Khoa học và tái sinh Phụ lục 1

TỨ ĐẠI “Siêu Việt”.

 

(Do Cư sĩ Tuệ Lạc trình bày, trước đông đảo cử tọa, do nhóm “Nghiên cứu và thực hành lời Phật dạy” tổ chức, vào sáng 2 ngày 15 và 20/12/2009, tại quận 13, Paris)

 

Những điểm chính :

 

“TỨ ĐẠI” siêu việt ở đây không phải chỉ đóng khung trong «4 nguyên tố gốc» (4 dhàtu), (gồm đất, nước, lửa, và khí). Tiếng Pàlì của 4 tên ấy là pahavì, àpo, tejo, và vàyo). Đó là 4 vật chất hữu sắc, tinh vi và thô kệch, lẫn nặng và nhẹ, mà chúng ta có thể tiếp nhận được bằng giác quan, nhất là con mắt, qua thị trường bình thường, hay qua máy móc điện tử.

 

*Nhưng “Tứ Đại Siêu Việt” bàn đến hôm nay là 4 vũ trụ năng (vô định), chúng ta chỉ có thể hiểu biết bằng trí óc, nếu chúng ta có duyên lành. Vì bốn «vũ trụ năng» ấy, đối với giác quan, hay máy móc điện tử, thì chúng hoàn toàn «trống không».

 

*Trong tiếng Pàlì, có 2 danh từ tạm dịch ra Việt ngữ là «tứ đại». Đó là 2 chữ mahàdhàtu và mahàbhùta. Tiếp đầu ngữ «mahà» nằm trong cả 2 chữ, nghĩa là «lớn» (đại). «Lớn» đây không phải là lớn so với nhỏ, mà “lớn” là «nó có khắp cùng».

 

-«Dhàtu» có nhiều nghĩa, như «yếu tố, gốc, giới, di thể, xá-lợi..v..v…». –Nhưng ở đây nó gồm tất cả những gì là “nguyên ủy” có mặt khắp nơi, bên trong lẫn bên ngoài các bầu khí quyển…..

 

 

 

*Nhưng “Bhùta” thì khác. “Bhùta” ám chỉ “vô biên linh ứng, chi phối và bao trùm vũ trụ”. Bhùta cũng có nghĩa là “chân hữu” hay “chân năng”, luôn luôn “không mà có thật”. (Như ý nghĩa của 2 chữ «Bhùta Arahaṃ», tìm thấy trong kinh điển Pàlì, tạm “chuyên chở cái “ý”, là…Chân thánh A-La-Hán. Từ đó, «Bhùta» không nên hiểu là gì trong chế định cả. Nó là “Chân Không Diệu Hữu”.

 

*Vì tầm trí thức của chúng ta quá nhỏ, quá hạn định, so với vô biên vũ trụ, nên chúng ta khó có thể dùng con mắt thịt hay sự thông minh «thấy» được chân năng ấy. Vì vậy, chúng tôi đề nghị tạm dịch «mahàbhùta» là «vô biên đại vũ trụ năng».

 

*Và nội dung bài nầy xoay quanh chữ MAHÀBHÙTA , hay “vô biên đại vũ trụ năng” ấy.

 

*Trong pháp học, khi bắt buộc phải nói đến «tứ đại», để ám chỉ Catu mahàbhùta, chúng tôi đề nghị nên lược dịch, tạm nêu như sau :

1/Đệ nhất đại (Pathama mahàbhùta), chứ không dịch là thổ đại (mahàpathavì).

2/Đệ nhị đại (Dutiya mahàbhùta), chứ không dịch là thủy đại (mahàpo).

3/Đệ tam đại (Tatiya mahàbhùta), chứ không dịch là hỏa đại (mahàtejo), và

4/Đệ tứ đại (Catutthì mahàbhùta), chứ không dịch là khí đại (mahàvàyo).

 

*Vì sao ? –Vì khi chưa có pháp hành, thì «tứ vô biên đại vũ trụ năng» ở trạng thái «diệt trị». «Chúng» không là gì cả, không chế định được. Không là chân đế, không là tục đế. Không ai biết «chúng» ở đâu cả, trong hay ngoài tam giới (?).

 

 

Điều chắc chắn là «chúng» không biến mất ! Chúng cũng không phải do nguyên ủy nào hợp thành !

