóa, một bàn tay tinh xảo, đã khéo léo xếp đặt hết những chủng tử vi tế trong hạt vạn thọ (chỉ lớn bằng hạt mè), để có thể nở ra một lô, vừa cây, vừa cành, vừa lá, vừa hoa, một cách có trật tự, nhiều màu sắc rực rỡ, đẹp đẽ như thế !?».
Tôi từ nhỏ đến lớn, chưa bao giờ là người tin tưởng vào một đấng thượng đế, toàn trí và toàn năng. Ðấng có thể tạo ra muôn loài vạn vật, – nhất là đấng ấy đã tạo ra «linh hồn» các động vật, mà không biết chọn «vật liệu» tốt để về sau có thể thuần thục được những «tác phẩm» ấy, tránh cho chúng nó tự sinh bản chất hung ác, hiếp đáp, tiêu diệt, làm khổ lẫn nhau. Rồi «thượng đế» lại nhảy ra làm trọng tài, đóng vai ông tòa thưởng phạt, dựng thêm hai cái thế giới khác nữa là thiên đàng và địa ngục…..
Tuy không tin như thế nhưng tôi cũng chẳng phải là người hoàn toàn duy vật, không tin vào một nguyên tắc thiêng liêng nào cả. Bằng chứng là tôi rất tin tưởng vào luật nhân quả nhân duyên trong nhà Phật.
Dòng tư tưởng của tôi bị đứt quãng, vì nghe tiếng của một đạo hữu từ trong trai đường vang ra : «Mời quí bà con nào còn ở ngoài, chưa dùng cơm trưa, xin bước vào»…
Ở góc vườn bên kia, tôi thấy đã có mấy cụ già ngồi trên băng đá lộ thiên hóng gió, nghe thế vội lần lượt cùng nhau đi vô…
Và tôi cũng nối chân theo họ….
*****
Buổi chiều…..
Tôi vui mừng được sư huynh cho phép vào phòng riêng luận đạo.
Vừa ngồi đối diện với sư huynh, tôi chợt nhớ lại vấn đề «tạo hóa», liền hỏi:
– Thưa sư huynh, hầu hết các tôn giáo khác đều tin có «thượng đế tạo hóa», còn đạo Phật thì nghĩ như thế nào hả sư huynh ?!
Sư huynh đang vui vẻ bỗng nhìn tôi một cách ngạc nhiên, ngập ngừng, dò xét…
Rồi sư huynh cười xòa nói:
– Sao Tâm Ðạo tham lam thế ? Cái gì cũng muốn biết hết. Có những cái chúng ta có thể học hiểu bằng tâm trí phàm tục. Rồi cũng có những cái chúng ta không thể nào thấu rõ khi tâm hồn chúng ta chưa được thanh tịnh thánh thiện. Và bàn luận về tạo hóa hay thượng đế chính là làm cái việc nằm ngoài tầm thông đạt của các hạng phàm nhân.
Tôi buộc miệng cưỡng lại:
– Nghĩa là sư huynh khuyên em nên “tránh” quan tâm đến những vấn đề siêu nhiên, trừu tượng vô hình, thảo luận rắc rối ?
Có lẽ vì sư huynh hiểu lầm bốn tiếng “thượng đế tạo hóa” trong câu hỏi của tôi (vốn ám chỉ nguyên ủy của sự sống, của vòng luân hồi, hay của mọi hiện tượng), nên bị khích động, nghiêm nghị tiếp:
– Nhưng sự thật là như vậy. Những người chưa đạt đến thanh tịnh giải thoát, mà thuyết lý về “máy tạo hóa”, hay mô tả đến thánh quả Niết Bàn trong nhà Phật, là những kẻ vô ý thức nói dối. Họ nói dối xuyên qua óc tưởng tượng, hay nói dối vì bị truyền nhiễm bởi sách vở.
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Trên thực tế, danh hiệu “thượng đế”chỉ là một từ ngữ tôn vinh, do lòng khao khát, trông cậy vào một quyền lực “toàn năng” của con người…dựng lên, khi con người chính mình đã đánh mất lòng tin, cảm thấy bất lực, và đồng thời đang lặn hụp trong cái biển ham muốn (dục vọng).
Tôi xen vào:
– Như thế có nghĩa là“không có thượng đế“ ?
Thấy tôi bất thần “đặt thẳng vấn đề” bằng một câu nghi vấn phủ định. Vị tu sĩ chợt hiểu, thái độ người trở lại tự nhiên, thân thiện….
Sư huynh nhìn sâu vào đôi mắt của tôi, trầm trọng nói:
– Ngày nào chúng ta chưa chứng được quả thánh, thì ngày ấy chúng ta không thể nào rõ thấu “bộ máy nghiệp quả tạo hóa”, hay Niết Bàn (đối ứng với bộ máy ấy) là gì, cho dù chúng ta có sự thông minh vượt bực đến đâu….!
Rồi sư huynh giọng thành thật tiếp:
– Ðừng nói chi đến “Thượng Ðế” là đấng tối cao của các tôn giáo khác, mà sư huynh không muốn làm tổn thương đến tín ngưỡng của họ, ngay cả Niết Bàn là cứu cánh tối hậu của đạo Phật, sư huynh hiện tại cũng chưa hiểu biết chắc chắn được. Lý do hết sức đơn giản vì sư huynh chưa đạt tới thánh tuệ thanh tịnh. Và sư huynh không muốn làm cái việc của kẻ nói theo óc suy luận, nói theo điều chỉ nghiên cứu rồi tin một cách dây chuyền, mà chính mình chưa xác nghiệm. Duy một điều sư huynh biết chắc, không sợ lầm lạc, là cứu cánh ấy (hay Niết Bàn), ai một khi đã nhập vào Thánh giới, kẻ ấy sẽ tự nhiên biết rõ mà không cần tìm hiểu.
Tôi đeo đuổi:
– Nhưng các tôn giáo khác thuyết lý rằng : Vũ trụ muôn loài nầy là do “Thượng Ðế” (của họ) tạo ra. Ðiều có đó đúng không ? Và sư huynh nghĩ có một “Ông Trời” toàn năng như thế không ? Nếu không, theo sư huynh thì như thế nào ?
Vị tu sĩ lại nghiêm hẳn sắc mặt, nhìn tôi:
– Tâm Ðạo cần nhớ điều nầy: Sư huynh là một tu sĩ trong đạo Phật, vậy những điều sư huynh có thể thuyết giảng được là những điều trong giáo lý Phật đà, và niềm tin nào sư huynh có thể minh tả được cũng phải là niềm tin trong đạo Phật. Còn khi chúng ta thảo luận về một vấn đề thuộc niềm tin của kẻ khác, không song song hay không có điểm chung với niềm tin của chúng ta, thì không khéo chúng ta sẽ vấp phải hai sơ hở. Thứ nhất, chúng ta có thể mô tả sai quan niệm, hay niềm tin của người khác. Và thứ hai, chúng ta cũng có thể gây đụng chạm vô ích đến một tôn giáo khác, cùng sống chung trong một xã hội với chúng ta….
Sư huynh nói đến đó rồi ngưng…., nhìn tôi quan sát, xem tôi có đồng ý cho qua đề tài “trừu tượng” ấy không. Nhưng vị tu sĩ thấy trong ánh mắt của tôi một sự quả quyết “tiếp tục tìm hiểu vấn đề tạo hóa”, sư huynh liền dịu dàng thái độ:
– Thôi được, Tâm Ðạo vẫn cương quyết nêu ra thắc mắc, nếu sư huynh không cố gắng giúp em giải tỏa vấn đề, theo tinh thần Phật giáo, thì sư huynh không tận tâm với em hay sao ?
Vừa nói ra mấy lời sau nầy, sư huynh vừa mỉm cười dễ dãi, và nháy mắt nhìn tôi, rồi tiếp:
– Theo thiển kiến của sư huynh thì ngày nay khoa học đã thuyết minh rất rõ vũ trụ nầy, nhất là hệ thống thái dương, trong đó có quả đất mà chúng ta đang sống, đã bắt đầu như thế nào. Và những gì các nhà khoa học từng khám phá, qua những vật chất tìm thấy, rồi kiểm chứng trên địa cầu, và trong bầu khí quyển, xem lại rất phù hợp với giáo lý nhà Phật.
Nghĩa là muôn loài vạn vật đều từ :
1- Vô Minh Hành (Avijjà Sankhàra hay vô thức hướng động), mà khoa học gọi là ngẫu nhiên cấu hợp, tức là không ai an bày ra cả, và.
2- Và Liên Hoàn Lực (Samsàra) mà khởi xuất.
Vô Minh Hành và Liên Hoàn Lực ấy cũng là nguyên ủy xa xôi của chiều thời gian. Từ Vô Minh Hành và từ Liên Hoàn Lực nầy, mà những “Lung Linh Diệu Phổ” (hay khoa học gọi là uyên nguyên tử =photons) đã tự phối hợp và biến thiên dần dần để trở thành những khương quang tuyến (tia sáng đi tới và xoắn lại), rồi trở thành những tương luân hoạt (hướng đến nhau).
Và tương luân hoạt chính là tiền thân của sơ năng thuộc bốn tánh tứ đại, gồm có:
– Tánh cứng mềm của hữu thể hay vô thể (tượng trưng nơi đất, Phạn ngữ là Pathavì).
– Tánh hợp tan, của vừa đủ thì kết dính, dư thừa thì tách ra, nhờ trượt lên nhau, (tượng trưng nơi nước, Phạn ngữ là Àpo).
