II
Không biết trong tâm tư tôi có gì thay đổi, mà tôi cảm thấy một tuần lễ trôi qua như khoảnh khắc. Người ta thường nói «Kẻ trông đợi thì thời gian chậm chạp…», nhưng tôi trông đợi mà lại thấy thời gian đi nhanh. Mới «hôm qua» đầu tuần chui vô sở, mà «hôm nay» đã cuối tuần rồi…
Chúa nhật trước tôi gặp sư huynh, nghe người nói về thiền pháp, thì hôm nay tôi lại sung sướng trở lại chùa. Tôi chỉ trông có chừng ấy.
Buổi sáng, chưa điểm tâm xong, mẹ tôi đã bảo:
– Chút nữa, Tâm Ðạo đi chùa không ?
Tôi biết bà «chọc quê» nên bực mình:
– Con đi chùa học đạo, chứ không phải để khấn vái, «hối lộ» đức Phật.
Mẹ tôi chu miệng:
– Tao lạy Phật, dâng hương cũng là một cách học đạo. Học cách ấy không nhức đầu, mà tao cảm thấy thảnh thơi tâm trí. Có đâu như mầy, vô chùa cứ tìm hết ông sư nầy đến ông sư khác, hỏi cái nầy, hỏi cái nọ, lôi hàng chục câu trong các sách vở ra bàn luận.
Tôi trả lời:
– Má khác, chúng con khác. Thế hệ của má sẵn sàng làm theo thói quen, làm theo những gì thuộc truyền thống. Nhưng thế hệ của chúng con không thể như thế được.
Bà mở to đôi mắt nhìn tôi:
– Trời ơi, thằng nhỏ nầy. Bộ muốn cãi lý với má hả ? Mầy muốn học đạo thì chút nữa vô chùa tìm mấy ông sư mà hỏi, còn chuyện cúng kiến là chuyện của tao.
Nói xong bà uống cạn tách cà phê, rồi bỏ đi vào phòng thay đổi y-phục.
Tôi biết mẹ tôi nói mấy câu đó, là để «trả lời» bốn tiếng «hối lộ đức Phật» của tôi châm chích, chứ thực tâm bà vẫn hài lòng khi thấy tôi ham thích học hỏi giáo lý nhà Phật.
Rồi tiếng mẹ tôi từ trong phòng vọng ra:
– Con xuống parking nổ máy, lấy xe chờ má trước nhà. Tao dọn sẵn đồ điểm tâm cho ba mầy rồi ra sau. Ổng còn ngủ.
Tôi chỉ biết vâng lời mẹ tôi.
Và chúng tôi đi chùa……..
*****
Hôm nay sư huynh tiếp tôi trong phòng riêng. Thường thì mấy vị tu sĩ phải tiếp Phật tử ngoài phòng khách. Nhưng phòng khách nhất thời bị bận. Có một số các ông các bà trong ban hộ trì Tam Bảo đang hội họp, họ cũng đang chờ đại đức trụ trì ban chỉ thị gì đó.
Phòng sư huynh không có gì đặc biệt, nhưng xinh xắn. Ngoài cái tủ đựng kinh sách, kê cạnh một bàn giấy với hai chiếc ghế, sư huynh chỉ có một giưòng nhỏ, và chiếc va-li để dựng vách. Trên tường chỗ bàn giấy, còn một bức ảnh đức Phật ngồi tham thiền. Hình ảnh trang trí độc nhất ấy làm cho căn phòng của sư huynh thật «thanh đạm».
Sau khi chỉ chiếc ghế bảo tôi ngồi, sư huynh bước lại mở toang hai cánh cửa sổ hướng ra vườn. Không khí ban mai từ ngoài ấy hắt vào, mang cả mùi sương còn sót lại trên hoa lá….
Sư huynh bắt đầu câu chuyện:
– Nào, hôm nay Tâm Ðạo có đề tài gì mới, nóng sốt hơn, hay chúng ta nối lại câu chuyện bỏ dở kỳ trước ?
Tôi trả lời:
– Tâm Ðạo thích nghe sư huynh nói về thiền.
Vị tu sĩ ngồi trầm ngâm trong chốc lác, rồi hỏi gặn lại:
– Em nghiên cứu pháp thiền trong Phật giáo để thỏa mãn óc tò mò, hay để thực hành ?
– Trước tiên để hiểu biết, sau đó để thực hành. Tôi đáp.
Vẻ sư huynh dường như hối hận, đã dùng năm chữ «thỏa mãn óc tò mò» trong câu hỏi vừa rồi, nên sư thân mật vỗ vai tôi nói:
– Thật sự, sư huynh hỏi Tâm Ðạo câu đó vì hai lý do. Lý do thứ nhất, sư huynh muốn Tâm Ðạo cần phân biệt sự học thiền cho biết, và sự học thiền để thực hành. Lý do thứ hai, khi bắt đầu thực hành, người tu thiền phải biết chắc công phu thực tiễn của vị thầy hướng dẫn mình.
Ngừng một chút, sư huynh nhìn thẳng vào mặt tôi tiếp:
– Nghiên cứu thiền pháp để cho biết (hay để mở rộng kiến thức), thì các hàng Phật tử có thể tự đọc sách, hoặc học hỏi với bất kỳ ai có trình độ Phật giáo cao hơn mình, cũng đều vô hại. Nhưng nghiên cứu thiền để thực hành, thì sách vở và những người giỏi về lý thuyết, không thể giúp thiền sinh được gì nhiều. Mà bằng một cách khác, thiền sinh phải tìm tu tập với một thiền sư, từng nhiều năm kinh nghiệm, trải qua pháp tu thiền, và nhất là thiền giả ấy phải thuần thục và đạt được kết quả vững chắc trong chánh thiền. Bất cứ lãnh vực nào cũng vậy : Lý thuyết và thực hành nhiều khi không đi song song với nhau, lắm lúc còn khác nhau, hay đối nghịch nhau là đằng khác. Người giỏi về lý thuyết, chỉ có thể dạy về lý thuyết, chứ không thể dạy cách thực hành. Ðây là điểm quan trọng. Bỡi hành thiền trên phương diện tâm linh, là luyện tập tinh thần. Nhưng trên phương diện thể xác, hành thiền là điều hòa, vận chuyển, và hội tụ, một số hệ thống thần kinh. Làm một vị thiền sư mà chính mình chưa nắm vững công phu thuần thục, thì cả mình lẫn học trò sẽ có thể bị lạc thiền, hay rơi vào tà thiền một cách dễ dàng. Chưa kể một số người giả mạo, tự ngồi nhắm mắt, đặt chuyện trừu tượng, tuyên bố rằng họ đã «đắc thiền», có thể «xuất hồn» du nhập vào thế giới vô hình, diện kiến với tiên thánh, trời, Phật..v.v…, để lừa gạt quần chúng và trục lợi. Do đó sư huynh cần nhấn mạnh Tâm Ðạo điểm nầy, trước khi bắt đầu giảng giải cho Tâm Ðạo một số yếu tố căn bản trong thiền pháp.
