Khoa học và tái sinh Phụ lục 2

Phụ lục II

VÔ MINH TRONG NGŨ UẨN.

Ngũ uẩn = Kiếp sống

Vô Minh trong Ngũ Uẩn là

Vô Minh trong kiếp sống loài người.

Vô minh chỉ có trong kiếp người, vi loài người là một loại chúng sanh, khi có duyên gặp Phật, nghe pháp, giác ngộ phá nổi vô minh, trở thành Thánh.

 

Các chúng sanh thấp hơn loài người, luôn luôn sống trong sa đọa. Một số thú vật có thể có bản năng khôn ngoan (biết tránh nguy hiểm). Nhưng đó không phải là sự anh minh sáng suốt (Vijjà), vì vậy pháp tính ngược lại với Vô minh (Avijjà) các chúng sinh ấy không có.

 

 

Còn các chúng sanh cao hơn loài người, như chư thiên, thì chỉ có tà kiến (micchadiṭṭhi) hay chánh kiến (sammàdiṭṭhi), chứ không có sáng suốt hay vô minh. Chư thiên có chánh kiến, khi nhớ Phật Ngôn, thì giác linh tiến hóa, giải thoát. Chư thiên tà kiến chuyên hưởng thụ, khi hết tuổi thọ, thì  bị đọa làm người, hay thấp hơn. Sau đó vì chịu đựng khổ vui, giác linh họ mới thức tỉnh, may ra sáng suốt (Vijjà), hay ít vô minh (Avijjà).

 

Chú ý vào hai danh từ quan trọng của đề tài, là :

 

 VÔ MINH và NGŨ UẨN :

 

A/ VÔ MINH

 

-VÔ MINH (Avijjà) là không thấy, không hiểu, không biết.

 

-Không thấy, không hiểu, không biết cái gì ?

 

-Không thấy, không hiểu, không biết TỨ ĐẾ BA TƯỚNG.

 

-TỨ ĐẾ là gì ?

-Là bốn sự thật sau đây :

 

1/Sự thật chịu đựng mọi cảnh hợp và bất hợp, hay «KHỔ»,

 

2/Sự thật lòng tham là nguyên nhân chịu đựng, hay «TẬP»,

 

3/Sự thật hết chịu đựng, hay «DIỆT»,

 

4/Sự thật có con đường chấm dứt chịu đựng, hay «ĐẠO».

 

Nói vắn tắc theo từ ngữ Hán Việt, bốn sự thật đó là : KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO.

-Và BA TƯỚNG là gì ?

BA TƯỚNG là 3 tình trạng vô thường, phiền não, và vô ngã.

 

Vô thường là vạn vật thay đổi không ngừng.

 

Phiền nãochịu đựng vui và khổ, trước sự thay đổi đó.

 

 

Vô ngãkhông có chân bản vị trong bất cứ những gì thay đổi, hợp tan, do nhân duyên mà thành.

 

-Vô thường, phiền não, và vô ngã biểu hiện ở đâu ?

 

-Ba tướng ấy biểu hiện ở lục trần và lục căn, gồm :

 

Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp,

 

Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý.

*Do Tứ Đại hợp tan mà có 5 trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc)

 

*Nên năm trần ấy và «cái bóng» của chúng là «pháp» phải vô thường, biến đổi.

 

*Ví như lời nói (âm thanh), thuộc về thinh trần, nhưng nó cũng là pháp trần, nên lời nói hay từ ngữ vốn cũng là hợp tan,  vô thường, không thật.

 

*Sự nghe lời nói về «vô ngã» thì ấy là thinh trần pháp trần. Nó không thật. Chỉ khi nào hành giả đắc được tâm vô ngã thì đó mới là thật. Khi ấy tịnh giả sống từng giây, từng phút một cách tự nhiên với pháp vô ngã, chứ không cố ý nói về vô ngã nữa.

 

*Sống bằng hạnh vô ngã, ít nói, luôn luôn hành động vì người, không vì mình, và xác nhận lý nhân quả, ý thức rằng «mình sẽ chịu trách nhiệm những gì mình làm», thì tốt hơn là đề cao l ý  thuyết vô ngã ! Vì đề cao «thuyết vô ngã» mà tự mình chưa chứng đắc, thì sẽ không đồng ý với kẻ khác, có sự hiểu chẳng giống mình. Và đó cũng là một cách «cầu ngã» khác.