– Tánh nóng lạnh, của bành trướng hay teo lại, theo các độ âm dương (tượng trưng nơi lửa, Phạn ngữ là Tejo).
– Và tánh di chuyển, của sức đẩy (tượng trưng nơi gió, hay không khí, Phạn ngữ là Vàyo).
Tương luân hoạt với bốn tánh đó, tự nó rất tiềm tàng và tích tụ đến vô tỷ, rồi xung vọng nổ tung (Big Bang), làm xuất hiện bốn hiện tượng (phénomènes) hữu hình hay vô hình của tứ đại, là đất, nước, lửa, và gió (=không khí). Bốn hiện tượng nầy (vừa hữu thể vừa vô thể), tuy vô cùng vi tế (dưới dạng của vi tử tuyến, tức chuỗi u-minh (bụi ánh sáng), nhưng chúng là đầu mối của mọi thứ vật chất. Xin lưu ý ấy chỉ là chuỗi u-minh hay bụi ánh sáng, chứ chưa phải là bụi trần của vật chất bình thường. Nhưng vì chúng bắt đầu biểu lộ “năng lực”, nên “bốn hiện tượng tứ đại” nầy chính là “tiền thân” của u-linh-vật (thời hỗn mang), hay của tất cả những cái mà các khoa học gia ngày nay gọi là hạch nhân (noyau d’atome).
Rồi những hạch nhân, còn gọi là “điện tử chính” (nucléaire) hấp dẫn, kết hợp với những điện tử phụ (électrons) để thành lập vô số nguyên tử (atomes), mà đến đây sư huynh mạn phép tạm dùng một danh từ Phật học, gọi là “hoạt sát na”. Tuổi thọ của hoạt sát na thực ra rất dài, cực kỳ dài, dài đến vô tận, nhưng vì trong mỗi hoạt sát na có chứa bốn tánh rất hùng hậu của tứ đại, nên những biến thiên của bốn tánh ấy xuyên qua bốn tướng (thành, trụ, hoại, không) cũng vô cùng nhanh chóng, nhanh chóng không thể tưởng tượng được. Kết quả người ta chưa kịp nhận diện được cái “dạng” thứ nhất của một hoạt sát na, thì cái “dạng” thứ hai đã đến, rồi dạng thứ ba, dạng thứ tư… đến vô số dạng, kết quả khiến cho người ta nghĩ rằng sự hiện diện của một hoạt sát na rất ngắn ngủi. Chỉ thời gian một giây đồng hồ thôi xem ra đã quá dài so với một dạng của hoạt sát na. Và nguyên tắc vô thường (Aniccà = impermanence) cũng bắt đầu từ đó.
Ngoài những “đơn vị nhỏ nhất” là điện tử và nguyên tử, về phương diện vật chất (matière), khoa học cũng đã chứng minh những “đơn vị lớn nhất” rằng : Quả đất và những hành tinh khác như mặt trăng, hỏa tinh, mộc tinh, kim tinh, vệ nữ.v.v…là những mảnh từ mặt trời văng ra, nằm trong liên hoàn lực của nó. Tất cả hoạt động tạo thành một thái dương hệ. Và trong toàn bầu vũ trụ không phải chỉ có thái dương hệ là nguồn động duy nhất, mà còn những hệ tinh tú khác có thể có những nguyên nhân cấu tạo linh động tương tự hay khác biệt với thái dương hệ.
Quay lại những khám phá vật chất, tuy các khoa học gia đã xác nhận rằng : Lớn hơn nguyên tử (Atome) là phân tử (molécule), rồi lớn hơn phân tử là các đơn vị hữu-cơ (unité organique) hay vô-cơ (substance inorganique)..v.v…Tất cả hằng hiện hữu có kỳ hạn (tuổi thọ), và tự biến hóa không ngừng (dưới dạng nầy hay dưới dạng khác), theo một quy luật tự nhiên, được chứng minh hợp lý, qua bốn giai đoạn (thành trụ hoại không).
Nhưng khoa học thực nghiệm đã không chú trọng đến lãnh vực tâm linh. Chỉ có “tôn giáo” mới xem vấn đề tâm linh là trọng tâm chính. Từ đó những thắc mắc về linh hồn, về thượng đế, về tạo hóa, về nguyên ủy của sự sống, càng ngày càng trở nên “bức bách” rõ rệt trong giới “duy tâm”. Ðiều đặc biệt là khi đào sâu người ta nhận thấy đạo Phật là một tôn giáo vừa duy tâm, vừa khoa học.
Như trên đã nói, Phật giáo nêu ra hai nguyên ủy của vạn vật là Vô Minh Hành (Avijjà), và Liên Hoàn Lực (Samsàra). Rồi từ vô minh hành và liên hoàn lực nầy, mà những lung linh diệu phổ (hay uyên nguyên quang tử) đã phối hợp và đã biến thiên dần dần để trở thành những tương luân hoạt, rồi thành những u linh vật, tiền thân của tất cả pháp giới, như không gian, khí quyển, đất nước, cây cối, sinh chất…xuyên qua vô số chu kỳ hợp hóa. Và những u linh vật ấy, vì vô minh hành và liên hoàn lực thúc đẩy, cứ tiếp tục biến hóa để trở thành những “tế thức” hay “vi thức” nằm bềnh bồng trong không khí. Ðây là giai đoạn tiền hỗn mang vi trần.
Rồi các “vi thức xuất hiện trước” lại nương vào dòng thời gian và cấu kết với những “tế thức xuất hiện sau” để biến thành hằng hà sa số vi sinh trùng, hay những chúng sinh hữu cơ nhỏ nhất. Và những chúng sinh hữu cơ nhỏ nhất ấy vẫn không ngừng hóa hợp, hấp thụ…đến một lúc nào đó thì chúng sẽ trở thành vô số chúng sinh cử động, xuất hiện vào một trong bốn loại sinh tử luân hồi sau đây, là:
Noãn sinh luân hồi (năng lực tái sinh dưới dạng ấp trứng, như chim chóc, rùa, cá.v.v…),
Thai sinh luân hồi (năng lực tái sinh bằng nhờ thân nhiệt nuôi bào thai, như người, thú vật.v.v…),
Thấp sinh luân hồi (năng lực tái sinh nhờ ẩm thấp, pha trộn nóng lạnh, như các côn trùng sâu bọ, từ trong đất hay cây cối rữa mục sinh ra), và
Hóa sinh luân hồi (năng lực tái sinh như các thiên chúng trên các tầng trời tự hóa thân xuất hiện)……
Ðến đây tôi cảm thấy có chỗ để nêu tiêu chuẩn, liền xen vào:
– Thưa sư huynh, nếu như vậy thì cõi để thiên chúng ở phải gọi là thiên đường, và đứng đầu thiên đường phải chăng là “thượng đế” ?
Nghe câu hỏi, Sư huynh liền sợ tôi hiểu lầm lời giảng vừa rồi, có thể qui nạp để dẫn đến một quyền năng “tạo hóa”, sư vội tươi cười vừa trả lời vừa “điều chỉnh”:
– Theo Phật giáo, thì thiên chúng dù đứng đầu có một thiên vương nhiều “quyền lực” đi nữa, thì tất cả cũng chỉ là một loại chúng sinh. “Họ” vẫn có sinh và có tử như bao nhiêu loại chúng sinh khác. Là một thiên vương chỉ vì “thiên linh” ấy đã tạo nhiều nghiệp lành hơn những thiên chúng khác. Và theo luật luân hồi biến hóa, không có một cõi trời nào là cõi trời duy nhất, mà thiên vương đứng đầu cõi ấy lại là chúa tể, có khả năng tạo hóa ra tất cả các cõi trời khác nói riêng, hay toàn thể tam giới chúng sinh nói chung. Và cũng không có cái cõi trời cao nhất điều khiển toàn thể những cõi trời bên dưới. Mà tất cả chỉ là kết quả của những bất đồng phúc đức, duyên nghiệp. Tóm lại, không có vị vua trời nào là đấng sáng tạo ra tam giới cả. Ngược lại, chính các vị vua trời ấy đến một lúc nào đó cũng sẽ hết tuổi thọ, hết phúc đức, mặc dù thọ mạng của họ rất dài, không thể nào đếm xuể, so với kiếp sống ngắn ngủi của loài người.
Tôi chợt nhớ tới một điều, liền chụp cơ hội hỏi nhanh sư huynh:
– Những vị vua trời ấy tuy không phải là tạo hóa, nhưng chắc họ có nhiều thần thông lắm, phải không sư huynh ?
Sư huynh liền vỗ vai tôi, ôn tồn trách khéo:
– Sao bữa nay Tâm Ðạo bắt qua nhiều chuyện “siêu hình” thế ? Ðề tài cũ chưa nói xong em đã lôi ra đề tài mới, và không khéo em có thể kéo sư huynh đi xa lãnh vực thiền học nữa đó.
Tôi vội chắp tay xá xá, nhìn sư huynh với ánh mắt van lơn, và yêu cầu :
-Chuyện quyền năng thượng đế, tạo hóa, thần thông..là vấn đề mà từ lâu lòng tò mò, óc khao khát của em, muốn tìm hiểu về nguyên ủy, đã không ngừng kích thích. Em từng nhân dịp đặt câu hỏi đến nhiều “nhà tôn giáo” rồi, nhưng không vị nào có thể cho em một chút ánh sáng, dù chỉ là le lói. Hầu hết họ chỉ nói rằng “không ai có quyền đặt vấn đề hay tìm hiểu về nguyên ủy của thượng đế hay về tạo hóa, về thiên đàng, về thần thông..v..v….vì luận lý của con người không đủ yếu tố làm nổi việc đó”.