 

*Nhưng khi tứ vô biên đại vũ trụ năng (Catu mahàbhùta) ấy  “linh hợp”, tự vận hành …thì chúng tạo ra bốn đại nguyên tố. Tiếng Pàlì gọi bốn đại nguyên tố đó là Catu mahàdhàtu.

Nói về  CATU MAHÀDHÀTU

(Hay 4 nguyên tố lớn, cũng gọi là tứ đại nguyên tố)

*Và khi đệ nhất đại, đệ nhị đại, đệ tam đại, và đệ tứ đại (nói trên) “linh hợp”, vận hành…thì làm hiện ra bốn đại nguyên tố, hay bốn «gốc» (dhàtu), được chế định và được tạm gọi tên như sau :

1/Paṭhavì mahàdhàtu : Thổ đại (hay đất, chất đặc),

2/Àpo mahàdhàtu : Thủy đại (hay nước, chất lỏng) ,

3/Tejo mahàdhàtu : Hỏa đại (hay lửa, vật cháy, nguội nóng),

4/Vàyo mahàdhàtu : Khí đại (hay gió, phong, vật thổi, vật nhún, vật ép, vật đàn hồi).

 

*Bốn nguyên tố (dhàtu) nầy, lúc ở dạng tinh vi hay thô kệch, nặng hay nhẹ, thì chúng ta có thể tiếp nhận được bằng giác quan, hay bằng máy móc, và phân biệt qua tâm thức.

 

*Lưu ý : Trong Phật học, «thổ đại» (paṭhavì) bao gồm tất cả những gì là vật chất có hình thể, như kim loại, khoáng chất, thực vật và động vật..v..v….

 

*Khi phân biệt qua giác quan, chúng ta thấy dường như đất, nước, lửa, và khí, trong «catu mahàdhàtu» (bốn đại nguyên tố) có vẻ «độc lập» riêng rẽ. Nhưng khi khảo sát vào cực vi, «bốn nguyên tố gốc» ấy, chúng ta lại thấy chúng luôn luôn hòa vào nhau, có mặt trong mọi nơi.

 

-Ví dụ trong «thổ» (chất đặc) luôn luôn có thủy, hỏa, khí, và ngược lại. Chỉ có tỷ lệ của chúng trong mỗi vật chất thì bất

đồng, tùy thuộc và tình trạng cấu kết, chênh lệch từ cực nhỏ đến cực lớn.

 

Nói về CATU MAHÀBHÙTA

(Tứ đại vô biên vũ trụ năng).

*Nhưng Tứ vô biên đại vũ trụ năng khi ở trạng thái riêng rẽ, thì diệt trị, “chân không”, chúng ta chẳng có gì để nói, và vấn đề nằm hẳn ngoài sức hiểu biết của con người.

 

*Khi nhìn sâu vào sự sống, chúng ta thấy sự sống “có thể” chính là «tứ đại vô biên vũ trụ năng đang ở pháp hành biến hợp». Nhờ đó chúng ta có thể “định tâm” nghiên cứu «Catu mahàbhùta», xuyên qua sự cấu kết của «catu màhàdhàtu» (Bốn đại nguyên tố).

 

*Nghĩa là chúng ta phải nghiên cứu cái phối hợp, hữu hạn (catu mahàdhàtu) mới có thể tạm hiểu cái không biến hành vô

hạn của (catu mahàbhùta). Và dĩ nhiên không nên nhầm lẫn hữu hạn v à vô hạn.

 

Nói về TƯỚNGTÁNH

(Lakkhana,  Niccaparivattì)

 

*Tướng là cái do duyên hợp mà thành, nên tự nhiên phải thay đổi. Nó thay đổi chậm hay nhanh, nhưng luôn luôn nằm trong tiến trình thay đổi, một cách vô điều kiện.

 

*Tánh là cái làm cho tướng thích ứng với hợp tan, và chỉ thay đổi qua pháp hành của tướng. Nghĩa là tánh tùy tướngtự thay đổi, khi nào cả hai thuộc về dhàtu (nguyên tố).

 

*Như vậy, chỉ có tướngtánh của «dhàtu» mới hổ tương thay đổi mà thôi. Vì tướng và tánh của «dhàtu» là tướng và tánh của pháp hợp tan.