 

*Mặt khác, nghe điều lành là một pháp hành trong thinh trần, (qua thính giác, tiếp thu vào nhĩ thức). Sự nghe chỉ có giá trị tiến hóa, khi đủ căn duyên hướng thiện. Và sự nghe ấy sẽ chẳng hữu ích chi cả, nếu tâm thức không khách quan thanh tịnh, để được chuyển hóa. Sự nghe ấy vốn chỉ là nguyên nhân đưa đến tranh luận, để thỏa mãn «tri kiến» mà thôi !

 

*Nhắc câu chuyện Nhật Bản : Một «đại trí thức» đến «học thiền», nhưng nói nhiều hơn nghe. Ông chỉ muốn thiền sư xác nhận «cao kiến» của ông. Khi thấy tách trà đã tràn mà thiền sư vẫn rót, ông chất vấn, mới hiểu rằng chỗ chứa «kiến thức» trong ông đã đầy, thì không nhận được nữa. Cái học để hành cũng vậy. L ý thuyết không đại diện cho thực hành !

 

*Nhiệm vụ của thiền sư trong câu chuyện, là để chia xẻ và soi sáng pháp thiền, qua kinh nghiệm pháp hành, chứ không phải để đem sách vở, thuyết cho kẻ khác nghe.

 

-Và cũng trong chừng mực đó, xin thưa rằng : Sự hiện diện của chúng ta ở đây, với tư cách là những tín hữu (upàsakà) trong đạo Phật, chúng ta thành khẩn nghiên cứu Phật giáo (và thực hành) để soi sáng cho nhau, và tùy duyên chia xẻ, phân tích, điều chỉnh sự khác biệt. Chúng ta không xem mỗi cá nhân là gì cả. Nếu các pháp thoại không đem lại đồng thuận, vì thiếu thiện duyên, thì đó cũng là bình thường, chúng ta nên hoan hỷ dừng lại, không nên làm mất thì giờ nữa.

 

*Nghe mà được soi sáng thì đó là hữu ích, là pháp tiến hóa, giải thoát. Nhưng nghe mà không được soi sáng, bế tắc, thảo luận hoài vẫn không xong, lý lẽ chiều nào cũng «đúng» cả, thì đó phải chăng là vô minh ?!

 

*Tương tự như sự luợc giảng về pháp trần lẫn thinh trần vừa nêu, chúng ta có thể suy nghiệm các «trần» còn lại, là sắc, hương, vị, và xúc cũng tùy căn cơ, và thiện duyên như thế.

 

Lục trần là  sắc-thinh-hương-vị-xúc-pháp, đối với ngũ uẩn như thế nào, chúng ta chắc đều đã nghe qua. Lục trần thì đơn giản hơn, chỉ là «năm ngoại cảnh» thôi. Nhưng ngũ uẩn thì khá phức tạp. Thử nêu lại đề tài nầy.

 

B/ NGŨ UẨN

NGŨ UẨN (Pañcakhandhà) là gì ?

 

-Ngũ uẩn là năm «tích tụ» Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, và Thức.

(Uẩn là tập hợp)

 

Nhưng trong một con người thì :

*Sắc uẩn là những gì tập hợp thành xác thân,

*Thọ uẩn là những gì tập hợp thành cảm giác,

*Tưởng uẩn là những gì tập hợp thành nhớ chấp,

*Hành uẩn là những gì tập hợp thành tư cách tạo nghiệp,

*Thức uẩn là những gì tập hợp thành cái biết.

 

C/ Gợi ý về VÔ MINH trong NGŨ UẨN.-

 

1/Vô minh trong SẮC UẨN :

 

-Là tâm thấy không rõ và chấp SẮC là thường còn, là bản vị của mình, không nhận ra đó chỉ là pháp hợp tan, có điều kiện, có chu kỳ.

 

Nhưng khi tâm đối diện với thực tế, thoáng thấy sắc là vô thường, thì tâm bị vô minh che mờ, để cho lòng tham lung lạc, sinh ra bất toại nguyện, trước mọi hợp tan.

 

-Rồi tâm tiếp tục chấp vào sắc tướng tạm thời, cho là ta, là của ta, không biết đó là vô bản vị.