Sư huynh thấy vẻ nài nỉ của tôi “đành” nhượng bộ:
– Thôi được, vấn đề “thần thông” thôi nha. Chuyện nầy, nói sơ qua một chút cũng không sao, kẻo không em lại bảo sư huynh chạy trốn….
Rồi sư huynh hắn giọng, tiếp:
-Trước tiên, sư huynh xin nhấn mạnh rằng “hai chữ thần thông trong Phật giáo phải được hiểu là sự thụ đắc một số quả phúc siêu phàm thuộc về tâm (muốn gì được nấy, nghĩ gì ra đó) hiển lộng bằng hiện tượng “vật chất” của những loại công phu đã tu luyện, hơn là quyền lực bất diệt”do thần thánh ban cho.
-Theo luật tiến hóa, thì thiên chúng trên các tầng trời hằng có nhiều “quả hành” siêu phàm hơn mọi sinh vật trên cõi trần. Loài người khi muốn ăn, muốn mặc, muốn có trú sở, muốn di chuyển, muốn an ninh, muốn thu phát vật gì cách xa..v.v…-nói chung là muốn hành động như ý, thì những thành tựu vốn bị hạn chế. Vì thế, trong thế giới hữu hình, người ta có thói quen gọi những “khả năng” đáp ứng ý muốn ngay tức khắc, (không bị hạn chế bỡi toàn bộ điều kiện vật chất) ấy là “thần thông”.
Ví như lúc đói, thích hưởng thụ vật gì, thiên chúng chỉ cần thoáng nghĩ “tôi muốn…”, lập tức món đó hiện ra trước mặt, đầy đủ, tươi tốt, đựng trong một mâm ngà ngọc, thì phàm nhân chứng kiến, sẽ kinh hoàng, thán phục bảo rằng “ấy là thần thông”. Hoặc giả bậc có thần thông là bậc có thể bay trên không gian, di chuyển xuyên qua núi đá, nhẩn nhơ trong lửa, sống dưới nước, mà không bị ngăn ngại, không bị cháy, không bị ngộp thở.v.v…,-tóm tắt hễ muốn gì thì được nấy tức là có thần thông.
Những khó khăn đạt đến ước muốn, những sợ sệt và úy kỵ…của một sinh vật mang xác thân hữu hình, ô trược, thì đối với thiên chúng vô hình không là vấn đề khó khăn gì cả. Vì trong thiên giới vô hình, cái cháy, cái ngộp, cái bị ngăn cản bỡi vật chất, cái biến mất, cái hiện ra….vốn là những hiện tượng chẳng trở ngại . Nếu trước đôi mắt thịt của chúng ta, đó là thần thông, thì với thiên chúng đó lại là các hành động bình thường. Ðừng nói chi đến việc so sánh “thọ quả” giữa cõi người với cõi trời vốn rất khác nhau, chúng ta chỉ thử so sánh sự sai biệt giữa hai sinh vật chênh lệch phúc lực, trên cùng cõi trần thôi, chúng ta cũng đã thấy rằng loài chim bay được trên không, thì đối với loài người chúng đã có một thứ nghiệp thần thông là biết bay rồi. Còn trong xã hội con người, thì sự dồi dào phúc lộc, đã làm cho một ông vua hay một tổng thống được toại nguyên hầu hết những gì họ muốn, dễ dàng hơn là đám dân nghèo. Ông Tổng thống cần đi từ Sài Gòn ra Hà Nội thì chỉ vài giờ sau là ông ấy “bay” tới nơi. Trong khi đó một dân đen dùng tàu lửa thì phải chật vật lắm mới mua vé được (mà chưa chắc đã có liền), rồi họ phải hành trình mấy ngày mới đến. – Chưa kể dân quá nghèo phải cuốc bộ bằng đôi chân thì chắc phải tốn thời gian cả năm trời. Và chính sự chênh lệch phúc lộc ấy mà người ta nhận ra rằng ông tổng thống dường như có “thần thông”.
Tuy nhiên, điều quan trọng phải biết là “Thần thông ấy chẳng phải vĩnh viễn hay bất diệt”. Mọi trình độ thần thông đều chỉ là thành quả cô đọng, hay phúc lực hữu hạn, của một thiện nghiệp, hoặc công phu định tâm nào đó, trong kiếp nầy (của các nhà tu luyện định lực) hay từ những kiếp trước (như của chim, cá, bay trên không gian, lội trong nước). Khi nào phúc lộc hưởng hết, thì thần thông cũng sẽ mất theo,. (-Ví như ông tổng thống kia lúc mãn nhiệm kỳ, mà vì đã không tạo nhiều phúc mới, không được toàn dân tái cử, thì ông cũng sẽ đi bộ như thường, chứ sau khi mãn nhiệm kỳ ông không thể muốn là được như trước nữa). Còn về phương diện đối xử với người khác, thần thông khi được dùng với thiện tâm, thì oai lực đầy đủ, nhưng lúc xử dụng với nóng giận, ác ý, thì nó giảm xuống, hay kém hiệu lực. Và kẻ xử dụng nó sẽ bị thiệt hại, như tổn thọ, bị rút ngắn thời gian được hưởng thần lực. Vì vậy, nếu bọn tà ma ác đạo nhờ một lý do tu luyện nào đó mà có thần thông, thì chúng cũng chẳng trường kỳ làm hại được ai, ngoại trừ chính nạn nhân của chúng vì tà kiến, vì mù quáng tin sợ, mà giúp cho “ác thần thông ấy”có chút ít hiệu lực. Trường hợp nầy, kết quả bất thiện nếu xảy ra cho nạn nhân, thì ấy chỉ là phản ảnh của tà kiến và của tăm tối tin sợ, của cộng duyên nghiệp, chứ không phải duy nhất là của thần thông ác độc.
Nhưng trong xã hội loài người, nhất là ở những xứ chậm tiến, thỉnh thoảng cũng có vài hiện tượng quỉ thần hiển lộng qua một ít “xác phàm”, hay rất hiếm những phù thủy, thầy bùa, thầy pháp có thể làm được một số chuyện khác thường, như đi trên lửa, nín thở thật lâu trong nước, tìm được chỗ bí mật ai cất dấu cái gì, hoặc nói đúng những điều người khác suy nghĩ, chưa thố lộ (hầu hết thuộc đời sống riêng tư), nên được người đời nể sợ, và tin càng rằng “họ có thể làm hại những ai không qui phục họ”, rồi vội vã cầu xin cúng vái, nộp phẩm vật tiền bạc lo lót, để “quí ngài” giúp cho “tai qua nạn khỏi” hay “ban nhiều” phúc lộc. Từ đó, những quỉ thần giả mạo, hay những thầy bùa thầy pháp láo khoét, xuất hiện rất nhiều, còn các trường hợp “có thật” thì lại rất ít, tạo ra một tệ trạng mê tín dị đoan, phản tiến hóa, vô nhân tính. – Phản tiến hoá, vô nhân tính đến độ nó đã gián tiếp giúp giáo cho những ác đảng duy vật, lợi dụng chiêu bài đả phá mê tín dị đoan, để khinh thường đạo đức, chế diễu kẻ tu hành, không tin tội phước, gây hoang mang, rối loạn trong quần chúng, phá hoại xã hội, để dễ dàng thủ lợi.
Vả lại, nếu đó là một vài trường hợp có “thần thánh hiển lộng” thật sự, thì những “xác phàm trung gian” kia cũng chỉ “tiết lộ” được những bí mật đã qua, hay đang có, trong đời sống con người, chứ họ không thể nào biết trước những chuyện sẽ xảy ra. – Các “xác phàm trung gian” hay các thầy bùa, thầy pháp ấy càng không thể làm hại nổi ai, nhờ những khả năng khác thường ấy. – Ngoại trừ kẻ nào có gây thù kết oán với họ. Mà nói đến thù oán thì cần gì phải động đến thầy bùa thầy pháp mới nhận phản ứng ? Người ta chỉ cần xâm phạm một người tàn tật cũng có thể bị họ tự vệ phản ứng mạnh rồi.
Tôi nghe sư huynh thốt câu sau cùng nầy, thì không nhịn được phải bật cười.
Vị tu sĩ không cười theo tôi, mà nói tỉnh queo:
– Bây giờ thì Tâm Ðạo thấy rõ cái hiệu dụng của “thần thông” hay những cái gọi là “quyền phép” đó như thế nào chưa ? Ðối với Phật giáo những thứ ấy không giúp ích được gì trong việc tẩy sạch tham, sân, si, giải thoát phiền não, và chấm dứt đau khổ luân hồi hết.
Ngược lại, không khéo chính thần thông lại làm cho người ta tự cao, ngã mạng, ỷ lại vào quyền lực của mình rồi về sau bị sa đọa.
Tôi sốt sắng gật đầu, tỏ vẻ đồng ý mấy lời sư huynh vừa nói. Ðoạn tôi tiếp:
– Bây giờ em tình nguyện quay lại đề chính. Thưa sư huynh, vì sao phàm nhân như chúng ta không thể hiểu Niết-Bàn là gì ? Sư huynh có thể cho em một thí dụ được không ?