Tôi nhìn vị tu sĩ với đôi mắt cảm phục, vì quả thật sư huynh là người duy nhất dám nói ra những điều mà ít nhà tu nào dám nói.
Sư đọc được nơi nét mặt của tôi điều ấy, liền tiếp:
– Bây giờ sư huynh giảng cho Tâm Ðạo nghe về thiền tức quán.
Tôi ngắt lời:
– Tức là môn thiền mà sư huynh hằng ngày tu tập ?
– Ðúng vậy.
Rồi sư huynh sốt sắng giảng giải:
– Nói đến thiền tức quán là nói đến sự mặc niệm hơi thở. Hơi thở là đề mục cốt yếu của thiền nầy. Hơi thở có một tác dụng kỳ diệu mà ít người chịu khó khám phá. Giá trị của hơi thở trong đời sống cũng vô cùng độc đáo, ngay cả trên lãnh vực y-khoa, các bác sĩ vẫn chưa xác quyết, tường tận sự linh diệu của hơi thở. Nhưng đức Phật đã tìm ra sự mầu nhiệm của nó cách nay hơn 2500 năm.
Tôi sực nhớ, xen vào:
– Thưa sư huynh. Gần đây, trên thế giới đã có nhiều phong trào phản đối sự ô-nhiễm không khí, không phải là người ta đã bắt đầu chăm sóc cho hơi thở là gì ? Vì không khí mà không trong sạch, thì hơi thở làm sao lành mạnh cho được ?
Sư huynh gật đầu:
– Thật tế em nói đúng, và những phong trào ấy đã hành động đúng. Nhưng mục đích của họ là chỉ để bảo vệ sức khỏe thân thể, hơn là nhắm vào sự thanh lọc tinh thần, từ đó tiến đến hóa giải phiền não, đạt đến cứu cánh giải thoát như trong Phật giáo.
Mấy lời sau cùng của sư huynh ám chỉ rằng «không khí có liên quan đến sự thanh lọc tinh thần, và tiến đến cứu cánh giải thoát» khiến tôi ngạc nhiên không ít. Tôi buộc miệng:
– Như vậy phép tu thiền của sư huynh cần thực hành trong rừng, hay giữa đồng vắng tốt hơn là ở thành thị. Vì hai nơi đó không có khói xăng, hoặc bất cứ loại khói nào khác có thể làm ô-nhiễm không khí ?
Sư huynh giản tiện ôn tồn:
– Tu thiền mà được ở những nơi như Tâm Ðạo vừa nói, thì có gì thích hợp bằng. Nhưng trong một số trường hợp, sống giữa xã hội văn minh vật chất nầy, một tu sĩ Phật giáo khó có thể tạo được một thiền am như thế.
Sư vừa nói vừa đưa mắt nhìn bức tranh Phật ngồi tham thiền dưới tàng cây Bồ-Ðề, treo trên vách. Ðoạn sư huynh vững giọng tiếp:
– Nhưng đàng nào «không khí trong lành» cũng không phải là yếu tố quyết định, đưa hành giả tiến tới giác ngộ, mà chính nhờ sự tu tập thanh tịnh con tâm đúng cách, mới dẫn họ đến chỗ tiêu trừ phiền não, giải thoát được mình khỏi những khổ đau ràng buộc, lẩn quẩn.
Tôi nhớ đã đọc trong một cuốn sách nào đó nói rằng: «Người ta thường dốc hết tâm lực đeo đuổi những vật chất vốn gây phiền não, thường nằm ngoài khả năng của mình, và lắm khi chúng không tuyệt đối cần thiết cho đời sống hằng ngày. Chẳng hạng như vàng bạc, châu báu, nhà sang, vật ngon, y-phục cầu kỳ, nhạc hay, và sắc đẹp, hoặc trừu tượng hơn như danh vọng, quyền lực, tình cảm.v.v…. Nhưng chẳng ai chịu khó quan tâm đến mức độ thực dụng của những thứ ấy khi gặp đại hoạ, như hạn hán, nạn lụt, nạn đói…, hay khi đối diện với tử thần. Vàng bạc, kim cương, và những bảo vật khác tuy là những thứ quí giá, nhưng khi tàn lực, lâm chung, hay hấp hối, các bác sĩ không thể dùng chúng để cứu cấp, mà họ phải cầu cạnh đến dưỡng khí, mới may ra kéo dài được sự sống. Người ta có thể nhịn ăn một tuần lễ, có thể nhịn uống một hai ngày vẫn chưa chết, nhưng người ta không thể nhịn thở trong nửa giờ mà còn sống». – Xem như thế đủ thấy tầm quan trọng của hơi thở mà sư huynh vừa nói quả thật có chỗ phải lưu tâm, phải nghiên cứu.
Sư huynh thấy tôi trầm tư, như nhớ lại những dữ kiện gì đó, nên sư cũng im lặng chờ đợi…
Tôi tự nhủ «càng lúc mình càng thấy sư huynh thuyết ra những điều quá hiển nhiên và chân xác», tôi khoan khoái dục vị tu sĩ:
– Xin sư huynh giảng tiếp về hơi thở.
Sư huynh tươi cười:
– Hơi thở có thể ví như người bạn thanh bạch, trung thành nhất, hữu dụng nhất. Nó chỉ lo phục vụ cho ta, mà không đòi hỏi ở ta bất cứ một cái gì. Trong khi xác thân nầy hằng làm khổ ta trên mọi phương diện : – nào đòi ăn ngon, mặc đẹp, – nào đòi ở nhà sang, nằm nệm êm, – nào đòi đi du lịch, giải trí, nghe nhạc, xem hát, – nào đòi có vợ đẹp, con khôn, tiền tài, danh vọng..v.v…- đòi đủ thứ, – thì hơi thở lẳng lặng giúp ta có sự sống. Khi ta vui, hơi thở vui theo ta. Khi ta buồn, hơi thở buồn theo ta. Khi ta giàu sang, hơi thở nhẹ nhàng theo ta. Khi ta nghèo khổ, hơi thở cơ cực theo ta. Khi ta có danh phận, địa vị, được mọi người xu phụ, trọng vọng, hơi thở cũng tự nhiên theo ta. Khi ta ngã ngựa, sỉ nhục, hơi thở cũng chia sớt thăng trầm với ta. Và cuối cùng, khi ta già nua, ốm đau, kiệt sức, thân nhân thương mến nhất đành bó tay, thì hơi thở vẫn lẳng lặng, tận lực đồng hành kéo lê kiếp sống với ta, cho đến giây phút cuối cùng. Như vậy, trên đời nầy có cái gì quí báu, đáng nương nhờ đối với ta, hơn hơi thở nữa ?