 

Như trường hợp : Thánh nhân trong nhà Phật hằng thản nhiên trước mọi chia ly, hợp tan, sinh tử. Nhưng người phàm thì cho rằng thái độ ấy là vô tình, trái đạo nghĩa.

 

2/Vô minh trong THỌ UẨN

 

*Là tâm khi “nhận” cảm giác, bị vô minh che mờ, không biết rằng đó là do duyên hợp mà ra, là vô thường, để cho lòng tham lung lạc, khiến tâm muốn cảm giác ấy, nếu thuận ý thì có nhiều hơn nữa và kéo dài, nếu nghịch ý thì chỉ ít thôi và chấm dứt càng sớm càng tốt.

 

Vì mỗi cảm giác đều do duyên hợp mà thành, có «tuổi thọ”. Nó chỉ chấm dứt khi nào không còn điều kiện để tồn tại, chứ nó không kéo dài hay chấm dứt theo ý muốn của ta. Từ đó tâm

sinh ra bất mãn, hay bất toại nguyện với cái vừa ý không kéo dài, hay với cái không vừa ý chẳng chấm dứt sớm.

 

Nhà Phật gọi bất mãn ấy là sân hận. Nó có khả năng kết hợp với lòng tham, tăng cường sức mạnh của vô minh, làm cho tâm càng thêm mê mờ.

 

Cảm giác thuận hay nghịch ấy chẳng phải chỉ xảy ra trong quan hệ với ngoại cảnh, mà nó còn xảy ra ngay trong chính thân tâm con người, qua bốn giai đoạn sinh, lão, bệnh, tử. Vì xác thân là chỗ chứa tất cả những cảm thọ vi tế lẫn thô kệch. Nên vô minh luôn luôn có đủ môi trường thuận tiện để tung hoành trong thọ uẩn.

 

*Rồi sau nếu nhờ kinh nghiệm sống, tâm chứng thực được rằng, cảm giác ấy (hay THỌ) rồi cũng sẽ trôi qua, thì vô minh lại tiếp tục che mờ, để cho lòng THAM lung lạc, phát sinh hy vọng, thèm muốn những cảm khoái khác sẽ đến. Và vì vô thường, nên những cảm giác mới lại đến,

 

*Từ đó, tâm thức tự hướng về tương lai gần hay xa, một cách dính mắc, và tin tưởng rằng cái ta “cảm thọ” nầy là có thật.

 

Ví dụ :

*Nhiều lần hợp đủ nhân duyên, để cảm thấy vui sướng, thì con người trần tục kết luận, đồng hóa vui sướng ấy là TA, là hạnh phúc thế  gian CỦA TA.

 

*Nhiều lần hợp đủ nhân duyên để cảm giác an lạc, thì con người tu viện (hay xuất gia) đồng hóa phỉ lạc ấy là TA, là đức hạnh sa-m ôn, hay quả phúc, thiền lạc..v.v.. CỦA TA.

 

Nhà Phật gọi những gì hằng biến, không trường tồn, xảy đi xảy lại nhiều lần, là UẨN. Mắc dính vào UẨN là mắc dính vào cái không có. Vì vậy có câu “Năm uẩn đều không”.

 

*Chú ý : THỌ CẢM  có 2 :

 

-Thọ cảm nơi riêng mình, gọi là biệt thọ (tư nghiệp), và

-Thọ cảm chung với những người xung quanh, là cộng thọ (hay liên nghiệp).

 

-Rồi cũng chấp vào hai loại thọ cảm đó, mà loài người cho là ta,của ta, hay cho là chúng ta, của chúng ta, để sinh ra thương riêng, ghét riêng, thương chung, ghét chung..v.v….

 

3/Vô minh trong TƯỞNG UẨN.

 

*Vì vô minh che mờ mà khi nhớ (tưởng) những gì QUÁ KHỨ, biết những gì HIỆN TẠI, nghĩ những gì TƯƠNG LAI, con người không thấy tâm thức đã bị điều kiện hóa, bỡi nhân duyên hoàn cảnh, nên họ không thấy rõ vạn pháp đã, đang và sẽ thay đổi. Không chứng thật vô thường trong hiện tại !

 

*Rồi sau đó nhờ kinh nghiệm sống, tâm nhìn nhận có sự thay đổi (vô thường), thì lòng tham nổi lên, tìm cách làm loãng đi, ngụy biện rằng «Vô thường, nhưng không sao ! Mọi ngươi đều như vậy cả, hiện tại chưa thấy gì, chưa báo động, còn thời gian để trải qua mà !». Đây là sự  dễ duôi !