 

*Riêng “tướng” và «tánh» của «bhùta» thì không thể luận bàn, vì khi «bhùta» chưa tự biến ra dhàtu thì không có tướng lẫn tánh (=Diệt trị). Do đó xuyên qua «dhàtu», chúng ta chỉ nghiên cứu được “tánh” của Bhùta mà thôi, còn tướng của Bhùta thì không có !

 

«TÁNH» CỦA BHÙTA

(Bhùta niccaparivattì)

*Như trên đã nói, khi «diệt trị» thì «bhùta» cũng không có cả tánh nữa, và lẽ dĩ nhiên không có gì để nói. Bốn vô biên đại vũ trụ năng ấy bất khả thuyết, bất khả tư nghì !

 

*Nhưng nếu chúng ta muốn tìm hiểu «tánh» của bhùta (hay tánh của vô biên đại vũ trụ năng), chúng ta phải dựa vào bình diện «vô diệt trị», tức là trong trường hợp bốn «vô biên đại vũ trụ năng» ấy đã “hiện thân” l à “Dhàtu”.

 

*Nghĩa là nhờ các biểu hiện biến hợp, của «bhùta trở thành dhàtu» (=nguyên tố), chúng ta mới có thể tìm hiểu phần nào «tánh không của bhùta».

 

*Khi xét qua dạng của dhàtu, thì tánh của «bhùta» chỉ có MỘT, gọi là “một không”, nhưng “MỘT KHÔNG” ấy có 2 mặt đối nghịch và hổ tương nhau, là “một động”(+1) và “một tĩnh”(-1), như trong toán học vậy. Cổ học Đông phương cũng có thái cực là MỘT, gồm 2 mặt là “một âm” và “một dương” tương tự .

 

*Vậy «tánh» của 4 vô biên đại vũ trụ năng ấy, theo ngôn ngữ  chế định là gì ?  -Là 4 cặp song đối :

 

1/Đệ nhất đại biến ra thổ (Paṭhavì), tạm dịch là đất, có cặp tánh cứngmềm (cương nhu) : 2 trạng thái.

2/Đệ nhị đại biến ra thủy (Àpo), tạm dịch là nước, có cặp tánh kết phân (hợp tan, đoạn kết) : 2 trạng thái.

3/Đệ tam đại biến ra hỏa (Tejo), tạm dịch là lửa, có cặp tánh nónglạnh  (co giãn, teo nở) : 2 trạng thái.

 

 

4/Đệ tứ đại biến ra khí hay phong (Vàyo), tạm dịch là gió, có cặp tánh động tĩnh (an loạn) : 2 trạng thái.

 

*Như thế, dựa theo «dhàtu» (nguyên tố), chúng ta có thể nói :

-Trong ngọn lửa cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng”.

-Trong không khí cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng”.

-Trong vật lỏng cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng”.

-Trong vật đặc cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng”,

-Trong «không gì cả » cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng”.

 

*Bốn «cặp tánh» của «tứ đại» (catu mahàdhàtu), sinh ra từ vô biên vũ trụ năng nói trên, có thể xem như những «nguyên hành» của vạn pháp, của mọi «duyên hệ».

 

*Nhắc đến duyên hệ tưởng cũng nên nhắc lại mối liên lạc, giữa nhân quảduyên hệ. Nếu nhân là «hạt» của quả, thì duyên hệ là những điều kiện ắt có và đủ, để giúp nhân (hay hạt) nẩy nở, sinh ra quả.

 

*Chỉ có Catu mahàbhùta hiện ra Catu mahàdhàtu (hay tứ đại vô biên vũ trụ năng hiện ra tứ đại nguyên tố) mới là “nguyên nhân sinh động” của 5 trần, 5 căn, và 6 thức.

 

*Nói cách khác, nó cùng một lúc, ở phương diện nầy gọi là XỨ (Àyatana), và ở phương diện kia gọi là GIỚI (dhàtu). Nói theo Vi Diệu Pháp trong nhà Phật !

 

 

THẮC MẮC MUÔN ĐỜI

*Câu hỏi vẫn không ngừng đặt ra là :

-«Phải chăng “tâm thức” (hay tinh thần) chỉ là kết quả của 5 trần tiếp xúc với 5 căn (còn hoạt động tốt) mà sinh ra ? Hay hỏi ngược lại :

 

-«Nếu 5 trần không phối hợp với 5 căn (tức năm giác quan tốt), thì phải chăng không có “tâm thức” (hay tinh thần) ?

