Những ý thiền hóa thành thơ

Vài lời thưa

Tiền nhân vẫn nói “Văn dĩ tải đạo”, chúng tôi mạo muội dựa theo câu ấy, xin thưa rằng “Thơ dĩ tải đạo.

Nếu văn đạo, là người, thì thơ cũng là đạo,người. Nhưng cái “đạo, trong thơ nhiều khi lại rất thâm trầm, sâu sắc, và giản dị. Đồng thời nó cũng rất sáng lạng, rõ ràng. Còn “phẩm cách” của người viết ra thơ (hay thi nhân), thì thường khi vẫn “bị” ý đạo xóa đi, trở thành mờ nhạt, vô nghĩa.

Riêng tính nặng về mình trong thơ đạo, thường được sự hướng thượng, hướng về cái thanh cao, siêu thoát….làm cho nó loãng dần, tan biến….chẳng khác nào như sự tồn tại của giọt sương trên đầu ngọn cỏ, long lanh giữa buổi ban mai, dưới ánh nắng đang lên, hay như đống cát bụi phù du, trước ngọn gió thời gian….qua luật tuần hoàn !

Như trên vừa nói, đạo trong thơ rất thâm trầm, sâu sắc, giản dị, và sáng lạng nhiệm mầu. Nhiều khi nó nhiệm mầu đến độ người ta chỉ đọc năm mười câu thơ cô đọng ý đạo, người ta cũng có thể tỉnh ngộ, chiêm nghiệm ra tất cả những gì mà bình thường phải đọc xuyên qua đến trọn một cuốn sách văn xuôi.

 Đây không phải là lần thứ nhất, đạo Phật được chuyên chở qua ý thơ, mà thơ hay Kệ Ngôn (tiếng Phật gọi là gàthà) đã có mặt trong lịch sử Phật Học từ thuở xa xưa, hơn hai ngàn rưởi năm về trước. Nhiều thế hệ, sau khi Phật vắng bóng, chính nhờ đã đọc những Kệ Ngôn (hay thơ đạo) ấy mà từng được gợi cảm, trực giác, linh hứng, thanh tâm…buông rơi một số phiền não, vướng mắc, dẫn đến tháo gỡ nhiều xiềng xích, trong tư duy vô minh, cố chấp, nằm sâu tận tâm khảm của con người.

Qua trung gian “tuyển tập” nầy, chúng tôi hân hạnh gởi đến quí vị, một số bài thơ đạo, được cảm tác trong nhiều trường hợp khác nhau. Đặc biệt là các bài thơ phát sinh do những phút sống kỳ diệu, và được viết ra như sau đây :

– Cảm hứng vào ngày trăng rằm “Phật Đản”.
– Cảm hứng trong cuộc hành hương đất Phật.
– Cảm hứng qua pháp Thiền Hơi Thở (Thực nghiệm).
– Cảm hứng lúc tịnh tâm, quan sát một số hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, qua luật tuần hoàn.
– Cảm hứng khi nhìn lại chính mình (một đơn vị trong nhân sinh), qua thân cũng như qua tâm.
– Cảm đề tự vấn “ta từ đâu đến và sẽ về đâu ?”.
– Cảm hứng khi thực hành một thiền pháp, cô đọng qua trực giác, rồi “thi hóa” nó như một xác chứng cho giáo lý Phật Đà.

Và sau cùng là cảm hứng khi “an phận, tạm tịnh tâm, tri túc”, để “chiêm nghiệm” cái pháp hành khiêm nhượng của mình, đồng thời cũng tự nhắc nhở mình về những gì, vẫn là ràng buộc nhiễu nhương, trong quan hệ cộng nghiệp (khung cảnh sống), hay trong sự cấu kết lưng chừng, nửa sáng nửa tối, nửa chính nửa tà, nửa tiến nửa thoái, giữa toàn thể những cá nhân trong cuộc đời.

Nói cách khác là cảm hứng, khi bình tâm quan sát những ý nghiệp nhân sinh, hiện tại chưa hội đủ duyên lành, để thực hiện hướng thượng hằng ngày, mà trái lại tất cả cứ quay cuồng «nhập cuộc», không ngừng trộn lẫn vào môi trường phàm tục, hay va chạm, chìm đắm trong những khung cảnh bất thiện, hai chiều, vừa tiến vừa thoái. Tình trạng đó được phản ảnh bằng bài thơ hơi «trào phúng», có cái tựa là «Những phân nửa cuộc đời».

Đối với chúng tôi, đây là một hạnh phúc, được cống hiến đến quí vị những câu thơ, những ý đạo, qua dạng văn vần. Lời thơ tuy có thể vụng về, nhưng tấm lòng chia xẻ sự hướng thiện và hướng thượng của chúng tôi, tự nó vốn rất chân thành, vô vụ lợi. Chúng tôi xin đón nhận những bổ túc xây dựng, của chư hiền giả, cùng thiện hữu trí thức, để được cải thiện.

Mong thay,

Tuệ Lạc

Những ý thiền hóa thành thơ P1