Vị tu sĩ có vẻ hài lòng với câu hỏi nầy, liền vui vẻ đáp:
– Người tâm linh chưa thiện thục, chưa chứng được thánh quả thanh tịnh giải thoát, mà muốn hiểu biết về Niết Bàn, về cõi trời, hay về thượng đế, ví chẳng khác nào một cậu bé chưa vượt khỏi ngưỡng cửa mẫu giáo, đọc viết chưa thông, mà muốn “nắm vững” những vấn đề cao siêu nằm sâu trong trình độ đại học, rồi yêu cầu cha mẹ tìm kiếm cho mình một nhà thông thái để giảng giải rõ ràng, thì không bao giờ đạt được, dù nhà “thông thái” kia có cố gắng đến đâu. Huống chi học trò là một người mới biết đọc biết viết, và trên thực tế ông thầy cũng chỉ vừa xong trung học. Rồi nếu vì tự ái mà ông thầy cứ mua sách đại học đem về ngồi đọc nguyên văn, và tùy tiện giảng luận cho học trò nghe, thì cả hai thầy lẫn trò trông chẳng khác nào một người mù mò chữ trên mặt giấy, để diễn tả một vườn hoa đầy màu sắc cho một người mù khác. Vậy điều cần thiết là ai muốn thông suốt các vấn đề đại học, phải bắt tay vào việc học hành, dù có đốt giai đoạn đi nữa, thì cũng phải đi suốt và tiêu hóa hết hai chương trình tiểu học và trung học, để tiến dần vào trình độ đại học.
Ðạo Phật ví sự đi suốt và tiêu hóa, hay nắm vững hai chương trình tiểu học và trung học ấy, như hai giai đoạn bao gồm tinh tấn tu tập (gìn giữ giới hạnh), và hành thiền (thanh tịnh tâm hồn một cách thuần thục). Theo đó, gìn giữ giới hạnh, sống đời sống trung đạo, thanh đạm, tri túc, để giảm thiểu tham vọng, ví như người sơ đẳng tập đọc và tập viết, còn chăm chỉ hành thiền (an trụ tinh thần), ví như người hằng ngày chuyên cần học hành xuyên qua hai chương trình tiểu học và trung học. Chưa kể đối với các trình độ học vấn thế gian, các học sinh tiểu học và trung học chỉ cần học qua lý thuyết cũng gặt hái được một số “kiến thức” có thể áp dụng được. Nhưng để tiến hóa trong Phật giáo, sự thông hiểu lý thuyết dù “uyên bác” đến đâu cũng không giúp “thức giả” gặt hái được đạo quả nào. Vì hầu hết các pháp môn trong đạo Phật, nhất là các pháp môn đưa đến Thánh quả, người tu không thể đạt được bằng lý thuyết, mà phải luôn luôn chứng đắc bằng thực hành.
Sư huynh giải đến đây thì tôi chợt sáng, vội nói:
– Nghĩa là sư huynh muốn bảo: Phải gìn giữ giới đức và thực hành thiền định cho tịnh tâm trước, rồi sự hiểu biết mọi vấn đề, siêu hình lẫn hữu hình, tự nhiên sẽ đến sau ?
– Ðúng vậy. Và căn bản nhất là thực hành cách nào để đạt được sự hiểu biết thanh tịnh về chính mình: Hiểu biết mọi biến hành trong thân tâm của mình, vì đó là nền tảng tiến lên các bậc Thánh.
Tôi hiểu ý, liền đề nghị:
– Bây giờ thì yêu cầu sư huynh giảng tiếp đề tài thiền- tức-quán hôm trước.
Sư huynh nhìn tôi gật đầu, đoạn sư huynh hỏi:
– Mà Tâm Ðạo có nhớ kỳ rồi sư huynh đã giảng đến đâu không ?
Tôi còn nhớ, vội đáp:
– Sư huynh đã dừng ở chỗ “khả năng mầu nhiệm của hơi thở và diệu dụng của thiền định”.
Sư huynh lộ vẻ hài lòng, nghiêm chỉnh sắc mặt nói:
– Ðịnh tâm trong hơi thở là một công phu. Công phu nầy làm nền tảng cho các bậc Thánh, là bước chân đầu tiên đặt lên lộ trình giải thoát.
Dừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Lần trước sư huynh đã có đoạn giải qua thiền định là gì. Thiền minh sát là gì. Thiền tức quán là gì, so với hai pháp tu thiền kia. – Tâm Ðạo còn nhớ không ?
Tôi cố gắng nhắc lại:
“- Thiền định là dùng đề mục để phát triển an trụ. Thiền minh sát dùng an trụ để phát triển quán sát. Nói cách khác, thiền định là căn bản của pháp thiền, là chất liệu làm phát sinh trí tuệ giác ngộ. Thiền minh sát là diệu dụng của pháp thiền, là sự tỏa sáng của trí tuệ giác ngộ. Riêng thiền tức quán khi tu ở bậc thấp thì được an trụ, rồi khi hành giả tiến lên bậc cao, tự nó biến thành minh sát. – Hay thiền tức quán là pháp tu trung trực, bao gồm cả hai phương diện tu thiền kia…”
Vị tu sĩ ngạc nhiên khen ngợi:
– Tâm Ðạo nhớ giỏi lắm. Nếu những điểm quan trọng nào sư huynh giảng ra, mà Tâm Ðạo cũng có thể giữ lại trong óc như thế, thì ngày kia Tâm Ðạo sẽ là một Phật tử có kiến thức dồi dào.
Chợt đôi mắt sư huynh nhìn lên bức tranh đức Phật ngồi tham thiền, treo trên vách…và sư huynh nói bằng giọng chân thành:
– Nhưng học hiểu đúng đắn mà trong tương lai không tìm dịp thực hành, thì thật là một mất mát rất lớn.
Lòng tôi bỗng dâng lên một sự kính mến vô biên đối với sư huynh, tôi vui vẻ hứa:
– Thực hành để thành công đến mức nào thì em không dám chắc, nhưng nhất định là em sẽ thực hành.
Sư huynh cười xòa giảng tiếp:
– Ðịnh tâm trong hơi thở là một công phu. Công phu nầy không những giúp ta tìm ra ánh sáng giác ngộ vào kiếp chót, mà ngay trong giai đoạn còn tu tập, sự định tâm ấy còn cho ta có một đời sống quân bình, ít bệnh hoạn…
Ba tiếng “ít bệnh hoạn” của sư huynh đập vào lỗ tai, làm tôi khích động không ít. Tôi không ngờ thiền học trong Phật giáo có những cái thực tế quí báu như thế.
Tôi không kềm được lòng tò mò, liền hỏi:
– Công phu định tâm trong hơi thở, giúp ta ít bệnh hoạn như thế nào hả sư huynh ?
Sư huynh điềm đạm chất vấn tôi:
– Tâm Ðạo có bao giờ ngẫu nhiên “theo dõi” hơi thở của mình chưa ?
Tôi chẳng hiểu sư huynh dụng ý gì, nhưng cũng trả lời thành thật:
– Có, thỉnh thoảng em có “bình tĩnh lắng nghe” hơi thở của mình. Khi mệt thì nó dồn dập. Khi khỏe thì nó thong thả.
– Và em có chú ý cảm thấy đến độ dài, ngắn, của nó ra sao hay không ?
– Em không chú ý. Nhưng đại khái em biết rằng hễ thở dồn dập thì hơi ngắn, còn thở thong thả thì hơi dài.
– Bất luận là thở cách nào (dồn dập hay thong thả), nhưng khi thở em có xác định được chiều dài của các hơi thở ấy nó đều đặn, hay….bằng nhau không ?
– Không. Ít ai để ý xác nhận nổi chuyện ấy lắm Nhưng theo em nghĩ thì “chiều dài” của các hơi thở chắc phải bằng nhau.
– Em lầm rồi !
Tôi ngạc nhên:
– Lầm cái gì hả sư huynh ?
– Lầm vì em cho rằng phàm nhân sống bằng những hơi thở đều đặn bằng nhau.
Rồi sư huynh yên lặng….như muốn để tôi suy nghĩ, có thể chữa lại câu nói của mình.
Ðoạn sư huynh bảo:
– Mà không riêng gì Tâm Ðạo, rất nhiều người cũng tưởng lầm như thế. Thực ra, trong đời sống hằng ngày, có quá ít (hay hầu như không có) những người bình thường sống bằng những hơi thở bằng nhau, ngoại trừ các bậc Thánh.