 

– Người duy vật tin chắc vào luật ngẫu nhiên, của 5 trần hợp với 5 căn, hiệu quả thành ra 5 thức. Khi 5 căn diệt thì “5 thức” đang có cũng vĩnh viễn diệt theo. Và “thức tái sinh” chỉ là một chuyện bịa đặt. (!) Từ đó, người duy vật đương nhiên phủ nhận luật nhân quả luân hồi báo ứng !

 

*Thử thảo luận một cách cởi mở về vấn đề nầy, theo tinh thần trung đạo, chỉ cần tôn trọng sự soi sáng, chứ không cần tìm kiếm một đồng thuận, cũng không cần thống nhất quan điểm.

 

Trước tiên, xin nhắc lại một sự thật. Đó là “hiệu năng di tồn nhiên lực”(Conservation latente de l’énergie). Theo khoa học, “hiệu năng di tồn nhiên lực” có “mặt trái” là luật vô thường, hay tính biến đổi không ngừng, trong mọi vật chất. Và tổng hợp 5trần+5căn = 5thức, biến đổi luôn luôn, là một điều tự nhiên. Vì chúng là vật chất hằng biến, nên phải thay đổi liên tục, để tương ứng với sự ngẫu nhiên, luôn luôn sinh ra 5thức.

 

Nhưng có một điều lạ, là hiệu lực sống, xuyên qua năm trần cộng với năm căn hằng biến đổi, lại sinh ra sáu thức, chứ  không phải năm thức. Khoa phân tâm học của phái duy vật liền gọi ấy là «thức thứ sáu».

 

Và trên thực tế, những «tiết lộ» của «thức thứ sáu» lại phản khoa học, hay nằm ngoài «lô-gíc» (hợp lý). Như trong lĩnh vực lượng tử (quantique), ngày nay người ta đã tìm ra một «hiện tượng», gọi là phản vật chất (antimatière), và hiện tượng nầy không tuân theo luật hợp lý tí nào ! -Dường như gián tiếp khuyến khích chúng ta, hướng đến Phật giáo, vì  duy thức học trong đạo Phật, đã nêu ra cả đến thức thứ bảy (Màna) và thức thứ tám hay «tàng thức» (Àlaya). -Chứ không phải dừng ở thức thứ sáu !

 

Thành thử, kết luận «phối hợp vật chất do ngẫu nhiên, sinh ra tâm thức», đã không đứng vững. Đó chỉ là thực nghiệm vật chất (hữu hạn) «lý đoán» về con người mà thôi. Nó không đóng vai trò toàn tri trong tiến bộ hưởng thụ. Nó chỉ là một phần hoa trái của tinh thần sáng tạo. Theo Phật giáo, sự «sáng tạo» ấy đến từ thức ham sống tương đương với thức tạo ngã trong vòng luân hồi. Thức tạo ngã (hay thức ham sống) nầy cũng là «động cơ», chiêu cảm ra khung cảnh để sống, gồm không gian thời gian.

 

KHÔNG GIAN hay KHOẢNG CÁCH

1/Vật ở hơi xa giác quan, và không bị ngăn cách, mà giác quan vẫn tiếp nhận được, là THINH TRẦN.

2/Vật trong tầm của giác quan, và không bị ngăn cách, thì giác quan mới tiếp nhận được, là SẮC TRẦN.

3/Vật phải hướng về phía giác quan, và không bị ngăn cách, thì giác quan mới tiếp nhận được, là HƯƠNG TRẦN.

4/Vật phải tiếp xúc với giác quan, thì giác quan mới bắt được, là VỊ TRẦN và XÚC TRẦN. Và :

 

-Biểu tượng của không gianxa gần.

-Biểu tượng của thời giandài ngắn (hay sự “trải qua”).

Đối với pháp hành (chiêu cảm), “xa gần” cũng là “dài ngắn”. Thành ra có công thức :

Xa gần = dài ngắn = lâu mau = nhanh chậm.

Từ đó suy ra, “khoảng cách của không gian” cũng chính là “khoảng cách của thời gian”.

 

*Hay KHÔNG GIAN cũng là THỜI GIAN.

 

*Cả hai không gian và thời gian đều đến từ “chiêu cảm”, tức pháp hành trong thức ham sống (hay thức tạo ngã), mà thức ham sống (hay thức tạo ngã) là “tánh động” của VÔ BIÊN TỨ ĐẠI VŨ TRỤ NĂNG.

