Phụ lục III
TỨ VÔ LƯỢNG TÂM
(Catu Brahmavihàracitta)
(Cư sĩ Tuệ Lạc sưu tầm, dựa theo kinh điển Nam truyền (Pàlì),
và thuyết trình tại giảng đường Học Viện Linh Sơn, Vitry,
ngày 5/12/2010)
Dàn bài :
I- Nguyên do VÔ LƯƠNG TÂM, và định nghĩa.
-Nguyên do : Đó là phẩm tính tỏa ra từ tâm (citta) của bậc «Đại phạm hạnh» (Mahà brahmana). Mà bậc Đại phạm Hạnh cũng là hiện thân của đức độ thanh cao, hay «tịnh viện» (Vihàra). Đặc tính của đức hạnh nầy là vô lượng (Appamàna), nên thường được tượng trưng bằng 4 mặt (cho cả 2 chiều đứng và ngang), tức “tứ diện vô lượng”, gọi là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM.
-Định nghĩa tổng quát : Tứ Vô Lượng Tâm là 4 tâm vô lượng, 4 tâm không đo lường được, 4 tâm không lằn mức, 4 tâm không biên giới, 4 tâm vượt phân biệt trong ngoài, vượt phân biệt trên dưới, 4 tâm thường xuyên thanh tịnh và bình đẳng.
II- Bốn tâm đó là :
TỪ (Mettà), BI (Karunà), Hỷ (Mudità), và XẢ (Upekkhà).
Truy nguyên điển ngữ :
1/METTÀ (=TỪ) do căn ngữ chữ Pàlì “Mitra” tức là thân thiện, lúc nào cũng xem đối tượng như đồng hành với mình. (Căn “mitra” biến thành 1 dạng khác «Mitta», dịch là bạn. Vì đức tính thân thiện, xem như bạn đồng hành ấy, nên lúc nào cũng muốn cho đối tượng được an vui. Nên TỪ có nghĩa là BAN VUI.
2/KARUṆÀ (=BI) do căn ngữ chữ Pàlì “KR”, tức là chăm sóc, trắc ẩn. Khi thấy đối tượng gặp khó khăn, khổ sở, thì tội nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ. Vì đức tính ấy, nên BI có nghĩa CỨU KHỔ.
3/MUDITÀ (=HỶ) do căn ngữ chữ Pàlì «Mudu» hay «MUD», có nghĩa là vui với cái vui của người khác. Vì đức tính ấy nên bậc phạm hạnh không bao giờ biết đố kỵ, so bì, khi thấy kẻ khác an lạc hơn mình, Nên HỶ có nghĩa BAO DUNG.
4/UPEKKHÀ (XẢ) do 2 căn ngữ chữ Pàlì hợp lại «UPA+IKS», tức là vượt lên trên mọi trạng thái, mọi thực tại khác nhau, không lằn mức, không phân biệt thân sơ, cao hạ, hay vô câu chấp. Vì đức tính cao thượng ấy, nên bậc Phạm Hạnh dù biết đối tượng thiệc ác, tội phước bất đồng, nhưng Ngài vẫn XẢ, đối xử bình đẳng không thiên vị, không ghét bỏ.
III- Hạng nào có TỨ VÔ LƯỢNG TÂM ?
-Chỉ có bậc chân phạm hạnh là Thánh Nhân đã thoát khỏi tham sân si, mới có Tứ Vô Lượng Tâm thực sự và đầy đủ. Thánh nhân ở đây tiêu biểu như Đức Phật chẳng hạng.(*)
-Xin mô tả phẩm cách vô lượng ấy, tượng trưng như sau :
-Giả sử có 2 người : Một người buổi sáng phỉ báng Phật, buổi trưa phỉ báng Phật, buổi chiều phỉ báng Phật. Còn người kia buổi sáng tán dương Phật, buổi trưa tán dương Phật, buổi chiều tán dương Phật. Khi hai người cùng ở trong một hoàn cảnh bất hạnh, thì Đức Phật sẽ đối xử với cả 2 như nhau, tức là Ngài sẽ TỪ (ban vui), BI (cứu khổ), HỶ (bao dung), và XẢ (bình đẳng, không phân biệt, trước cả hai).
IV- Còn phàm nhân thì sao ?