Tôi nghe sư huynh giảng về giá trị của hơi thở mà đâm ra nghĩ ngợi. Không phải những điều sư huynh vừa nói là những điều tôi hoàn toàn không biết. Nhưng quả thật sư huynh đã nhắc lại một «bảo vật» mà hầu hết người đời vẫn hờ hửng, bỏ quên, xem thường. Mặt khác, tôi tìm thấy trong lời giảng về hơi thở của sư huynh, còn có một cái gì đặc biệt, phi thường.
Sư huynh thấy nét mặt tôi suy nghĩ, thì người ngưng lời giảng, dường như sư không muốn dòng tư tưởng của tôi bị đứt quãng.
Rồi sư huynh tiếp tục:
– Nhưng tất cả những năng lực vừa kể ấy chỉ là những sở dụng tầm thường của hơi thở mà thôi. Và ngoài đức Phật ra, không ai trên thế gian biết rằng «hơi thở còn một năng lực mầu nhiệm tối thượng». Ðó là năng lực đưa tâm linh «kẻ đồng hành» của nó, bước vào con đường chân giác ngộ, chân giải thoát.
Tôi kinh cảm rùng mình và tự nhủ: «Té ra hơi thở có khả năng rất siêu việt, mà thật ít người biết đến. Chính mình hồi nào đến giờ cũng cứ tưởng hơi thở chỉ đơn giản là sự chuyển động của không khí, xuyên qua khí quản và phế bào trong buồng phổi mỗi con người mà thôi…»
Sư huynh bình thản trầm giọng:
– Trên đời có nhiều cái rất tầm thuờng, nhưng lại là những cái tối quan trọng, rất hữu dụng, và vô cùng vi diệu. Người ta đã tốn rất nhiều tâm lực và tiền bạc, để tìm hiểu về sự sống, như phân tích về quả tim, nghiên cứu về bộ óc, phân tích về gan, mật, phổi phèo, bao tử, ruột già, ruột non, phân tích về sự cấu tạo của các loại máu (a, b, o), các loại ký-sinh-trùng trong thân thể..v.v…. Nhưng ít ai chịu nghiên cứu về khả năng và mầu nhiệm của hơi thở. Không nghiên cứu có lẽ vì người ta coi thường, nhận thấy hơi thở quá đơn giản, trong đó chỉ có dưỡng khí, thán khí, và một số tạp khí khác, với tỷ lệ rất thấp. Nhưng nào ai chịu suy nghiệm đề cao rằng hơi thở là khởi đầu của mọi sự sống trên thế gian nầy. Hơi thở như một sợi chỉ vô hình làm gạch nối giữa điểm sinh và điểm tử của mọi động vật. Hơi thở là con đường phải đi của muôn loài, và là chính đạo duy nhất giúp con người bước lên nấc thang tiến hóa. Một đứa bé ra đời khi chỉ hít vào hơi thở đầu tiên, và sẽ lìa trần khi phải từ giã cái hơi thở ấy. Nói tóm lại là không có sự sống và tiến hóa nào trên thế gian nầy, mà không nhờ đến hơi thở.
Ðể có căn cứ, tôi vội ngắt lời hỏi:
– Thưa sư huynh. Trong kinh Phật có chỗ nào nói về hơi thở, như sư huynh vừa giảng không ?
– Có chứ. Một trong những bài nhật tụng Pàlì của Phật tử Nam tông có đoạn như sau:
“Yo sanni sinno varabodhimùle màram sasenam mahatim vijjeyyo sambodhimàgacchi anantanàno lokuttamotam panamàmi buddham”. Nghĩa là:
«Ðức Phật tham thiền về số tức quan (hơi thở), ngồi trên bồ- đoàn dưới bóng cây Bồ-Ðề quí báu, và đắc thắng toàn bọn ma-vương (phiền não), mà thành bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ngài là bậc tối thượng hơn cả chúng sanh…» (Bản dịch của cố Hòa Thượng Vamsarakkhita, Hộ Tông).
Ðọc xong đoạn kinh, sư huynh chợt mỉm cười nhìn tôi:
– Bây giờ thì Tâm Ðạo đã nhận thấy sự mầu nhiệm của hơi thở chưa ?
Tôi ngoan ngoản gật đầu.
Sư huynh tươi cười nhấn mạnh:
– Nhưng các điều sư huynh vừa nói cho Tâm Ðạo nghe, chỉ là phần nào sự mầu nhiệm của hơi thở mà thôi. Chớ tưởng ấy là chỗ mầu nhiệm rốt ráo.
Tôi lấy làm khích động, liền hỏi:
– Vậy chỗ mầu nhiệm rốt ráo của hơi thở là gì ?
– Là nó làm cho thiền giả biết rõ được chính mình.
Câu trả lời của sư huynh chợt làm cho tôi «chưng hửng». Chưng hửng không phải vì câu đáp của sư huynh không hợp lẽ, mà chưng hửng vì tôi không ngờ sư huynh bỗng hướng cả lý đạo qua một tiêu điểm mới. Trước khi sư huynh thốt ra câu trả lời ấy, tôi cứ tưởng sư huynh sẽ bảo rằng «Sự mầu nhiệm rốt ráo của hơi thở là đưa hành giả đến chỗ giải thoát»…nhưng tôi đã nghĩ sai vì sơ ý.
Thật là thích thú, tôi vội vàng hỏi sư huynh:
– Như vậy sự biết rõ được chính mình đóng một vai trò rất quan trọng, trên con đường tu tập để giải thoát ?
Sư huynh khoát tay ra dấu, bảo «hãy từ từ», rồi nói:
– Sao Tâm Ðạo đi nhanh thế. Chưa biết «sự hiểu rõ được chính mình» để chi, đã vội kết luận là nó đóng một vai trò quan trọng trên con đường hành đạo giải thoát….
Tôi biện hộ bâng quơ:
– Thì tu hành không cầu giải thoát thì còn cầu cái gì ?