 

*Những ưu thế xa hay gần (không gian), nhanh hay chậm (thời gian) cũng từ chiêu cảm ấy mà ra.

 

Về  CON NGƯỜI

 

*Con người là một «ưu động vật», trên tất cả sinh vật. Con người đóng vai trung gian giữa toàn thể vật và sinh vật.

*Con người có 2 phần là phần biến và phần phi biến (°).

*Phần biến thì sinh diệt, vô thường, thay đổi, vướng mắc, chấp tướng, là phần danh sắc (hay tâm vật) rất phàm tục, đương nhiên phải luân hồi.

 

*Còn Phần phi biến (hay xả, không vướng mắc, vô chấp tướng, là phần thanh khiết, thánh thiện, vượt luân hồi.

 

Chú thích :

(°) Phi biến có nghĩa là vượt lên trên mọi biến hóa, không chấp trước, không tù hãm, không vướng mắc. -Hay “phi biến” không phải là “bất biến”, đối trị tương đối với “phần biến”.

 

*Như vậy, sự sống chỉ là phần «diễn tiến linh động» của phần biến, của «tứ đại vũ trụ năng biến thành bốn nguyên tố». Diễn biến đó có thể ở dạng thô kệch (hữu hình), và cũng có thể ở dạng tinh vi (vô hình).

 

*Nhưng dù thô kệch hay vi tế, cả hai cũng chỉ là những «Dhàtu». Còn Bhùta của “con người” nói riêng, và của chúng sanh nói chung, thì “linh diệu” trống không, chẳng sinh diệt, «bất khả thuyết, bất khả tư nghì», chỉ có bậc giác ngộ mới rõ. Kinh Phật đã nói như vậy !

 

*Con người có thân thể là biểu tượng của thổ thủy, hay phần thô tướng của tứ đại nguyên tố (dhàtu).

 

*Con người có nhiệt (hỏa) và hơi thở (khí) là phần vi tướng của tứ đại nguyên tố (dhàtu).

 

*Con người có sự dẻo dai, mềm mại, là cơ năng sinh động của tứ đại nguyên tố (Dhàtu).

 

*Con người có sự trầm mặc là «tánh» hướng tĩnh của tứ đại vũ trụ năng (bhùta).

 

*Khi kiếp phàm chấm dứt, thì tứ đại nguyên tố (dhàtu) trở về nguyên tố, tùy theo nghiệp quả.

 

*Khi báo thân của thánh nhân chấm dứt, thì tứ đại nguyên tố (dhàtu) trở về tứ đại vô biên vũ trụ năng (bhùta).

 

*Trong bốn đại nguyên tố (catu mahàdhàtu), có «nguyên tố khí» hay hơi thở là đề mục thích hợp nhất, để hành giả tu thiền đạt đến «tịnh xả», quay về với vô biên tứ đại vũ trụ năng. Và chữ “Yathà bhùtaám chỉ “cứu cánh giải thoát” cũng không ngoài ý nghĩa nầy.

 

*Vì chư Phật đã hội nhập vào tứ đại vô biên vũ trụ năng (Niết Bàn), nên các Ngài mới có thể biết cái gì là phi linh hồn hay «vô ngã». Phàm nhân qua thiên kiến, vướng mắc trong tam giới “hữu vô”, không bao giờ lý giải được.

 

***

NGÃ và VÔ NGÃ

Theo khuynh hướng phàm tình

 

*Trước tiên cần nói rõ, «Ngã» trong tổng quát, thường ám chỉ cái «ta». Nhưng «nó» cũng ám chỉ «thần ngã», hay «linh hồn» của một người còn sống hay sau khi chết. Nghĩa là «ngã» là «phẩm vị» của một con người, gồm tinh thần và thể xác, được mệnh danh là «tôi». Từ đó sinh ra cái «ngã chung», là chúng tôi, hay chúng ta, ngã sở là thân ta, rồi giòng họ ta, nòi giống ta, đồng bào ta, nhân loại ta..v..v…

 

*Hãy bắt đầu một đơn vị thôi, bằng cái “ngã vô tư” của đứa trẻ sơ sinh mới ra đời, và được đặt tên “A” (ngã danh). Sau đó nó được tiếp tục điều kiện hóa bỡi đời sống vật chất (ngã sắc), trong đó lòng (hay thức) tham sống là chủ lực. Rồi sau cùng kết luận sự sống là «ngã» !