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Dĩ nhiên, khi mệt thì hơi thở dồn dập, ngắn lại, khi khỏe thì hơi thở thong thả, dài ra. Ðó là chuyện dễ hiểu. Nhưng khi mệt mà hơi thở ngắn không đều, hay khi khỏe mà hơi thở thong thả không như nhau, thì ấy là một trạng thái bất lành. Trạng thái bất lành ấy, nếu phân tích theo Phật giáo, là bỡi con người hằng ngày sống theo sự chỉ huy bất chừng của dục vọng. Tất cả hệ thần kinh của họ thường xuyên bị co giãn một cách chẳng hòa nhịp, mất trật tự, do lòng ham muốn thay đổi, vô đáy. Lòng ham muốn ấy (dục vọng) vốn nung nấu liên tục trong sáu nhục sở nội thân, là thần kinh mắt, thần kinh tai, thần kinh mũi, thần kinh lưỡi, thần kinh da, và trung khu thần kinh, – mà Phật giáo gọi là tham dục nơi nhãn thức, tham dục nơi nhĩ thức, tham dục nơi tỷ thức, tham dục nơi thiệt thức, tham dục nơi thân thức, và tham dục nơi ý thức. Khi nào sáu căn thức ấy còn chứa đầy tham dục (đòi hỏi), là khi ấy tim, phổi, và mạch máu không thể nào làm việc bình thường, nhịp nhàng được. Tim là cơ quan chỉ hoạt động với những gì sẵn có trong thân, như chuyển động sự tuần hoàn của máu. Nhưng phổi là bộ máy đón nhận nguồn sinh lực từ bên ngoài, đồng thời tống bỏ các tử khí trong thân. Nguồn sinh lực ấy được gọi bằng một cái tên rất khoa học là dưỡng khí. Còn tử tính gọi là thán khí. Khi phổi nhận dưỡng khí vào thân một cách vô ý thức (không an tịnh), thì các sở dục nội thân vừa kể, lấn áp nhau tiêu thụ để đáp ứng lượng đòi hỏi không đáy của mình, khiến cho gây chênh lệch sinh lý tuần hoàn, tác hại vào tim, và làm cho buồng phổi không thể tống ra hết những tử khí còn ứ-đọng trong nó. Kết quả, có một sự thặng dư trược tính nằm trong máu, khiến cho con người mất quân bình, sinh bệnh hoạn. Có những chứng bệnh vì hoàn cảnh gây ra, người ta không thể nào tự mình ngừa được, như vi trùng, độc tố, thời khí, tai ách, chậm tiến.v.v…là do hậu quả vô minh của tiền nghiệp, phải dùng thuốc men mà chữa trị. Nhưng cũng có những chứng bệnh sinh ra trong hiện tại, do nhân loại không biết tu tập. Loại bệnh nầy không những làm cho đau đớn nơi thân, mà còn làm thống khổ trong tâm nữa. Phần nhiều các chứng bệnh làm khổ thế gian là loại bệnh do loài người không biết tu tập, mà thả trôi đời sống theo dục vọng. Ðức Phật là bậc nghiệm thân chứng pháp. Ngài đã tìm ra chỗ thiết yếu ấy, nên Ngài diệu dụng ngay pháp tức quán (niệm hơi thở) để điều độ nguồn dưỡng khí, hầu chỉ huy các sở dục. Ngài ví các sở dục trong thân như những đứa bé tham ăn. Những đứa bé ấy không phải hoàn toàn đáng ghét, vì nhờ chúng mà sự sống kéo dài, công phu tu tập được tiếp tục. Nhưng nếu trí lực không minh mẫn để chỉ huy chúng được, chúng sẽ trở thành những nguồn nguy hiểm bất tận. Từ nguyên thỉ, vạn vật nhất là loài người khi sinh ra vốn có những hơi thở thường đều, tương xứng với dung lượng buồng phổi của họ. Nhưng xuyên qua giòng thời gian, qua hoàn cảnh, lúc khôn lớn con người đã bị ô-nhiễm bỡi cuộc sống. Chính dục vọng trong họ đã lôi cuốn, che mờ….khiến họ mất đi cái hạnh phúc đồng đều trong hơi thở.
Sư huynh giảng đến đây thì yên lặng nhìn tôi, dường như để xem tôi có điều gì bất đồng ý không ….
Ðoạn sư huynh tiếp:
– Hầu hết người trên thế gian hằng sống bằng những hơi thở không đều, nhưng họ chẳng ý thức được Tâm Ðạo chỉ cần để ý một sinh hoạt thân thể rất tầm thường cũng có thể hiểu. Ðó là giấc ngủ: Khi một người ngủ, những hơi thở của người ấy tuy không hoàn toàn đều đặn, như hơi thở của một Thánh nhân lúc tham thiền. Nhưng chắc chắn trong giấc ngủ, hơi thở của họ đã tương đối đều hòa hơn lúc họ còn thức. Kết quả, khi tỉnh dậy họ cảm thấy sảng khoái vô cùng. Một phàm nhân chỉ cần ngủ ngon (chứ không phải ngủ mê vì một số hệ thần kinh bị chênh lệch, nhất là khi bệnh hoạn), từ 5 đến 6 giờ, trong một chu kỳ 24 giờ, là họ có thể hóa giải những nhọc nhằn của đời sống lao động hằng ngày. Mặt khác, giấc ngủ ngon cũng là một hình thức «tạm nghỉ ngơi» (ngưng đòi hỏi) của các sở dục giác quan, nên tinh thần người ngủ đương nhiên được giảm bớt những dằn vật bỡi hai trạng thái vừa lòng và bất mãn do ngoại cảnh mang lại.Tất nhiên, giấc ngủ ngon của các hạng phàm phu không thể so sánh với trạng thái an định của những bậc Thánh. Sư huynh xin lưu ý Tâm Ðạo rằng «mượn tạm một sinh hoạt thông thường của thân thể là giấc ngủ ngon (vì nó dễ hiểu), cốt để giúp cho em suy đoán ra một trạng thái tâm thức, liên quan đến sức khỏe, chứ Tâm Ðạo không nên hiểu lầm sự nhập thiền của chư Thánh nhân chỉ như việc nghỉ ngơi nhờ giấc ngủ. Vả lại, đối với y-học, giấc ngủ ngon còn có thể xem là một loại «thức ăn phải có» của thể xác. Người ta hay nói «ngủ ngon quí hơn ăn bổ» đủ biểu lộ rằng : Cho thần kinh ngơi nghỉ la một việc rất cần thiết. – Huống chi tham thiền nơi hơi thở, là sự bồi dưỡng phát triển cả thể xác lẫn tinh thần, thì giá trị của tham thiền quí báu biết dường nào.
Ðến đây tôi vội xen vào:
– Sư huynh có thể cho biết, khi hơi thở không đều thì tại sao sinh bệnh ?
– Vì buồng phổi lấy không đủ dưỡng khí vào, và tống không hết trược tính ra khỏi thân thể .
Thật là một câu trả lời ngắn gọn, vừa đầy đủ ý nghĩa, vừa rất khoa học.
Tôi ngồi im, chưa biết hỏi gì thêm, thì sư huynh tiếp:
– Thực ra, sự không đều trong hơi thở của con người rất vi tế, khó nhận biết. Người ta sống thiếu quân bình một cách thường xuyên, mà người ta không hay. Nhiều kẻ cảm thấy mình «sức khỏe dồi dào», còn tin tưởng rằng thân thể họ sẽ chẳng bao giờ thọ bệnh, hay nói một cách trung thực hơn là họ nghĩ «còn lâu mới thọ bệnh»…Nhưng đến khi (hoặc bất chợt) con người cảm thấy rõ rệt sự bất đồng trong hơi thở, thì thân bệnh lẫn tâm bệnh đã hiện ra công phá rồi, nặng nhẹ tùy trường hợp. Hầu hết tâm bệnh (luôn cả một số nhiều thân bệnh) là hậu quả của những sự ham muốn, lo âu, sợ sệt, bất mãn, thối chí….(tất cả đều bắt nguồn từ dục vọng) thường dẫn đến một trạng thái, mà y-học thế gian gọi là «hồi hộp», hay căng thẳng thần kinh. Tâm Ðạo chắc đã từng thấy qua một người buồn rầu quá độ, ngồi thẩn thờ thở ra…- Hơi thở ra dài thườn thượt của họ là một cách nói rằng : Lượng khí xấu trong người họ đầy ăm ắp, đang nung nấu họ đến mức không chịu nổi nữa, phải phản ứng đẩy ra kéo dài như vậy. Lắm kẻ khổ tâm quá mạnh, trạng thái bấn loạn trong hơi thở không đều chẳng cung cấp đủ dưỡng khí cho não bộ, giúp tinh thần họ nhẹ bớt, họ có thể quẩn trí tự sát, hay làm những chuyện nông nỗi, ngu muội tàn ác khác. Ðạo Phật, ngoài khả năng giải khổ cho con người, còn là một phương thuốc chữa trị tâm bệnh và điều chỉnh thân bệnh rất hiệu lực. Sự điều chỉnh ấy là kết quả khởi đầu của phép tu niệm hơi thở, mà sư huynh đã giảng giải cho Tâm Ðạo nghe từ mấy lần qua….
Tôi hiểu ra một điều liền hỏi:
– Nghĩa là trong pháp tu thiền niệm hơi thở, hữu dụng đầu tiên là điều chỉnh được nhịp sống xuyên qua sự hô hấp ?
– Ðúng vậy, quả tim con người hoạt động khó khăn hay dễ dàng, tùy thuộc vào mức độ tiếp nhận và sa thải hai thứ sinh khí và tử khí của buồng phổi.
Tôi sực nhớ một điều, vội hỏi:
– Thân bệnh và tâm bệnh khác nhau ra sao hả sư huynh ?
– Thân bệnh là các bệnh hoạn thuộc về xác thịt, như bị thương tích, bị đui điếc tàn tật, bị di truyền bệnh của cha mẹ trong máu, bị vi trùng xâm nhập…Còn tâm bệnh là những bệnh nằm trong tinh thần con người, như: gian tham, ích kỷ, hung dữ, thù hận, âu lo, nóng nảy, ngu muội, háo danh.v.v….Tất cả đều bắt nguồn từ dục vọng. Tâm bệnh và thân bệnh hằng xảy đến cho các hạng phàm nhân. Nhưng đối với các bậc Thánh nhân, chỉ có thân bệnh là phần nào còn có thể khuấy phá.
– Giữa hai thứ bệnh ấy có sự liên quan với nhau không ?
– Phải nói hai thứ bệnh ấy liên quan ảnh hưởng với nhau rất mạnh mẽ, nhất là đối với người phàm. Một kẻ thân tâm chứa đầy dục vọng, khi bị bệnh hoạn công phạt, họ không thể nào phân biệt đâu là đau đớn xác thân, và đâu là khổ não tinh thần. Họ chỉ cảm thấy một nguồn đau khổ duy nhất chi phối cả tâm hồn lẫn thể xác một cách dồn dập.