Sư huynh gật đầu hoan hỷ tiếp:
– Ngày nào hành giả chưa biết rõ được chính mình là ngày ấy khoan nói đến chuyện giải thoát. Chỉ tự hỏi xem «mình thực sự muốn gì», con người cũng khó làm được. Thậm chí người ta hằng ngày cứ gieo trồng nhân khổ, mà lại tưởng là muốn hành động để đạt tới an vui. Cho nên, người thực sự hành đạo của chư Phật, trước tiên phải là người chăm chỉ và nhẫn nại, bước vào thám hiểm bên trong xác thân và nội tâm của mình. Ai càng khao khát, học hỏi lung tung mọi sự vật thuộc thế giới bên ngoài, thì họ càng bị mắc dính, càng bị cầm tù, và càng bị lòng tham phối hợp với vô minh lừa gạt. Chỉ có kẻ quay về thanh tịnh quan sát, học hiểu, và thấy được thế giới bên trong thân tâm mình, mới tìm ra con đường giải thoát.
Tôi bị sư huynh bắt bẻ nhẹ nhàng, lòng không buồn mà cảm thấy vui vui…
Vẻ mặt sư huynh tự dưng đăm chiêu. Sư nhìn lên bức chân dung đức Phật ngồi tham thiền bên cội cây Bồ-Ðề, rồi giọng sư huynh ôn tồn:
– Học tất cả những gì bên ngoài thân tâm nầy thì có hàng vạn vị giáo sư. Có vị chúng ta phải tốn tiền mới học được. Có vị sẵn sàng dạy không cho chúng ta. Có vị đến năn nỉ chúng ta làm học trò. Nhưng khi muốn học những chân lý bên trong thân tâm mình, thì chỉ có một ông thầy.
Tôi nhanh nhẩu xen vào:
– Vị thầy duy nhất ấy chắc phải là đức Phật ?
Sư huynh thản nhiên trả lời:
– Không đúng.
Tôi như người bị bắt chộp, bị cụt ý. Tôi đâm ra ngạc nhiên. Tôi vốn sùng kính đức Phật, mà nghe một nhà sư «phủ nhận» Ngài không phải là vị đạo sư duy nhất trên đời, thì còn gì «nghịch lý» hơn nữa ? Tôi mở to đôi mắt, chờ sư huynh giải đáp.
Sư huynh thẳng thắn nhìn tôi nói:
– Vị thầy duy nhất ấy là hơi thở.
Hàm nghĩa của câu trả lời nầy không rõ lắm, tôi chưa hoàn toàn hài lòng. Nhưng nhất thời tôi bỗng muốn nói một cái gì khác, trước khi nghe sư huynh giảng rộng tiếp theo. Tôi chợt nhớ đến những tiến bộ khoa học, liền phát biểu:
– Thưa sư huynh. Ngày nay khoa học đang tinh vi. Nhất là y khoa, các nhà bác học nhân thể đã mổ xẻ từng mảnh xương, từng bắp thịt. Họ đã khám phá sự sinh hoạt của từng tế bào, từng mạch máu, từng sợi dây thần kinh, qua hệ thống điện tử…v..v….
Sư huynh bỗng yên lặng nhìn tôi, không đáp lời…
Chợt sư huynh đưa mắt nhìn ra khung cửa sổ, và giữ một nét trầm tĩnh. Thái độ trầm tĩnh của sư huynh đầy vẻ tự tin, không có gì lúng túng cả, dường như sư huynh muốn cân nhắc những từ ngữ thật chính xác để giảng giải…
Rồi sư huynh nghiêm nghị nói:
– Có vị bác học y khoa nào dám xác nhận là ông đã biết rõ nội thân và tâm tánh của chính mình không ? Hay một số kiến thức mà ông ta đang có, chỉ là những kết quả thực nghiệm, hữu hạn, của nhiều năm ông ta lục lọi, mổ xẻ trong những xác chết, trong các bệnh nhân, mà căn cứ theo khoa học họ có những bộ phận giống nhau ? Chưa kể trên phương diện «tinh thần», các bác sĩ tâm lý học chỉ dựa trên một số thống kê, dựa theo những hiện tượng đã xảy ra,ghi trong sách vở, để phỏng đoán các phản ứng tâm lý sắp đến. Có bác sĩ tâm lý học nào dám xác nhận anh A, chị B nhất định sẽ biểu lộ tâm tánh như thế nào trong tương lai không ? Nhiều khi một người đang sống trong một khung cảnh đầy đủ yếu tố để giúp họ hiền lành, thì họ bỗng trở nên hung dữ. Ngược lại lắm kẻ hiện sống trong môi trường dễ dàng nhiễm sự gian ác, nhưng tâm tánh lại hiền lương. Như vậy rõ ràng là trên phương diện thể chất, khoa học vẫn chưa qua khỏi lằn mức tương đối, còn nói chi đến phương diện tinh thần ?
Tôi nhận thấy những điều sư huynh vừa giảng giải quá hiển nhiên, không thể phản bác vào đâu đươc, liền đưa câu chuyện trở lại vấn đề tu thiền. Tôi hỏi:
– Thưa sư huynh. Sao em nghe quí thầy, quí đại đức, nhất là các vị bên Nam tông, đề cao pháp tu thiền minh sát, chẳng hạng như «khi đi thì biết đi, khi ngồi biết ngồi, khi đứng biết đứng, khi nằm biết nằm, khi ăn biết ăn, khi uống biết uống, khi suy nghĩ hay cảm giác cái gì đều phải biết cái ấy…». Nói tóm lại là mọi hành vi cử chỉ nào, nhất nhất hành giả đều phải biết rõ, đặc biệt là trong giây phút hiện tại. Tu cách ấy thì chắc chắn sẽ được giải thoát. Không cần phải gia công thiền định hay an trụ tinh thần gì cả (!?). Vậy cách tu minh sát ấy có điểm chung nào với phép tu niệm hơi thở không ? Và nó có giúp cho hành giả biết rõ được thân tâm chính mình không ?
Nét mặt sư huynh vốn thâm trầm chợt tỏ vẻ đăm chiêu nghĩ ngợi…
Sư huynh đưa mắt nhìn ra khung cửa sổ, ôn tồn chậm rải hỏi tôi:
– Tâm Ðạo nêu hai câu đó để chi ? Ðể nói lên sự mâu thuẫn, sự cố chấp trong lời dạy của một số «thiền sư», hay để giải tỏa sự thắc mắc của riêng mình ? Vấn đề ấy không phải sư huynh không thể giải đáp được. Nhưng sợ rằng những lời thẳng thắn sư huynh sắp nói ra đây, sẽ gây hiểu lầm…..