 

*Nhắc lại Bồ-tát Sĩ-Đạt-Ta, tức đạo sĩ Cồ Đàm (Gotama) đã không nói vô ngã, mà Ngài đã thực hành hạnh «vô ngã», trọn 6 năm trường, không coi xác thân (nhân vị) ra cái gì cả. Cuối củng nhận thức rằng : Chỉ xuyên qua sự sống lành mạnh, mới có thể viên tròn Ba-La-Mật. Ngài đã quay về trung đạo. Trung đạo là không ép xác bỏ ngã, cũng không lợi dưỡng vì ngã.

 

*Nếu ghi nhận cái tiến trình 1 đứa bé chào đời, mang ngã danh, dính vào ăn uống dinh dưỡng, vướng ngã sắc. Và ngã danh ấy dần dần chất chồng lên. Từ thằng bé A đến cậu tú A, rồi ông kỹ sư A, thăng làm tổng giám đốc A, sau cùng là ngài bộ trưởng A, ngài thủ tướng A..v.v… Ở giai đoạn nào, con người ấy tự nhiên cảm thấy mình có cái ngả danh theo hoàn cảnh hiện tại, không quan tâm đó là “địa vị” thật hay giả.

 

*Và ngã sắc (hay thân xác) cũng thế, từ trẻ con cho đến lúc trưởng thành, rồi già nua, bệnh hoạn, và chết. Khối thịt xương chuyển động cho là «ngã» kia, thay đổi không ngừng, dẫn đến sự hư hoại tự động, bất lực, tan rã, biến mất. Tất cả những điều ấy, dù  thất học cũng biết, làm sao có thể cho là ngã thật, hay của ta thật được, nên nhà Phật gọi ấy là vô ngã tướng. Kinh Phật nói  “Các pháp tướng do duyên hợp mà thành, vô thường, hiện diện có điều kiện, đều không có tự ngã.

 

*Vô thường, khổ não, vô ngã…minh thị trong các pháp tướng hợp tan, tạm thời, luân hồi là một chân lý, dĩ nhiên là một sự thật. Khó ai có thể phủ nhận, chỉ cần có trí tuệ bình thường.

 

*Nhưng chúng ta không nên vì sự thật “vô ngã” ấy, mà phủ nhận luật nhân quả, xác định không có chúng sinh luân hồi, bằng tâm thức tham sống từ kiếp trước, chuyên chở hiện nghiệpquá nghiệp. Vì phủ nhận như thế là đoạn kiến !

 

*Mặt khác, sức mạnh của lòng tham trong sự sống cũng là con dao hai lưỡi. Nó chính là động cơ của tiến hóa lẫn thoái hóa. Nếu tham tiền, làm cho người ta cướp của, thì lòng tham

 

danh thơm lại làm cho người ta bố thí. Bố thí thật nhiều để được khen tặng vẫn có phưóc và được quả hữu lậu !

 

* «Trí tuệ» theo ngôn ngữ bình dân, thường có nghĩa là trí khôn (hay sự thông minh). Nó thực ra không phải là Trí Tuệ Bát Nhã (Paññà), hay trí tuệ giải thoát trong nhà Phật. «Trí tuệ» (hay sự thông minh) ấy vốn là sản phẩm của lòng tham. Nó chỉ có khả năng «biểu diễn» sự «khiêm nhượng», nói «thuyết vô ngã» để cho người khác khen tặng, kính phục, chiếm cảm tình, chứ nó chẳng có hiệu lực gì trong việc thay đổi «bản tánh» tham lam của người nói cả !

 

*«Trí tuệ» trong ngôn ngữ bình dân, hay sự thông minh, trong chừng mực «xã hội» nào đó, chỉ có thể tạm làm giảm sự ngu dốt, thất học, chứ chắc chắn nó không trừ được lòng tham.

 

* hoàn toàn không chuyên chở đúng ý nghĩa của chữ Paññà (hay Prajña) trong kinh Phật. Đừng hiểu lầm rằng người có nhiều bằng cấp cao, và «thông hiểu» kinh sách nhà Phật, là kẻ có «trí tuệ bác nhã».

 

*Ngược lại, lòng tham có thể đánh bại cái «trí tuệ phàm tục» kia rất dễ dàng. Người ta đã chẳng nói «tiền tài ám nhãn hay làm cho mờ tối trí óc» đó sao ?