– Còn đối với các bậc Thánh nhân ?
– Tùy theo sự chứng đắc được quả Thánh cao hay thấp, mà các hàng Thánh nhân chỉ bị đau đớn xác thịt chi phối nhiều hay ít. Tuy nhiên, các Ngài không bao giờ để cho những cảm nhận đau đớn xác thịt ấy gia tăng và kéo dài.
– Nghĩa là ?
– Nghĩa là trong trường hợp như vậy, các Ngài lập tức xử dụng thiền pháp. Thánh nhân đắc quả càng cao, thì sự nhập định càng nhanh. Và khi nhập định, các Thánh nhân không còn biết khổ do bệnh hoạn thân xác ấy đang công phạt nữa.
Lời giảng của sư huynh rất rõ ràng, không có chữ nào tối nghĩa hết. Nhưng tôi vẫn…ngờ ngợ.., nhận thấy có cái gì vượt khỏi tính tự nhiên, khó hiểu….
Tôi thẳng thắn hỏi sư huynh:
– Làm sao, khi một cơn đau đớn bạo hành trong thân thể, mà các Thánh nhân có thể nhập định, rồi không cảm thấy gì cả ?
Sư huynh im lặng nhìn tôi.. Chợt sư nghiêm giọng:
– Tâm Ðạo lại bị óc tò mò lôi kéo nữa rồi. Hồi nãy Tâm Ðạo muốn biết thượng đế có hay không có. Còn bây giờ Tâm Ðạo lại nghi ngờ một khả năng tu luyện, Thánh nhân làm được hay không làm được.
– Vừa nói vị tu sĩ vừa quan sát nét mặt tôi….Ðoạn sư ôn tồn giải:
– Sư huynh không dám lạm bàn chuyện khả năng của các Thánh. Nhưng sư huynh chỉ cố gắng giúp cho Tâm Ðạo có một khái niệm về điểm nầy. Vì khái niệm ấy có thể thúc đẩy hàng Phật tử trong việc tinh tấn tu trì, chứ không phải để thỏa mãn óc tò mò…
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Như Tâm Ðạo đã hiểu: Ðau khổ chỉ là một cách diễn tả sự bất toại nguyện (hay không bằng lòng) trong tâm tư, khi sự ham muốn hoặc sự né tránh sự thật không được thỏa mãn một cách mù quáng. Nói cách khác, đau khổ ấy chính là phản ứng của dục vọng. Chúng ta có thể đặt câu hỏi «Vậy dục vọng dựa trên cái gì để tung ra hàng lô những sự ham muốn ? Và khi không được đáp ứng thì phản ứng của nó biến thành đau khổ, tác hại trong thân lẫn tâm… ?» – Phật giáo chỉ rõ rằng : Dục vọng dựa vào xác thân và dựa vào cái «mạng sống» phù du nầy, nhất là dựa vào sự ham sống trong từng tế bào, dựa vào lòng ích kỷ và sự ngã chấp, tưởng lầm rằng «xác thân và sinh mạng nầy là nguồn hạnh phúc»… Nhưng một người khi đã trở thành Thánh nhân, người ấy tuy vẫn thanh tịnh sống một cách tự nhiên, không ruồng bỏ sự thật «có thân tức là có khổ», lúc họ chưa hết tuổi thọ. Nhưng họ không còn mê sống, không còn dính mắc với bất cứ cái gì thuộc về xác thân tạm bợ và sinh mạng phù du nầy, vì họ chứng thật rằng: Mọi vật có sinh thì phải có diệt, như một chu kỳ tuần hoàn của toàn thể pháp hành. Và ở giữa hai điểm sinh và diệt ấy là những trạng thái thay đổi, già nua, bệnh hoạn, tiêu hoại, xung đột, bất toại nguyện, đau khổ. Do đó, tâm linh họ không tự cột chặc với bất cứ tế bào nào trong xác thân nầy cả. Hễ có một tế bào hư hỏng là họ sẵn sàng buông bỏ. Họ thanh tịnh, vui vẻ sống với những sức sống nào còn lại, không tiếc rẻ các sức sống đã mất, cũng không ôm cứng những sự sống nào hiện tại đang tươi tốt. Họ thản nhiên và tích cực trong việc lành, không lạc quan, cũng không bi quan. Khi có một cơn bệnh thể xác hoành hành, là khi ấy có sự xung đột giữa tế bào sống và tế bào chết, để tranh thủ sức trường thọ cho họ, nhưng họ nhờ giác ngộ sự thật, đã thanh tịnh, tự nhiên, không màng đến sự trường thọ hữu hạn ấy nữa. Họ chẳng để cho giác linh câu hữu với bất cứ cái gì đến hồi suy tàn, ung thối, ô-trược, bằng cách nhập định, thì làm sao bệnh hoạn thân xác có thể làm cho họ cảm thấy đau khổ được ?
Sư huynh diễn giảng những lời nầy với tất cả sự thành kính thoát tục. Hồi nãy sư huynh theo dõi tìm hiểu nét mặt của tôi, thì bây giờ đến phiên tôi, vừa chăm chú nghe, vừa quan sát một cách ngạc nhiên «thần diện» của sư huynh…Sư huynh nói về chư Thánh nhân giải trừ những cái khổ kể từ từng tế bào…khiến tôi càng nghe càng nhận thấy thiền học trong Phật giáo vô cùng thâm hậu, vi tế. Tôi không ngờ các bậc Thánh đắc thiền lại có thể thông thấu được thân thể mình sâu xa đến như vậy.
Tôi đặt câu hỏi tiếp:
– Chư Thánh cũng có những cảm giác phản xạ như chúng ta chứ ? Chẳng hạng như khi dẫm phải một cây đinh, Thánh nhân có cảm thấy đau đớn không ?
– Dĩ nhiên là có. Nhưng cái đau thuần túy xác thịt ấy, tiếp theo được Thánh nhân dùng thiền pháp giải trừ.
Vừa nói sư huynh vừa đưa mắt nhìn ra khung cửa sổ….Bên ngoài có mấy cánh chim bồ câu, vừa đáp xuống một cành cây gần đó. Chúng mở to đôi mắt tròn xoe, hiền hậu nhìn sư huynh và tôi….
Bỗng sư huynh đưa ngón tay chỉ mấy con chim, rồi hiền từ nói:
– Loài chim chỉ có thân bệnh, và rất ít tâm bệnh.
Tôi ngạc nhiên phát biểu:
– Loài chim làm gì biết suy tư mà có «tâm bệnh» hả sư huynh ?
– Ðạo Phật lúc nào cũng chú trọng đến cái «nhân». Suy tư chỉ là một loại hậu quả của sinh hoạt tâm thức. Nó có thể là một loại tâm bệnh, chứ nó không phải là nguyên nhân của tâm bệnh. Chính lòng tham mới là nguyên nhân của tâm bệnh. Ðối với loài người lòng tham còn gọi khác đi là dục vọng. Hãy quan sát khi chúng ta rải một nắm thóc, loài chim chen lấn nhau mà ăn. Chúng mổ càng nhanh càng tốt, sợ ăn chậm, phần mình sẽ ít đi. Ðó là một cách biểu lộ lòng tham. Lòng tham biến thành sự thiếu thốn, rồi sự thiếu thốn biến thành sự sợ sệt, sợ mất phần, phải ghi nhớ, đắn đo, suy nghĩ cách nào để tránh nó….là một tâm bệnh. Duy có điều loài chim (cũng như hầu hết thú vật khác), vì nghiệp lực không biết ghim gút, đắn đo, trí nhớ biến thành bản năng, nên tâm bệnh của chúng ít trầm trọng hơn tâm bệnh của loài người mà thôi
Tôi chưa hài lòng, phát biểu tiếp:
– Em thấy trong sách vở khoa học, bảo rằng «thú vật tuyệt đối sống bằng bản năng chứ không biết tính toán». Ðiều ấy không đúng sao sư huynh ?
– Chưa chắc ! Khi chúng ta rải một nắm thóc, mà loài chim cứ thong thả ăn, không cắn nhau, thì ấy là tuyệt đối bản năng. Nhưng thực tế không phải là như vậy.
Tôi im lặng, vì lời giảng của vị tu sĩ quá xác đáng.
Chợt sư huynh lắc đầu….mỉm cười:
– Chúng ta lại đi xa đề tài tu thiền nữa rồi.
Ðược nhắc nhở, tôi vội đề nghị:
– Bây giờ sư huynh có thể giải thẳng vào phần khởi đầu pháp tu thiền niệm hơi thở.
Sư huynh thay đổi nét mặt thành trầm ngâm, dường như sư huynh muốn đắn đo, nên chọn điểm nào, để quay lại chính đề cho hợp lý.
Một phút tĩnh mịch trôi qua.
Cả hai thầy trò chúng tôi im lặng….
Bên ngoài trời nắng hanh hanh, nhiệt độ của một buổi chiều tháng năm, nong nóng, hắt vào căn phòng.