Tôi vội vã xác nhận:
– Em đặt các câu hỏi đó đến sư huynh là để được đả thông, được nghe, được học, và được hiểu, hầu mở mang kiến thức, nhất là kiến thức trong đạo Phật cho chính mình, chứ không phải em cố tìm kiếm một số luận cứ, rồi về sau đi tranh luận với những vị khác, một cách vô ích. Xin sư huynh hoan hỷ chỉ dạy.
Sư huynh mỉm cười nhìn tôi, gật đầu vui vẻ nói:
– Tâm Ðạo thông minh lắm.
Rồi sư huynh thong thả tiếp:
– Theo thiển kiến của sư huynh, thì phép tu minh sát không thể nào thành tựu, nếu hành giả không thuần thục trong thiền định. Vì thiền định là nền tảng của bất cứ thánh tuệ nào để tiến đến giải thoát. Chắc Tâm Ðạo còn nhớ trong đoạn trước sư huynh đã có nói «Thiền định là căn bản của pháp thiền, là chất liệu làm phát sanh trí tuệ giác ngộ. Còn thiền minh sát là diệu dụng của pháp thiền, là sự tỏa sáng của trí tuệ giác ngộ» ?. Như vậy bảo rằng người tâm trí chưa được an trụ, mà có thể tu thẳng vào pháp thiền minh sát, chẳng khác nào nói : Một đứa bé không cần biết đứng biết đi, cũng có thể chạy nhảy được. Hay một người học lái xe, không cần vững vàng trong việc lái thẳng, cũng có thể quẹo phải, quẹo trái dễ dàng được ? – Thử phân tách một cách chi tiết hơn: Phàm nhân là những người tâm tánh hoàn toàn bị phân tán. Phân tán mà họ không biết. Các giác quan, các cảm xúc, các tư tưởng, các thèm khát, bắt nguồn từ dục vọng (hướng ngoại có, hướng nội có, ngấm ngầm có, bộc phát có…) sinh hoạt một cách liên tục loạn lập, xuyên qua từng tế bào, từng mao điểm thần kinh, trải qua từng sát-na, từng nháy mắt, từng giây, từng phút (kể cả trong giấc ngủ), đã không để cho tâm thức con người, có dịp tự tạo một chút an trụ thanh khiết nào. Khi tâm thức quá mệt mỏi, quá khổ sở, vì các thứ quay cuồng nói trên, nó chợt thiên về tìm kiếm một cái gì dễ chịu hơn, yên tịnh hơn, thì dục vọng lập tức nhảy vào, ngụy trang thúc đẩy «hướng thiện», để an ủi mà chỉ huy tâm thức, bằng một danh nghĩa vừa «đạo đức» vừa lừa gạt, dưới một thình thức «triết học» hơn. Vì dục vọng biến thể thúc đẩy, mà nhiều phàm nhân thường thích nghe và thích tu pháp cao hơn pháp thấp, thích hành đạo «đi tắt» hơn là nhẫn nại vun tròn Ba–La-Mật pháp, muốn làm những cái gì dễ mà có hiệu lực vô biên và mau giải thoát, hơn là tu luyện trên một nền tảng vững chắc để trở thành giác ngộ rốt ráo. Có nhiều người, khi chăm chú được vào một mục tiêu nào đó, trong một thời gian tương đối lâu, như nghiên cứu một công thức hóa học, hay giải đoán một bài toán khó, cũng vội cho là mình đã ngẫu nhiên «thực hành thiền định» (?). Thậm chí còn có một số tu sĩ, khi bị chất vấn về hiện tượng ấy, đã không ngần ngại trả lời: «Ðó cũng là một loại thiền định»( ?). – Thật là một sự lầm lẫn rất tai hại. Trên thực tế, một bác học lỗi lạc hay một chuyên gia, lúc nghiên cứu một lãnh vực nào đó, đã vận dụng tối đa sự chăm chú của họ, không thể gọi là thiền định được, mà đúng hơn phải nói là «họ đang say sưa, đang bị hấp dẫn bỡi cái công việc mà họ đang làm». – Say sưa và bị hấp dẫn cực độ, đến nỗi quên hết những gì xung quanh, vốn là một bộ mặt vi tế của lòng tham ! Tình trạng ấy không có liên quan gì đến thiền định trong Phật giáo cả. Bởi thiền định trong Phật giáo là để trở thành an trụ mà không bị một khao khát nào thúc đẩy. –Dù cho ấy là khao khát an trụ. –Bỡi lẽ, hễ có khao khát là có say mê dính mắc, chứ không thể nào có thanh tịnh an trụ, theo đúng nghĩa của đạo Phật. – Chưa kể một số người đang lạm dụng vấn đề «tu thiền». Họ thực sự chẳng hiểu hành thiền trong Phật giáo là gì cả, khoan nói đến chuyện tâm hồn họ đã được «thanh tịnh» hay không. Nhưng vì hiện nay, nhất là tại những nước tân tiến Tây phương, sự quay cuồng của đời sống vật chất, đã khiến cho con người tranh nhau đi tìm kiếm sự yên ổn cho tinh thần bằng mọi giá, ví như đoàn lữ hành đi tìm nước và bóng mát giữa sa- mạc. – Nên «ngồi thiền» (hay thực tập «zen») nhất thời đã trở thành một cái «mode» rất ăn khách, lôi kéo sự chú ý của đa số quần chúng. Hễ ai gân cốt mềm dẻo, có thể ngồi thẳng lưng (bán già hay kiết già), rồi «bắt ấn» yên lặng hít vô thở ra, hô hấp như thể thao một hồi khá lâu, thì được những người xung quanh ham mộ, khen ngợi. Từ đó họ có thể tự xem mình đã «thành công» (?) trong việc «tu thiền», và có triển vọng trở thành một «thiền sư», nếu họ chịu khó nghiên cứu bổ túc thêm một ít lý thuyết về thiền học trong sách vở. Thế là các trung tâm «yoga hay tu thiền» vì nhu cầu đời sống, tự động mọc lên đây đó, hầu hết không tránh khỏi lệch xa mục tiêu cao thượng, và sau đó dần dần biến thành những cơ sở thương mại. Những «thiền sư» xuất thân từ biểu diễn hình thức nầy, chẳng khác nào những kịch sĩ trên sân khấu. Họ vốn khéo léo ăn mặt rất đạo sĩ, và “điều khiển” nét mặt thật “hiền từ”, say sưa nhái theo (càng giống càng tốt), mọi động tác của một thánh nhân. Nhưng trên thực tế họ chỉ đóng kịch. Và vì bắt buộc nghề nghiệp, họ phải tự gạt gẫm tâm thức của chính họ suốt vở kịch, ép nó tạm thời nghĩ rằng «ta là một đại hiền triết». Cái khác biệt giữa các «thiền sư» hình thức, được nhân dịp «thành danh», và những kịch sĩ kia là : Loại thứ nhất (trầm trọng hơn) phải luôn luôn đóng kịch trước mặt quần chúng (gạt người và tự gạt mình) trong đời sống hằng ngày. Còn loại thứ hai chỉ biểu diễn vài giờ trên sân khấu mà thôi. Nhưng ảnh hưởng việc làm của các kịch sĩ không nghiêm trọng, vì họ chỉ tạm gạt mình một thời gian ngắn trên sân khấu chứ không gạt được khán giả.