-Phàm nhân nếu phát đại nguyện tu hành, noi gương chư Phật có thể thực hiện 4 tâm nầy. Nhưng không gọi đó là «TỨ VÔ LƯỢNG TÂM», mà gọi là «4 tâm đại hạnh» (Mahaggatacitta) hay «4 tâm tịnh hảo» (Sobhanacitta). (Thầy Minh Châu dịch là «4 tịnh quang tâm»). Tức là 4 tâm đại thiện (Mahàkusalacitta).
Vì sao không gọi là vô lượng ?
-Vì khi chưa dứt tuyệt tham sân si, và chấp ta, thì phàm nhân dù có công phu tu hành, cố gắng thực hiện 4 hạnh từ, bi, hỷ, xả ấy đi nữa, họ vẫn còn sự phân biệt vi tế rất sâu trong tâm thức.
-Ngoài ra, Kinh sách cũng nói : Trong phàm nhân, cha mẹ có thể có «tứ vô lượng tâm» đối với con cái. Vì vậy, nếu con cái bất hiếu, làm tổn hại đến sinh mạng của cha mẹ, thì phạm tội rất lớn (đại tội).
V- Đề nghị vài nguồn suy nghĩ
làm phát khởi tâm đại hạnh nơi phàm nhân.
a/ Nếu ai đã tin vào sự tái sinh, thì hãy suy nghĩ về vòng luân hồi. Vì tư duy đó sẽ giúp chúng ta có thể thấy rằng «trong vô số kiếp luân hồi, hầu hết chúng sinh chắc chắn đã là thân nhân ruột thịt của nhau». Do đó chúng ta cần có bốn tâm đại hạnh từ bi hỷ xả, đối với chúng sinh, như đối với thân thuộc của mình.
b/ Nếu ai chưa có đức tin vào sự tái sinh luân hồi, thì hãy suy nghĩ về liên đới hiện tại (Phật giáo gọi là cộng nghiệp). Nghĩa là trên đời, không ai có thể hoàn toàn độc lập, không nương vào người khác hay xã hội. Sự bình an của một cá nhân, vốn gián tiếp hay trực tiếp, là sự bình an của tất cả.
Con đường dưới chân chúng ta đi, là kết quả của toàn dân đóng góp (qua dạng các thứ thuế, trực thu hay gián thu), trong đó có chúng ta. Nếu chúng ta ít phước, quá nghèo, thất nghiệp, không đóng thuế lợi tức (còn gọi là thuế trực thu) được, thì sự sống lành mạnh của chúng ta, vẫn là những viên gạch, góp phần vào guồng máy tiêu thụ các sản xuất. Và nhờ hiệu lực của muôn vạn yếu tố tiêu thụ nhỏ hợp lại (qua thuế gián thu TVA), nền kinh tế mới chuyển vận tốt, làm điều hòa xã hội. Vì kinh tế là nguồn gốc của tất cả phát triển tiện nghi trong đời sống. Suy ra các phương diện khác cũng liên đới như thế !
VI- Ứng dụng vào thực tế.
-Bốn tâm đại hạnh từ bi hỷ xả khi được sinh khởi,
thì ứng dụng vào các trường hợp sau :
-Thứ nhất, ứng dụng để biết chia xẻ lợi lộc của mình đến người khác. (tức là bố thí, hay làm việc thiện).
-Thứ hai, ứng dụng để giữ gìn 5 giới của người tu tại gia (theo nhà Phật). Nhờ khởi 4 tâm từ bi hỷ xả, mà ta không hiếu sát, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không say sưa (uống rượu). (trì giới).
-Thứ ba, ứng dụng khi giữ được 5 giới trong đời sống hằng ngày, thì tư cách của hành giả trở nên hiền từ, thân thiện, nghiêm túc, có tinh thần tự tin, tâm thức bình tĩnh. Rồi từ đó họ hướng tâm thức vào thiền pháp, an trụ và phát triển xa hơn 4 hạnh từ bi hỷ xả. (Đó là Tham thiền).
*Trong một xã hội mà có nhiều người thực hành «tứ đại hạnh tâm» (TỪ, BI, HỶ, XẢ), thì xã hội ấy đang có gương tốt, và bớt đi rất nhiều xung đột. Tuổi trẻ nhờ đó được thường xuyên hướng dẫn bằng đức hạnh thực tế, để có tâm thức bình tĩnh, ít bồng bột, ôn hòa nhu thuận, thích tương trợ nhau trong kỷ luật. Tuổi trẻ ấy sẽ đầy sáng tạo, và xã hội ngày mai sẽ tốt đẹp hơn.