 

*Càng dễ duôi, tưởng uẩn càng tự ủng cố, khiến cho tâm thức chỉ thấy được vô thường thô kệch trên hình thức, một cách qua loa, nếu không muốn nói là mập mờ. Đó là vô thường thay đổi bên ngoài, so với quá khứ, hay vô thường, tưởng tượng sự thay đổi trong tương lai. Nghĩa là thấy cái vô thường lý thuyết (giả định) trong tưởng uẩn.

 

*Từ đó, con người càng ngày càng dính vào nhớ quá khứ, tưởng tương lai, cho ấy là ta đã cóta sẽ có. Nhưng vô thường trong giây phút hiện tại, thì hoàn toàn không chứng thật được. Phật giáo gọi đó là cái TA sinh ra bỡi những tư tưởng chế định, hướng về cái bóng để kết luận !

 

*Nghĩa là VÔ MINH trong TƯỞNG UẨN không cho chúng ta biết rằng :

 

-Con người sống chạy theo quá khứ và tương lai quá nhiều, nên chẳng định tâm được trong hiện tại.

 

-Vì vô minh nằm trong TƯỞNG, mà con người làm nhiều nghiệp xấu (ÁC), hơn làm nghiệp tốt (THIỆN)

 

4/Vô minh trong HÀNH UẨN.

 

*Vì vô minh, mà chúng sanh nói chung, loài người nói riêng, luôn luôn hành động lầm lạc. Thân hành thì gây tội lỗi, oan trái, kết nghiệp. Tâm hành thì lẫn lộn giả với chân, thiện với ác, pháp với phi pháp, khổ với vui, thường với vô thường. Và bệnh nặng nhất của tâm là sở tri chướng. Đọc nhiều sách hay đoạt được bằng cấp cao, cho là ta biết hết.

 

*Nhưng khi tâm thức đối diện với thực tế, chứng kiến tình trạng xoay vần của pháp hành, thì tâm vô minh chuyển hướng, bắt đầu nhận thức vạn vật tương quan, cho rằng : Duyên hệ hay hoàn cảnh, mới là điều kiện chính. Nó có khả năng làm sai biệt nhân quả, đưa pháp hành tiến lên hay đi xuống. Bấy giờ lòng THAM được vô minh hổ trợ, lập tức dậy lên, đẩy tâm thức rơi vào nẻo cực đoan. Cực đơan cả trong ý thức lẫn hành động. Từ đó, hành uẩn không những phản ứng ngược chiều với thiện pháp tiến hóa, mà còn huân tập nhiều yếu tố sa đọa. Trong năm uẩn thì hành uẩn là phương diện tạo tác.

 

Ví như đã có khuôn, đã có vật liệu, nhưng không có kinh nghiệm đúng, thà không làm (vô hành),…chẳng nắn đúc ra được cái gì cả thì còn hơn. Nhưng nếu vì vô minh, nhắm mắt nắn đúc, thì sản phẩm sẽ lạc đường, tầm bậy, có nhiều yếu tố phải phá đi để đúc lại (luân hồi), hơn là đạt tới tinh xảo.

 

*Và càng tối tăm làm bậy, thì hành uẩn càng rối loạn, vô minh càng thắng thế, đẩy pháp hành càng lúc càng xa mục tiêu, phiêu lưu trong vòng lẩn quẩn, lập đi lập lại, hay trôi nổi trong bể luân hồi. Pháp hành sai lạc, xa mục đích, giữa tình trạng đó lại củng cố cái chấp vào tiền nghiệp của hành uẩn giả tạo, cho là ta đã làm, của ta làm. Hay TA HÀNH, CHÚNG TA HÀNH. –Tin vào định mệnh, không hóa giải lầm lạc được.

 

*Vì HÀNH UẨN bị vô minh che áng, mà những chu kỳ hợp tan tự biến hóa ra muôn hình vạn trạng, gồm NGHIỆP ĐỒNG và NGHIỆP BẤT ĐỒNG, rồi cứ liên tục xoay vần.

 

-Như một cộng một thành hai. Hai cộng một thành ba. Hai cộng hai thành bốn..v…v….chồng chất mãi lên.