Mặt khác, trạng thái tinh thần của một thánh nhân đầy lòng từ bi, khác hẳn những yếu tố để đóng tuồng thật giống một vị thánh như thế nào, thì hành giả trên con đường tu Phật để giải thoát, cũng có thể suy nghiệm như thế ấy. Nghĩa là khi chưa hội đủ những phẩm tính căn bản để hành đạo thanh tịnh như một sa–môn chân chánh, hay một Thánh nhân, mà ai cố gắng học bộ, thực tập những cung cách bề ngoài của các bậc ấy, thì ví chẳng khác nào như người nhai lại cái bã vô bổ của kẻ khác đã tiêu thụ, hoặc giả như kẻ đóng kịch nói trên vậy.– Tứ-Niệm-Xứ (Catu satipatthàna) là hạnh sống hằng ngày của chư Phật và những Thánh nhân. Ðức Toàn-Giác Thích-Ca Mâu-Ni ngày xưa, khi chưa nhập Niết Bàn, trong một ngày một đêm (24giờ), Ngài đã có những sinh họat đúng như một thời khóa biểu : Ban đêm từ mấy giờ đến mấy giờ Phật nhập định. Từ mấy giờ đến mấy giờ Ngài an nghỉ. Từ mấy giờ đến mấy giờ Ngài thuyết Pháp độ sinh (quá nửa đêm cho chư thiên, rồi gần sáng cho chúng tăng). Ban ngày buổi sáng, từ mấy giờ đến mấy giờ Phật phải làm những sinh hoạt cần thiết, để bình thường hóa xác thân (như khất thực, ăn, uống, đại tiện, tiểu tiện, tắm, rửa.v.v…). Buổi trưa Phật lại nhập định, và buổi chiều Ngài để ra một ít thì giờ để từ bi giải đáp những thắc mắc trong đạo Phật, cho các hàng tứ chúng (gồm tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thiện nam, và tín nữ). Rồi buổi tối Phật lại dạy dỗ, tiếp độ những đệ tử sơ cơ, mới vào Phật đạo, trước khi Ngài nhập vào pháp kinh hành và thiền định. Ngoài những sinh hoạt chính kể trên, số thời gian xen kẽ còn lại, Phật luôn luôn sống bằng bốn pháp Niệm Xứ, tức là quán xét mọi biến chuyển trong thân (nhục thể), quán xét mọi biến chuyển trong thọ (cảm giác), quán xét mọi biến chuyển trong tâm (tư duy), và quán xét mọi biến chuyển trong pháp (bao gồm cả vô vi lẫn hữu vi, tĩnh và động). Ðức Phật và chư Thánh quán xét thấy rõ bốn xứ (gồm thân, thọ, tâm, pháp) như thế, một cách tự tại thuần thục, qua nền tảng an trụ (thiền định), chứ các Ngài không quán xét rồi ý thức một cách lờ mờ, như những phàm nhân chưa đạt được an trụ, mà cố gắng thực hành niệm xứ. Nói cách khác, tứ niệm xứ là bốn diệu dụng của tâm an trụ, là kết quả hướng đến giải thoát của thiền định. Ðó là cái khả năng đạt được nhờ an trụ thanh tịnh, như một đóa hoa nở ra từ cành cây thiền định, chứ không phải là hạt giống cần gieo để được gặt hái hoa trái giải thoát.
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Trong mấy chục năm gần đây, một số «thiền sư» bỗng xiểng dương phép tu thiền Minh Sát (Vipassanà), bỏ quên thiền định, đặc biệt là ở vài nước Á châu. Nhất thời phong trào ấy đang lan tràn đến các xứ Âu-Mỹ. Họ hiện tại dường như cố ý xem thường gian đoạn căn bản của Thiền Ðịnh (Samàtha), rồi «hệ thống hóa» phép tu Tứ Niệm Xứ (Catu Satipatthàna) dưới cái tên mới là «Minh Sát Tuệ» (Nàna Vipassanà), hay gọi tắt là «thiền tuệ» để phân biệt với thiền định, và họ cũng không ngần ngại công khai xác nhận là «thiền tuệ cao hơn thiền định» (?). Dĩ nhiên quí vị ấy đã căn cứ vào một bài kinh thuật lại khi đức Phật đến xứ Kuru, rồi khuyên dạy dân cư ở vùng nầy (vốn là những Phật tử chí thành, đã thấm nhuần đạo Phật, và đã có trình độ thực hành giáo lý sâu xa), nên thường xuyên quán xét đến bốn «đối tượng» là thân, thọ, tâm, và pháp. Sử liệu nầy tuy có ghi rõ trong Tam Tạng (do những người kết tập thành văn tự sau nầy), nhưng không phải là những giáo lý chính yếu lúc đức Phật còn tại tiền đã dạy. Vả lại, người Phật tử cũng nên phân biệt mục đích của hai pháp học và hành : Pháp học để cho phàm nhân soi sáng tâm trí, pháp hành để rèn luyện, nên cao tâm trí từ phàm lên thánh. Có những pháp tượng trưng cho kết quả, chúng ta chỉ biết để tăng cường niềm tin, đả thông thành kiến, mở rộng suy xét, chứ không thể «nhảy lớp» thực hành được. Chẳng hạng như nhờ học hỏi nghiên cứu mà chúng ta có thể có một ít hiểu biết tương đối về các pháp thiền cao siêu của chư Phật, nhưng chúng ta không thể áp dụng được. Lý do hết sức đơn giản: Vì chúng ta là những phàm nhân, định tâm chưa có, chúng ta không thể xử dụng thiền pháp của các thánh nhân, những bậc đã có định tâm Ba-La-Mật vững chắc, tích tụ từ nhiều kiếp. – Chớ nhầm lẫn bất cứ cái gì chúng ta tìm thấy trong kinh Phật, là có thể đem ra nhái theo (bắt chước), thực hành được, nhất là thực hành một cách vô trật tự, hay nhảy qua căn bản. Chẳng hạng như một em bé hằng học và hiểu rằng «Hễ có tiền thì mua bất cứ cái gì cũng được». Nhưng khi vào thực tế, em chỉ có mười đồng, em không thể mua nổi một tòa lâu đài, dù em có cố gắng cách mấy. Hướng dẫn duy nhất dành cho em là phải đợi khi nào em góp được thật nhiều tiền, trở thành triệu phú, thì lúc đó em mới làm được. Con người vốn có khả năng mơ tưởng rất dồi dào. Không phải chỉ mơ tưởng riêng những gì thuộc ưa thích thế gian, đáp ứng cảm dục, mà họ còn mơ tưởng cả đến những gì gọi là xuất thế gian, dù họ chưa từng biết.