VII- Đó là nguồn gốc của lạc quan chân thật.
Bốn tâm đại hạnh TỪ BI HỶ XẢ,
chính là nguồn gốc của sự lạc quan chân thật.
*Giáo lý đức Phật để lại, thường bị hiểu lầm là một giáo lý «bi quan». Nhưng trong chiều sâu, giáo lý ấy hằng làm cho con người «lạc quan». Lạc quan ở đây không phải là lạc quan vị kỷ, lý thuyết, mà lạc quan vị tha, thực hành. Lạc quan qua phạm hạnh, để có động cơ đối xử một cách xứng đáng, trước mọi đối tượng trong cuộc đời. Lạc quan ấy cũng có khả năng hóa giải tất cả những vui khổ, thuận nghịch, chắc chắn sẽ xen kẽ ra.
Còn ý nghĩa của «lạc quan theo thường tình», chỉ qui vào sự «tạm có», đối với cá nhân, để hưởng thụ một thời gian, tránh nhìn vào tính ngắn hạn, phù du (tạm không), vốn chỉ là sự lạc quan, hay «thỏa mãn», gieo mầm cho bi quan sau đó. Nghĩa là cái vui khi chấm dứt, thì cái buồn tự đến. Rồi sự chịu đựng, khao khát tiếp theo, bao giờ cũng nhiều hơn trước bội phần.
Nói cách khác, là người tin Phật không cực đoan, phủ nhận những niềm vui trước mặt. Họ không tiêu cực chạy trốn những cái khổ tự nhiên phải đến, hay không đánh lạc hướng, không ngụy trang chúng, mà họ cố gắng không mắc dính vào các vui buồn vốn vô thường, ngắn hạn ấy. Khi «cái vui» chấm dứt, thì họ thản nhiên cho qua, và tỉnh thức không ngại đối diện với thực tại dù chẳng thích hợp, bằng sự duy trì bốn tâm đại thiện từ bi hỷ xả !
*Về ý nghĩa sâu sắc, liên quan đến TỪ BI HỶ XẢ,
chúng ta thấy trong kinh Pháp Cú nói :
Không làm mọi điều ác. (Tức là TỪ)
Làm tất cả điều lành. (Tức là BI)
Giữ tâm trong sạch. (Tức là HỶ và XẢ)
Ấy là lời Phật dạy !
Còn theo hán Văn thì :
Chư ác mạc tác. (Tức là TỪ)
Chúng thiện phụng hành. (Tức là BI)
Tự tịnh kỳ ý. (Tức là HỶ và XẢ)
Thị chư Phật giáo !
Xin lược giải :
-Không làm mọi nghiệp ác bằng thân, khẩu và ý, tức là
*BAN VUI CHO CHÚNG SANH
lẫn BAN VUI CHO MÌNH, hay TỪ (METTÀ)
-Làm các nghiệp lành, không tạo oan trái, tức là
*CỨU KHỔ CHO MÌNH, và CỨU KHỔ CHÚNG SANH, hay BI (KARUNÀ).
-Hành thiền, chánh niệm và tỉnh thức, tức là nuôi dưỡng
*NGUỒN VUI TƯƠI CHO MÌNH và
CHO CHÚNG SANH, hay HỶ (MUDITÀ).
Bình đẳng (Vô ngã chấp) tức là
*TỰ TẠI ĐỐI VỚI MÌNH và CHÂN HÒA ĐỐI VỚI
TẤT CẢ CHÚNG SANH, hay XẢ (UPEKKHÀ).
(*)Thuở sinh tiền, đức Phật nhờ tứ vô lượng tâm, mà hằng ngày Ngài sống trong «an lạc giải thoát». Ngài luôn luôn có đôi mắt tỏa sáng nét từ bi, và nụ cười đầy hỷ xả trên môi, như các “hình tượng” mà chúng ta thấy ngày nay, dù cho các hình hay tượng ấy được hội họa, điêu khắc, hoặc nắn đúc, theo khuynh hướng nghệ thuật riêng, của bất cứ quốc gia nào.