 

-PHÁP HÀNH hợp tan trong sắc pháp, tự nó là nền tảng của tổng hợp và phân tích, của «hợp lý» và «bất hợp lý» (Logique và Illogique) trong sở tri chướng, mà người ta lầm cho là «trí tuệ» và tự mãn.

Vì vậy :

*Pháp hành của chúng sinh, nếu hoàn toàn bị vô minh che áng, thì sa đọa, luân hồi.

 

*Pháp hành của chúng sinh, nếu thường xuyên được thiền tâm soi sáng, thì ít tăm tối, có giác ngộ, tiến hóa.

 

5/Vô minh rong THỨC UẨN.-

 

*Vì vô minh mà con người chấp THỨC UẨN (tích tụ cái biết có điều kiện), cho là linh hồn BẤT DIỆT, cho thức uẩn là  vĩnh viễn trường tồn. Không thấy thức uẩn hằng bị ĐIỀU KIỆN HÓA, thay đổi liên tục, bỡi hoàn cảnh vô thường.

 

*Rồi sau nếu cảm thấy thức uẩn thay đổi (vô thường), thì lòng THAM, không cho con người giác ngộ, không nhìn nhận nó như thế. Tỉếp tục lầm lẫn rằng “Tuy có sự thay đổi, nhưng cái tôi biết ngày hôm qua và cái tôi biết ngày hôm nay là một”.

 

*Càng chấp vào THỨC UẨN do nhân duyên điều kiện, con người càng cho những cái biết hằng thay đổi là TA, là CỦA TA, hay CỦA CHÚNG TA.

 

 

*Vì vô minh trong thức uẩn, mà tâm trí lẫn lộn, thấy giả thành thật, thấy vô thường thành thường, thấy tốt thành xấu, thấy khổ thành vui.

 

*Những gì tích tụ trong «cái biết» đều là UẨN, đều là HỖN HỢP, có điều kiện cả. Nhưng thức uẩn bị vô minh che áng, con người cho là nó tuyệt đối, thuần túy.

 

*Tính CỰC ĐOAN chính là KẾT QUẢ cụ thể của vô minh trong thức uẩn nầy.

 

*Chủ trương khổ hạnh, hay hưởng thụ, chủ trương thường kiến hay đoạn kiến..v.v…đều là pháp hành của CỰC ĐOAN.

 

***

Nguyên nhân ngôi nhà ngũ uẩn :

VÔ MINH (AVIJJĀ=IGNORANCE)

-Có được thân người không phải là kết quả của một sớm một chiều, do cha mẹ ngẫu nhiên gặp nhau, thương nhau, sinh ra.

-Có được thân người, tức là đã sống qua vô số chu kỳ, hay nhiều kiếp, không những đã từng làm người, mà có thể đã từng làm nhiều loại sinh linh khác.

-Nhưng vì VÔ MINH mà quên tất cả, khi tái sinh, chúng sinh trở thành ngây thơ, ấu trĩ, «khờ dại».

-Cái khôn (hay kinh nghiệm trong sự sống), thực ra mỗi chúng sanh, đều đã trải qua.

-Nhưng vì VÔ MINH mà quên hết, nên mỗi lần luân hồi, nhận thân mới, mỗi sinh linh phải «học» lại từ đầu, nhiều khi với giá rất đắc, trong cộng nghiệp.

-Cuối kiếp sống, tâm thức nào cũng biết là tuổi trẻ mình đã chứa đầy nông nỗi, bồng bột, ngu si, và chủ quan khờ dại.

-Ai gần xuống lỗ mà không nhận ra lý lẽ đó, là kẻ bị VÔ MINH CHE ÁNG quá dày, thật vô phúc, đáng tiếc !

 

-Sự «tiến hóa» của muôn loài vốn chỉ là kết quả của tình trạng tìm cách thích ứng với thực tại mà thôi. Nhưng người ta không tỉnh thức, để biết “khả năng nào” đã “tìm cách thích ứng” ?

-Và thực tại căn bản luôn luôn chứa «BỐN NHU CẦU», thuận tiện cho BỐN OAI NGHI, qua NĂM GIÁC QUAN.

 

-Bốn nhu cầu đó là :

1/Chỗ ở, 2/Y phục, 3/Vật dinh dưỡng), 4/Thuốc men trị bệnh.

 

-Và bốn oai nghi là :

1/Đi, tượng trưng cho di chuyển quan sát trong ngoại cảnh.