Tuy đạt tới thánh quả xuất thế là mục tiêu chưa đến và duy nhất của người Phật tử, nhưng mơ tưởng xuất thế mà không thực hành dựa trên chánh định căn bản, lại là một ác pháp, hằng dắt dẫn con người đi ngược lại với mục tiêu cao quí của họ. Và Thiền Ðịnh đúng đắn hay thanh tịnh Ba-La-Mật trong đạo Phật chính là giải pháp để thực tế hóa những mơ tưởng (hay nguyện vọng) ấy.
Tôi yên lặng ngồi nghe sư huynh giảng giải, mà trong lòng cảm thấy biết ơn, kính phục. Chỉ một câu hỏi tầm thường của tôi, mà sư huynh đã có thể phân tích thật rõ ràng, thật chi tiết. Trước đây tôi đã có lần dám pha trò, dám đùa nghịch trong lúc sư huynh nói đạo, thì nhất thời ý muốn đó không còn nữa. Tôi nhủ thầm «Ai hữu duyên được tu tập, học đạo, dưới sự hướng dẫn của sư huynh lâu ngày, chắc là một người may mắn lắm».
Bỗng sư huynh ngừng giảng, hỏi tôi:
– Tâm Ðạo. Em có nhận thấy sư huynh phân tích như thế, đượm vẻ gì kích bác người khác không ? Nếu có, em nên nhắc nhở sư huynh, vì như thế Tâm Ðạo mới là một Phật tử tốt.
– Không. Sư huynh không kích bác. Sư huynh chỉ nói ra sự thật !.Tôi trả lời.
Thực ra, theo tôi nhận xét. Tất cả những điều sư huynh vừa diễn giảng có lẽ chỉ vì tôi, vì muốn cho tôi có một kiến thức đúng đắn về Phật giáo, nhất là trên phương diện tu thiền.
Bình nhật, sư huynh vẫn là người ít nói, so với những tu sĩ khác. Nhưng không hiểu tại sao, đối với tôi sư huynh rất chịu khó luận đạo. Tôi chợt cảm thấy hân hạnh, ngầm thỏa mãn đã làm quen với sư huynh…
Sư huynh đọc được nét mặt của tôi nên yên lặng, rồi như sực nhớ ra chuyện gì, sư huynh ôn tồn hỏi tôi:
– Những điều sư huynh đã giảng giải mấy ngày hôm nay hơi nhiều, nhưng Tâm Ðạo có tự nhiên chú ý đến một vài điểm quan trọng nào không ?
Tôi thoáng bị lúng túng, vì nhất thời bất cứ điều gì sư huynh nói ra, tôi cũng đều chú ý cả. Tôi vội trả lời:
– Ðối với em, hết thảy đều quan trọng.
Sư huynh mỉm cười bảo tôi:
– Có phải Tâm Ðạo trả lời như thế cho sư huynh vừa lòng không ?
– Không. Tôi đáp và hỏi lại:
– Nhưng đó là «những điểm quan trọng» nào vậy hả sư huynh ?
– Sư huynh hy vọng Tâm Ðạo vẫn nhớ rõ và suy gẫm thật kỹ cho hai điều nầy :
– Thứ nhất là tầm quan trọng và khả năng mầu nhiệm của hơi thở. Thứ hai là diệu dụng của thiền định, và vai trò căn bản của nó trên con đường tu tập giải thoát.
Tôi chợt hiểu, liền «à» lên một tiếng.
Sư huynh ưu ái tiếp:
– Vì hai «ý thức» ấy sẽ giúp Tâm Ðạo đủ trí lực, hầu nghiên cứu, học hỏi đúng đắn phép tu thiền, nhất là thiền tức quán (niệm hơi thở).
Sư huynh nói đến đây thì có tiếng người mở cửa, một Phật tử bước vào mời sư huynh ra trai đường cúng ngọ.
Thì ra, mới đó mà «thầy trò chúng tôi» đã «luận đạo» trọn buổi sáng rồi.
Tôi theo sư huynh ra đến trai đường thì mẹ tôi đã có mặt ở đó. Bà đang bận rộn với những đạo hữu khác, chuẩn bị dâng thức ăn đến chư tăng….
Sư huynh nhân lúc đại đức trụ trì chưa có mặt, liền quay qua vỗ vai tôi kết thúc «buổi luận đạo», sư bảo:
– Cơm trưa xong, có Phật tử mời sư huynh đi thăm một người bệnh, không chừng đến chiều mới về. Cuộc nói chuyện về thiền học của chúng ta hôm nay sẽ được tiếp tục sau nầy.