Bỗng sư huynh chậm rải giảng:
– Niệm hơi thở tức là lấy hơi thở làm đề mục để tập trung tâm trí. Chữ niệm nghĩa là nhớ biết Theo Phạn ngữ (tiếng của đức Phật), thì có hai từ ngữ đi đôi, là sati và Sampajanna, tức là nhớ và biết. Nhớ (Sati) là «để lại trong tâm», biết (Sampajanna) là «phân biệt đối tượng». Khi chúng ta thở vô, chúng ta không nhớ đến cái gì khác hơn là chúng ta đang thở, và biết ấy là hơi thở vô. Khi chúng ta thở ra, chúng ta cũng không nhớ đến cái gì khác hơn là chúng ta đang thở, và biết ấy là hơi thở ra. Tuy chúng ta đang tự nhủ phải hành trì như vậy, nhưng thỉnh thoảng chúng ta vẫn nhớ xen vào các chuyện khác: Ðó là trạng thái phóng tâm. Người mới bắt đầu tu thiền rất thường phóng tâm, là một điều không thể tránh được. Thiền sinh không nên coi đó là một «sai lầm bất trị», mà đâm ra câu thúc quá độ. Họ cũng chớ xem đó là một điều tự nhiên, để buông lung, dễ duôi, coi thường. Tu thiền là tạo lấy một công phu. Không có công phu nào chỉ một ngày, một buổi mà đạt được. Vì vậy, trong giai đoạn bắt đầu, thiền sinh không nên cố gắng quá sức. Công phu thiền định là một cái gì sẽ đạt được do tu tập thường xuyên, thoải mái, và đều đặn. Không nên lúc đầu cố gắng ngồi thiền cả ngày lẫn đêm, rồi sau đó mệt mỏi chán nãn. Người tu thiền chắc chắn nhất là người xem hành động ấy như một phần của đời sống hằng ngày, xem đó như một thức ăn tinh thần không thể thiếu được, chứ không phải là một cái gì chỉ làm để chuẩn bị cho «kiếp sau».
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Tâm Ðạo cần quan niệm rằng: Hành thiền là một lối sống lành mạnh, một lối sống quân bình và đầy đủ, chứ không phải là một sinh hoạt «duy tâm». Tu thiền trong Phật giáo đã từng bị hiểu lầm, cho rằng đó chỉ là sự luyện tập tinh thần, «chuẩn bị linh hồn» cho những người già sắp chết. – Sự thật, thiền định cần thiết cho tuổi trẻ hơn là giới già Xã hội nào mà khả năng trầm tĩnh và hướng thượng, của các thế hệ thanh niên được biểu lộ nhiều nhất, là xã hội ấy tuổi trẻ trầm tĩnh, dễ tập trung trí nhớ, học giỏi, và ít sa đọa nhất.
Tôi ngắt lời sư huynh:
– Hành giả mật niệm hơi thở ra, hơi thở vào, và biết rõ, không phóng tâm như thế sau một thời gian, thì đạt đạt kết quả gì ?
– Kết quả của sự tu tập niệm hơi thở tùy thuộc vào mức độ thuần thục nhiều hay ít. Người thuần thục ít, nghĩa là trong suốt buổi hành thiền, họ chỉ bị phóng tâm đôi ba lần, thì hơi thở của họ bắt đầu đều hòa, kinh mạch bắt đầu lưu thông, thuận tiện hơn trước….Và họ sau khi xả thiền sẽ cảm thấy sảng khoái, hoặc cuối thời tọa thiền, thay vì có thể ngưng, thì họ lại có cảm giác muốn tiếp tục ngồi thiền lâu hơn nữa. Ðây là giai đoạn «bước vào sơ định».
– Từ khi bắt đầu đến lúc được sơ định phải tốn một thời gian bao lâu hả sư huynh ?
– Không có thời gian làm tiêu chuẩn, mà tùy theo căn cơ của mỗi hành giả. Có người hành thiền đều đặn tám chín tháng, hay một năm.…thì tiến vào sơ định. Có người hành thiền hai, ba năm vẫn chưa có kết quả gì cả. Hạng người nầy vì tâm ý vốn từ lâu câu hữu (mắc dính) quá nhiều với ngoại cảnh, nên chướng ngại phóng tâm của họ không thể trong một thời gian ngắn mà có thể loại bỏ hay giải trừ hết được.
– Sư huynh thấy có phương pháp nào giúp họ giải trừ phóng tâm hữu hiệu hơn không ?
Vị tu sĩ cười xòa hỏi vặn lại:
– Tâm đạo muốn biết kinh nghiệm bản thân của sư huynh ?
Tôi gật đầu….
– Này nhé ! Sư huynh không có phương pháp nào hay hơn lời dạy của đức Phật, là kiên nhẫn, bình tĩnh, và quyết tâm. Nhất là bình thản hành thiền, thoải mái tạo một công phu thanh tịnh mà không trông chờ kết quả nhanh chóng nào cả. – Nghĩa là hành giả tuy biết rằng “kết quả chắc chắn sẽ đến”, nhưng thản nhiên hành thiền một cách vui vẻ, tinh tấn và đều đặn, đồng thời ý thức rằng «mong chờ kết quả là một chướng ngại».
Ngưng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Nhưng thời đại ngày nay là thời đại “kỹ thuật”. Nhiều khi nhờ phương pháp hữu hiệu, mà chúng ta cũng có thể thực hiện một công trình nào đó thuận tiện, mau có kết quả, hơn là thiếu phương pháp.
– Vậy “phương pháp” để giải trừ phóng tâm mà sư huynh đang áp dụng là gì vậy, sư huynh có thể “bật mí”cho em biết với được không ?
Vị tu sĩ cười dòn, dễ dãi nói:
– Sao lại không được. Ðó là tiến trình dẫn đến những giờ phút «sống thiền». Phương pháp đó là trước khi hành thiền, hành giả nên cố gắng thu xếp mọi vấn đề cá nhân (hay gia đình) có thể gây cho mình sự phóng tâm sau nầy : Chẳng hạng như công việc vặt gì đang thực hiện dang dở trong ngày, hãy làm xong, hoặc kết thúc một phần đi. Chẳng hạng như có cái khăn cái áo, giặt phơi sau nhà chưa lấy vô, hãy lấy vô trước khi ngồi thiền. Chẳng hạng như có điều gì muốn nói với người thân nhưng kẻ ấy vắng mặt, hay chưa thuận tiện nói liền, hoặc chương trình gì cho ngày mai, hãy ghi rõ ràng vô sổ tay, để khỏi giữ nó trong đầu. Chẳng hạng như trước khi hành thiền, cần rút nút điện thoại ra, để tránh nghe tiếng gọi. Chẳng hạng như nên mặc thiền phục nhẹ nhàng, kín đáo và thoải mái (không quai, không nịt siết vào thân, gây cảm giác gò bó). Chẳng hạng như nên ăn thức ăn thanh đạm, tươi lành, và không nên ăn quá no. Chẳng hạng như nên làm vệ sinh cá nhân, kể cả đánh răng, súc miệng sạch sẽ, trước khi hành thiền, để lúc an tịnh thân khỏi bị ngứa ngáy bực bội..v.v….Tất cả những “hoàn tất” lặt vặt ấy giúp ta rảnh trí, ít điều kiện nghĩ nhớ, tức là bớt “lý do” phóng tâm rất nhiều. Rồi khi ngồi thiền, sư huynh đề nghị hành giả nên ngồi trên một thiền tọa đơn giản, dễ chịu. Vị thế ngồi là xếp bằng kiết già, bán già, hay ngồi trên ghế thòng chân, cách nào cũng được, miễn sao là ngồi ngay ngắn, thẳng lưng và thoải mái. Hành giả cũng nên treo hay thờ ảnh Phật trong nơi tu thiền, và chọn ấy là chỗ thoáng khí và ít người lui tới. Sư huynh cũng khuyên họ luôn luôn có hai chén nhỏ đặt trước mặt: Một chén để trống, chén kia đựng những hạt Bồ-Ðề. Mỗi lần hành giả phát giác ra mình phóng tâm, thì lấy một hạt Bồ-Ðề từ chén chứa nó bên nầy, bỏ qua chén trống bên kia. Làm như vậy, sau đó họ vừa có thể biết được số lần phóng tâm trong mỗi buổi ngồi thiền, vừa không bị sự ghi nhớ số lần phóng tâm ấy quấy nhiễu. Tâm lý con người vốn rất phức tạp : Vẫn biết ghi nhớ nơi óc số lần phóng tâm, trong lúc tham thiền, là chỉ để theo dõi công phu của mình. Nhưng nếu hành giả quan tâm, tự nhớ, rồi thấy số lần phóng tâm của mình tăng hay giảm, thì tâm cơ của họ lại chẳng vừa lòng, bị loạn động. Do đó sư huynh đã chế ra cách giúp trí nhớ bằng những hạt Bồ-Ðề (hay hạt gì nhỏ nhắn, dễ đếm cũng được), để trong khi đang ngồi thiền chúng ta không cần bận tâm biết mình đã phóng tâm bao nhiêu lần. Chỉ sau khi đã xả thiền, chúng ta mới có thể thản nhiên đếm, rồi ghi lại và so sánh các số lần phóng tâm đã qua, để kiểm điểm tiến trình tu tập của mình.
– Khi so sánh, kiểm điểm như thế, sư huynh chắc rút tỉa được một số kinh nghiệm ?
– Gọi là “kinh nghiệm chung cho thiền pháp” thi chủ quan và quá đáng. Nhưng nếu gọi là “kinh nghiệm bản thân” thì có vẻ xác thực.
– Xin sư huynh kể cho Tâm Ðạo nghe vài kinh nghiệm bản thân.