 

*Muốn hóa giải lòng tham, trước tiên phải bố thí, trì giới, và tham thiền, rồi tu tập chánh niệm thuần thục, tịnh xả theo pháp Phật, không vướng mắc, không chấp thủ. Sau đó hành giả mới có Trí Tuệ Bác Nhã, đủ khả năng vô hiệu hóa lòng tham, nhờ có tâm thức quang minh (Vijjà citta), sáng suốt chứng vô lượng tâm XẢ, nhập vào thánh lưu, thấy được giải thoát (nibbindati), bằng thánh tuệ, không vướng vào bất cứ pháp gì trong luân hồi tam giới nữa.

 

*Khi đức hạnh toàn xả, hay xã ba-la-mật được viên tròn, thì hết sinh tử luân hồi, và chứng «niết bàn» là hội nhập vào Tứ

 

Vô Biên Đại Vũ Trụ Năng (Catumahàbhùta). -Trở thành vô ngã !

 

*Muốn bước vào con đường hội nhập ấy, hãy bắt đầu bằng giới định tuệ, mà đề mục đưa đến chánh định, là đề mục HƠI THỞ, để tiếp cận và hướng về khí đại vô biên vũ trụ năng.

***

 Ý tưởng SI ÊU THOÁT và ĐẠI NHẬP :

-Khi thấy một giọt nước loãng vào biển cả quá dễ dàng, người ta có thể tự nhủ rằng : «Nó là nước, nó từ trong nước, nó sống như nước, nó biến thành nước, nó luôn luôn không bị ngăn ngại… », thì hành giả nhà phật cũng nghĩ ra được rằng : «Ta là tứ đại, ta từ trong tứ đại, ta sống như tứ đại,  và ta biến vào tứ đại (siêu việt) dễ dàng…..».

 

Hay :

Không gian là vật chất, giải thoát được vật chất là ở ngoài không gian. Thời gian là tinh thần, giải thoát được tinh thần là ở ngoài thời gian ! Hết bị không gian và thời gian ràng buộc là siêu độ, hết sinh tử !

 

THỰC NGHIỆM và KINH NGHIỆM

 

*Khi một hiện tượng (hay một kết luận) cùng được nhìn thấy, cùng được phân tích, cùng được quy nạp rồi ghi nhận, và cùng được chấp thuận, bỡi nhiều người (hay công chúng), một cách «cụ thể» trong Phật giáo gọi là pháp cộng nghiệp.

 

-Chứng minh hay thực nghiệm khoa học, nằm trong lĩnh vực nầy, có thể gọi ấy là thực nghiệm duy vật. Đó chỉ là mặt nổi. Ưu điểm của nó là thực tế rõ ràng. Khuyết điểm của nó là bị đóng khung trong lĩnh vực vật chất «hữu hình».

 

*Nhưng khi 1 hiện tượng (hay 1 kết luận) chỉ được «nhìn thấy», hay được cảm giác sâu sắc, bỡi một ít người, xác nhận bỡi một ít người, thì PG. gọi là pháp biệt nghiệp. Kết quả tu thiền của mỗi hành giả thuộc về lĩnh vực nầy. Ấy là lĩnh vực kinh nghịệm duy tâm. Ưu điểm của nó là thanh tịnh hướng thiện. Khuyết điểm của nó là có thể dẫn đến tà kiến, mê tín.

 

*Từ đó suy ra, thực nghiệm duy vật thì có thể chia xẻ đến một hay nhiều người khác. Hậu quả ít nguy hiểm, nhờ nó cụ thể. Nhưng kinh nghiệm tâm linh thì chẳng chia xẻ cho ai được. Người nào chứng, người ấy biết. Thành quả tâm linh mà chia xẻ, nói ra cho người khác nghe, là kích thích lòng tham, chỉ khiến họ bắt chước, tưởng tượng, rồi tự kỷ ám thị, lầm lạc.

 

*Vì vậy, ai còn phàm, chưa đạt chánh định, chưa tịnh xả, mà «tập» cảm giác hay suy nghĩ như thánh nhân, là chuốc lấy hậu quả tai hại, sống trong ảo tưởng, gia tăng vô minh.

Khoa học và tái sinh Phần kết                          Khoa học và tái sinh Phụ lục 2