Nói xong sư huynh bước thẳng đến dãy bàn ngọ thực. Còn tôi không quen với những lễ nghi dâng cúng, nên bước trái ra ngoài. Tôi cũng nghe rõ giọng phàn nàn của mẹ tôi, đuổi theo bên tai : «Thằng nhỏ tôi không hiểu tại sao học đạo thì ham, mà việc trai tăng, cúng dường thì nó ít chịu dự…. »
Tôi hiểu mẹ tôi hơn ai hết. Ðối với bà, sự tạo phước, nhất là thường xuyên lễ bái đức Phật, và hộ độ chư tăng, là một hành động tu tập. Dĩ nhiên mẹ tôi cũng nghiêm chỉnh giữ năm giới của các hàng cư sĩ, là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu. Thỉnh thoảng bà còn giữ cả bát quan trai giới nữa, – tức là năm giới cấm vừa kể, cộng với giới thứ sáu là ăn một ngày một bữa trước 12 giờ, giới thứ bảy không trang điểm dùng dầu thơm, nghe âm nhạc, và giới thứ tám không nằm ngồi trên những chỗ sang trọng. Nhưng mẹ tôi giữ giới chỉ vì nghĩ rằng «giữ giới cho có phước, và ngăn ngừa không để phạm tội». Có thế thôi. Giả tỷ có ai hỏi «tội là gì ?» chắc mẹ tôi cũng không thể nào cắt nghĩa rành rẽ được. Nhiều lắm là bà bảo rằng «làm phương hại đến kẻ khác hay đến một sinh vật khác, là phạm tội». Bà nào biết «ăn một ngày hai ba bữa, hay dùng dầu thơm, trang điểm, nằm ngồi nơi sang trọng, thì có hại đến ai đâu ?». Thế nhưng tôi vẫn yêu kính mẹ tôi, trong cái cách tu hành đơn giản đó.
Buổi trưa, sau khi dùng cơm xong, chư Phật tử còn lên chánh điện nghe đại đức trụ trì thuyết một bài pháp nói về «Phước báu của sự cúng dường những bậc có giới hạnh». Lời lẽ tuy nhất thời có khác, nhưng đề tài ấy tôi đã nghe qua nhiều lần.
Tôi ngồi giữa đám đông Phật tử trước mặt diễn giả, mà trong tâm bỗng nhớ đến sư huynh, nhớ đến những điều sư huynh đã phân tích về thiền học. Tôi tự nhũ «Giờ nầy chắc sư huynh đã vào bệnh viện và đang dùng những lời lẽ đạo đức, an ủi một bệnh nhân nào đó… »
Buổi thuyết pháp kéo dài hơn một giờ rưỡi đồng hồ. Nhân liếc mắt quan sát hai bên thiện nam tín nữ đang nghe pháp, tôi thấy : Cứ mỗi lần đại đức trụ trì nói đến sự «lễ bái, cúng dường có phước báu vô lượng vô biên», thì hầu hết các Phật tử thuần thành, nhất là quí bà, quí cô liền tự động chắp tay cao khỏi trán, hướng lên bàn Phật khấn vái với tất cả tấm lòng thành, dường như họ thầm nói với đức Phật rằng « Cám ơn Ngài đã ban cho chúng con phước báu vô lượng vô biên…».
Còn mỗi lần diễn giả kể một câu chuyện trong kinh Bổn Sinh, rằng ngày xưa có một người nghèo khổ nhưng siêng năng đi chùa, bố thí, cúng dường đến chư tăng, liền có phúc lành ngay trước mắt (chẳng hạng như tự nhiên gặp may mắn trở nên giàu có), hoặc nếu quả phước không trổ ra trong kiếp ấy, nó sẽ đến trong kiếp sau như thế nào, như khi chết sẽ được siêu thăng lên cõi trời, hay tái sinh làm người giàu sang, phú quí..v.v…thì hầu hết chư Phật tử lắng nghe, tỏ vẻ hoan hỷ, như tin chắc mình cũng sẽ được như thế….
Ðại đức trụ trì có biệt tài thuyết pháp nói về cúng dường và được phước rất hay, nên thời pháp kéo dài gần hai giờ đồng hồ mà toàn thể thính giả không ai cảm thấy mỏi mệt chi cả.
Nhưng bất cứ cái gì hễ có bắt đầu thì phải có chấm dứt.
Cuối cùng, thời pháp cũng phải được đại đức trụ trì kết thúc, rồi hướng dẫn toàn thể Phật tử tụng kinh hồi hướng, trong đó có các câu:
«Phước duyên tôi đã tạo thành,
Do thân khẩu ý tu hành gieo nên,
Ðều là phước báu vững bền,
Có thể tiếp chúng độ lên thiên đàng…», và :
«Nguyện đem công đức nầy,
hướng về khắp tất cả,
đệ tử và chúng sanh,
đều trọn thành Phật đạo»
Hồi hướng xong, đại đức trụ trì liền rời pháp tọa, hòa mình trong đám đông Phật tử, cung tay xá chào tất cả. Thầy hỏi han người nầy vài câu, nói chuyện với kẻ kia vài tiếng, rồi thong thả tiến ra phía cửa chánh điện…
Chợt có tiếng một ông Phật tử chạy theo:
– Bạch thầy, con ở tỉnh mới lên trễ, đến nơi thầy đã thuyết gần xong bài pháp, nên con chỉ may mắn tụng mỗi bài kinh «hồi hướng». Nhưng nghĩ lại, con chưa làm được công đức gì cả, vậy con tụng kinh hồi hướng có sao không thầy ?
Ðại đức trụ trì bật cười xòa nói:
– Thì đạo hữu vội vàng cho kịp, để nghe phần cuối bài pháp, tức là tạo công đức rồi đó.
Nét mặt người tín đồ hiện vẻ an tâm thấy rõ. Kế ông lại do dự, như muốn nói gì thêm với thầy trụ trì, thì có một bà Phật tử đứng tuổi, tách ra từ một nhóm đông (nếu tôi nhớ không lầm thì bà nầy có quen với mẹ tôi). Bà nhanh chân bước lại xá xá thầy trụ trì mấy cái, rồi xen vào:
– Bạch thầy, chắc đạo hữu nầy muốn cúng dường hộ trì Tam Bảo, vậy thầy cho phép con dẫn đạo hữu đi lại bàn «công đức».
– Mô Phật, tốt lắm, mời bà tín nữ hãy giúp cho.
Thế là đại đức trụ trì lịch sự ra dấu bảo ông Phật tử kia hãy đi theo bà ấy, đến nơi có vị thủ quỹ ghi nhận sự tùy hỷ cúng dường của ông…
Nghĩa là khóa lễ tại chùa vẫn luôn luôn viên mãn, với cái hình ảnh có một số người vây quanh bàn «công đức», để thành tâm cúng dường như thế……
Khi chúng tôi ra về thì nắng chiều đã tắt hẳn. Không khí bên ngoài mái chùa thật mát mẻ, nhẹ nhàng, phảng phất mùi hương trầm từ trong chánh điện loang ra. Tôi đưa mắt nhìn lên bầu trời xa tít xanh thẳm, lác đác vài gợn mây trắng bay lửng lờ, mà chợt nghe tâm hồn dễ chịu lạ thường….
Còn mẹ tôi, bà vẫn không quên quay mặt vào chánh điện, xá thêm mấy cái nữa, rồi mới chịu bước đi.
*****