– Trước tiên phải nói là sự phóng tâm kéo ý-thức ta đi xa hay gần (lâu hay mau), tức thời gian của một lần phóng tâm. Người tu lâu và có kết quả, chỉ vừa phóng tâm là họ biết ngay, lập tức họ lìa bỏ đối tượng của phóng tâm, trở về đề mục. Nhưng kẻ mới tu, lắm khi sự phóng tâm có thể kéo dài đến nhiều phút đồng hồ. Chẳng hạng như vừa để tâm vào hơi thở, họ bỗng nhớ đến một người bạn, rồi người bạn ấy dẫn họ đi đâu, nói những chuyện gì, chuyện ấy vui hay buồn, trong chuyện có những ai, các nhân vật của câu chuyện đáng thương hay đáng ghét, cảm tình của họ đối với các nhân vật ấy như thế nào, rồi họ có ý định sẽ tìm gặp lại những ai, ở đâu và với ý định gì.v.v…và…v.v…Cứ thế sự phóng tâm tiếp tục. Người hướng ngoại quá nhiều và thiếu cảnh giác, có thể bị sự phóng tâm kéo đi cả giờ mà không hay. Nếu họ may mắn có một thiền sư nhiều kinh nghiệm, thiền sư ấy chỉ cần quan sát nét mặt, là biết ngay họ đang phóng tâm. Thiền sư sẽ có phương pháp đưa họ trở về đề mục. Nhất là vị thiền sư ấy không khiển trách họ trong việc phóng tâm, không gieo cho họ mặc cảm “phóng tâm lâu như vậy là một trở ngại lớn cho việc tu tập”. Một thiền sư giàu lòng từ bi và dày công phu là bậc đủ khả năng giúp họ lần sau bị phóng tâm, có thể trở lại đề mục, mà không cần thiền sư nhắc nhở.
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Thứ đến là “lạm phát phóng tâm”. Sư huynh dùng hai chữ “lạm phát” vì hành giả tự phát giác ra mình phóng tâm, một thời gian ngắn sau khi xảy ra….Nhưng rồi hành giả vẫn khó giữ được tâm bền trong đề mục. Ðây là loại phóng tâm có “tuổi thọ” tương đối ngắn, và tái diễn khá nhiều lần. Tâm và ý của hành giả lúc ấy giống như một con khỉ mắt láo liên, nhìn đủ các phía, và giống như một con ngựa, bốn chân không ngừng cử động, sẵn sàng chạy đến nơi khác. Bỡi vậy, các tổ sư thiền ngày xưa mới diễn tả tật phóng tâm bằng bốn chữ “tâm viên ý mã”. Tức là : Con khỉ thì chỉ trong chốc lác, nó có thể nhìn láo liên mọi hướng, nhảy nhót nhiều lần sang tất cả các phía, rồi trở về chỗ cũ, nhưng nó không đi xa. Còn con ngựa thì tương tự như thế, nhưng nó chạy xa hơn, rong chơi lâu hơn, trước khi quay lại điểm cũ. Trong việc tu thiền, tâm phóng ở trạng thái nầy tuy đa sự, nhưng nếu hành giả kiên nhẫn, quyết chí giữ tâm câu hữu thường xuyên với hơi thở, thì số lượng phóng tâm sẽ dần dần giảm xuống… Theo kinh nghiệm của sư huynh, thì sự giảm xuống ấy có thể bất thần tăng lên lại. Tăng giảm không đều như vậy một thời gian mới ổn định. Người tu thiền không nên nản chí khi thấy số lần phóng tâm hôm nay nhiều hơn hôm qua. Cũng không nên vui mừng nếu nó ít hơn. Vì chính sự vui mừng ấy lại cũng là một loại phóng tâm trá hình. Sự thật, ai đã tu, trải qua rồi cũng biết: Tật phóng tâm trước khi bị sơ định hóa giải, phải tăng giảm loạn xạ như thế, để chứng minh rằng : Sức phóng túng của tâm ý ra nhiều hướng, đang bị công phu tu thiền thu hẹp dần dần vào một hướng. Và hướng ấy chính là sơ định…..
Ðoạn sư huynh như sực nhớ ra điều gì…liền tiếp:
– Thực ra, vấn đề giải trừ được phóng tâm để tiến tới sơ định không phải là đơn giản. Lời giải dù rõ ràng đến đâu, mà không có thực hành kèm theo, thiền sinh cũng khó lĩnh hội được sự thật. Ðến đây sư huynh muốn lưu ý Tâm Ðạo một vài “hiện tượng” quan trọng…
Tôi vội chắp tay tỏ lòng cám ơn, gật đầu, và sẵn sàng lắng nghe….thì sư huynh nghiêm nghị nói:
– Chính vì chỗ khó giải trừ được phóng tâm ấy, mà đã có một số trường thiền chủ trương không cần tu định. Thiền sinh cứ bước thẳng vào tu huệ (hay tu Minh Sát Tuệ). Họ biện giải rằng : Hành giả khởi đầu không cần trụ tâm trong một đề mục, mà chỉ theo dõi, nhận biết những cảm giác, cảm nghĩ của mình, rồi dùng trí tuệ “quán xét” (?), để nhận ra mọi thay đổi, mọi cảm giác, từ tâm đến vật, nghĩa là thấy rõ tất cả đều là vô thường, tất cả đều là không thật.v.v…(?) – Nếu công phu tu thiền có thể đạt được dễ dàng như thế, thì thế gian nầy đã bớt đau khổ từ lâu rồi. Trên thực tế, ai mà không biết kiếp người là hữu hạn, là vô thường, là phù du ? –Ai mà không biết tử thần hằng gõ đầu đủ hết hạng tuổi ? –Ai mà không biết loài người sau khi sinh ra, phải già, phải bệnh, và phải chết ? –Ai mà không biết tiền bạc hôm nay còn trong tay ta, ngày mai có thể sẽ thuộc về người khác ? –Ai mà không biết danh vọng nay có mai không ? Nhất là xã hội hiện tại là xã hội dân chủ, không ai có thể nắm quyền mãi mãi. Một vị tổng thống được bầu lên nhiệm kỳ nầy, chưa chắc sẽ được tái cử nhiệm kỳ sau. Tâm Ðạo thử hỏi một thiếu niên vừa đủ trí khôn, cũng có thể nghe cậu ấy nói rằng : Không ai sống hoài mà không chết. Không ai trước khi chết mà không bệnh. Không ai trước khi bệnh mà không khỏe mạnh như ta. – Cần gì phải học hỏi đạo Phật mới biết được, mới xác nhận những chuyện đó ? –Cái gọi là “vô thường, khổ não, vô ngã”, mà các vị giảng sư trong khi thuyết pháp, thường xuyên nhắc lại trước các hàng Phật tử, là những điều họ đã biết, đã nghe, và đã sống qua, nhất là những người đứng tuổi, từng trải nhiều thịnh suy giữa cuộc đời. –Và chưa chắc họ đã quên ? – Biết như thế, nhưng tại sao họ cứ phải bất mãn, phải khổ sở, với những cái mà họ biết chắc là họ không thể tránh, và chẳng bao giờ được thõa mãn ? –Câu trả lời rất đơn giản, đã được đức Phật xác định từ lâu rồi, là “Con người sở dĩ phải khổ, vì con người chưa dứt được tham vọng”. – Chỉ có thế thôi ! –Mà muốn hết khổ thì phải tu cách nào để diệt trừ tham vọng ấy. – Diệt trừ bằng tạo công phu thanh tịnh chứng đắc, chứ không phải diệt trừ bằng cách sợ khổ, tránh tu tập khó khăn, rồi dùng lý thuyết và tư duy tự ám thị, tưởng tượng lấy mình. Thiền pháp niệm hơi thở (hay Tức quán) trong nhà Phật là cách thức thiết lập công phu tận diệt tham vọng, đặc biệt là tham vọng ngã sở (chấp «ta», ích kỷ, cái gì cũng muốn độc chiếm, chỉ riêng cho mình) hữu hiệu nhất. Thiền pháp nầy tuy mới nghe qua có vẻ tầm thường (theo óc phán đoán của phàm nhân), nhưng khi tu luyện, hành giả mới thấy khả năng diệt trừ lòng tham của nó rất chắc chắn.- Kể cả diệt trừ lòng tham đầy sắc thái hướng thượng, như thích tu “pháp cao” hơn “pháp thấp”, thích “tu tắt hay tu huệ”, «tu nhất kiếp, ngộ nhất thời», hơn là trường kỳ hành đạo, như quy y «đại thừa» sẽ thành Phật lớn hơn là thành Phật «tiểu thừa»…v..v… Sự thật Phật giáo chỉ có một diệu dụng duy nhất là hướng dẫn chúng sinh thoát khỏi vòng đau khổ (sinh tử luân hồi), như nước trong tất cả biển chỉ có một phẩm vị duy nhất, là vị mặn, và do đó chỉ có một cái tên duy nhất là Phật thừa.
– Tôi sung sướng nghe được những lời giảng đầy tinh thần «Phật thừa» và rất thực tế của vị tu sĩ, chợt tôi cảm thấy hơi thắc mắc…, liền hỏi:
– Làm sao định tâm trong hơi thở mà ta có thể tiêu diệt được mọi lòng tham hả sư huynh ?
– Ðó mới là điều mầu nhiệm, mới là điều thiết yếu, mới là điều đáng hỏi, đáng nghe và đáng hiểu. Nhưng vừa rồi chúng ta nói chuyện đã lâu, sư huynh đề nghị chúng ta nên nghỉ giải lao trong chốc lác, rồi sẽ còn nhiều vấn đề thảo luận sau.
Tôi ngoan ngoản gật đầu.
Và thầy trò chúng rôi dắt nhau ra phòng khách……..
*****