2/Đứng, tượng trưng cho quan sát ở vị thế cao nhất.

3/Ngồi, tượng trưng cho quan sát ở vị thế trung bình.

4/Nằm, tượng trưng cho quan sát ở vị thế thấp nhất.

 

-Năm giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân cung cấp 5 sự tiếp thu từ ngoại cảnh, mà tâm thức hướng đến, đòi hỏi.

 

VÔ MINH và NGŨ UẨN

-VÔ MINH là khoen đầu tiên của 12 nhân duyên luân hồi. (VÔ MINH hằng làm cho tâm thức phàm nhân thấy NGƯỢC : hại cho là lợi, khổ cho là vui, thương cho là ghét, tốt cho là xấu, khả kính cho là đáng khinh, gian hùng cho là ngay thật, gấp xa lánh coi là cần đến gần ..v.v…).

-VÔ MINH trong Ngũ Uẩn được tượng trưng bằng «TƯỞNG UẨN» (Saññā).

-VÔ MINH là nguyên nhân nguy hiểm nhất trong ba nguyên nhân THAM, SÂN, SI. Chẳng những trong tham chứa đầy vô minh hay SI, mà trong sân cũng chứa đầy vô minh hay SI.

-SI làm cho quên hết, không nhớ, không phân biệt, mất tất cả kinh nghiệm đúng về chịu đựng, nghĩa là vô trí tuệ, bất thiện.

– TRÍ TUỆ là nhớ đúng thực trạng và KINH NGHIỆM. Nhớ ngược lại là vô minh.

 

-Khi hết vô minh, bậc GIÁC NGỘ có TÚC MẠNG THÔNG biết rõ mọi kiếp trước, là một điều tự nhiên, chắc chắn.

-Nhưng người phàm đầy vô minh, mà muốn như vậy, là một điều không thể có, hoang đường !

 

-NGÔI NHÀ NGŨ UẨN phức tạp nầy, thực ra chúng sinh đã «ở» qua rồi. Nhưng vì vô minh (hay si mê) làm cho quên hết, chỉ nhớ ngược, nên khi đầu thai vô lại, chúng sinh ngơ ngác, lúng túng, lạc lối, chới với, ngập ngừng.

 

-Chúng ta đã quay lại chính «căn nhà cũ» nầy (NGŨ UẨN) trong cõi người, để tiếp tục «chịu đựng» (DUKKHA), mà chúng ta không biết !

 

-Nói cách khác, ấy là «ngôi nhà xây đắp bằng 5 uẩn», trong dục giới (Kàmaloka).

 

***

Bài kệ về :

«Ngôi nhà NGŨ UẨN».

Đã bao kiếp rồi,

Tôi lang thang….,

đi tìm ngôi nhà cũ !

Và thấy nó hoàn toàn mới.

Nó có bốn trụ bao quanh,

gọi là SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH,

Và một trụ ở giữa là THỨC !

Đối với tôi, nó là MỘNG lẫn THỰC

Vừa CÓ cũng vừa KHÔNG….

Vừa thường vừa bất lực….

thật là khó nhận diện.

Tôi ngơ ngác, ngập ngừng, bức rức,

vì bất cứ bộ phận nào của nó cũng «lạ».
Tôi phải học lại cách xử dụng từ đầu,

và chất hết chi tiết vào ký ức….

Một bậc Giác Ngộ nhìn tôi bảo :

«Anh đã ở trong đó rồi mà ?!….

-Ừ, thì ra…anh đã quên tất cả. !

Vì có một tấm màng đang che mắt anh,

Tấm màng nầy dày quá !… »

Ngừng một chút ….

rồi bậc Giác Ngộ nói tiếp :

«Nhưng chỉ có anh mới phá nó được !

Không ai có thể làm giùm !

 

Cái màng đó tên là vô minh.

Nó luôn luôn làm cho anh ô-trược.

Và vĩnh viễn sống trong cực hình,

chịu đựng muôn vạn luân hồi chấp trước !»

Tôi vội vàng qùy xuống….

để ôm chân bậc Giác Ngộ,

với lòng tham, khẩn cầu….

Xin Ngài “từ bi”cứu độ

Nhưng Ngài «đã» biến mất !

(Ý dựa theo một đoạn Phật ngôn)

Phụ lục 1                                                                                                                          Phụ lục 3